đặt vấn đề về quan hệ giữa VC mà có đối tượng là TS không giống như trong một hệ thống luật được xây dựng dựa trên QSH cá nhân. Ngày xưa, toàn bộ TS trong gia đình là của gia đình và chính gia đình, chứ không phải cá nhân, là chủ thể của quan hệ pháp luật”6. Ngoài ra, thời kỳ này theo nhiều học giả, có sự tác động của luật tục, cụ thể là các luật ban hành từ trước đó cũng được lưu 5 PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện, TS. Đoàn Thị Phương Diệp, Pháp luật về QHTS giữa VC, NXB Đại học Quốc gia, 2018, trang 11.TS Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật HN&GĐ - Phần 2, Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ, 2005.
13 truyền cũng thiên hướng bình đẳng giữa VC, nhưng do sự ảnh hưởng của XH phong kiến nên ghi nhận thực tiễn việc người vợ phó thác cho người chồng thực hiện các trọng trách trong QHTS. Tại các quy định Điều 374, 375 Bộ luật Hồng Đức thì việc xác định di sản của người chồng/người vợ và quyền của người vợ/người vợ đối với khối di sản được hưởng hoặc trường hợp không được hưởng như chết hoặc đi lấy chồng/vợ khác thì phần di sản sẽ để lại cho các thành viên khác trong gia đình để lo việc thờ cúng (tế tự). Điều 375 “…vợ chết trước thì chồng cũng như thế, dù lấy vợ khác thì cũng không câu nệ việc điền sản kia”. Như vậy, trong XH phong kiến rõ ràng quyền quản lý TS gần như không được đặt ra vì có sự thừa nhận người chồng là chủ gia đình.
Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng tuy trong XH phong kiến nhưng Bộ luật Hồng Đức ghi nhận quyền có TSR của người vợ trong TKHN, TSR của vợ sẽ quay trở về cho gia đình của người vợ. Ngay khi trường hợp VC không có con hoặc trường hợp người con chết, nếu một bên vợ/chồng chết trước thì TS sẽ thuộc về bên còn lại (được ghi nhận tị Điều 376 Bộ luật Hồng Đức)… Đây có thể nói là một Bộ luật có quy mô đồ sộ và đầy đủ các lĩnh vực, phương diện nhất trong thời kỳ phong kiến, vấn đề QHTS của VC được nhà làm luật Việt Nam rất quan tâm, tuy chưa được quy định thành một chế định riêng nhưng đã có sự nỗ lực ghi nhận trong tổng thể pháp luật điều chỉnh về HN&GĐ trong mối tương quan của nhà nước và XH, có những nội dung vô cùng gần gũi với đời sống thực tiễn và có những điểm tương đồng với pháp luật đương đại của Việt Nam. Bộ luật Gia Long, tên gọi chính thức là “Hoàng Việt luật lệ”, ngoài ra, còn được gọi với tên khác như “Hoàng triều luật lệ”, “Quốc triều điều luật”. Bộ Gia Long do Tổng tài Nguyễn Văn Thành chủ trì việc biên soạn từ năm 1811 theo chỉ dụ của vua Gia Long và được ban hành năm 1815.
Sự khác biệt rất lớn so với Bộ luật Hồng Đức, từ những quy định của Bộ luật Gia Long nhận thấy rằng nhà làm luật không chấp nhận tồn tại khối cộng đồng TSC VC, toàn bộ TS của gia đình tồn tại thành một khối duy nhất (không có sự phân chia TSC, TSR) và người chồng có toàn quyền với khối TS này, vợ và các con không có quyền hạn gì đối với TS được thể hiện rất rõ trên tinh thần các quy định tại Điều 82, 83 Bộ luật Gia Long. Nghĩa là, khi đã KH, 14 toàn bộ TS hình thành từ các nguồn khác nhau sẽ được quản lý và điều hành bởi vai trò duy nhất của người chồng, là chủ gia đình. Người vợ chỉ có một quyền (hay NV) duy nhất là thể hiện sự đồng ý theo ý chí của người chồng ngay cả việc lập chúc để phân chia TS. Người vợ chỉ được ghi nhận TS là một sự chia hồi môn từ việc tặng cho của gia đình mình nhưng phải được đăng ký dưới tên gọi thời con gái của người phụ nữ này… Như vậy, tuy có sự khác biệt nhau của hai Bộ luật thuộc hai triều đại khác nhau, vấn đề về TSC VC được các nhà làm luật quan tâm, ghi nhận và có sự điều chỉnh bằng QĐPL của mỗi thời kỳ, tuy nhiên vẫn chưa có sự rõ ràng mà mang thiên hướng nghiên về gia đình, gắn liền với sự tồn tại của quan hệ hôn nhân (QHHN) mà quyền của người đàn ông là người chồng mang tính quyết định nhưng cũng không thể phủ nhận sự ảnh hưởng gián tiếp của người phụ nữ là người vợ tác động trực tiếp lên khối TS được hình thành trong một mối quan hệ HN&GĐ.
Giai đoạn cận đại thì PLVN đã có bước phát triển và phong phú hơn trong các chế định liên quan đến mối quan hê TSC VC. Cụ thể như: Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật (DLT) năm 1936, Dân luật Bắc (DLB) năm 1931, Dân luật Giản yếu (DLGY) năm 1884. DLT gồm 5 quyển với các chế định khác nhau về dân luật. Quyển 1 bộ này quy định về quan hệ HN&GĐ và QHTS giữa VC.
Theo đó, QHTS giữa VC, được quy định từ Điều 102 đến Điều 114 DLT. Cụ thể là “Luật chỉ điều chỉnh quan hệ giữa VC liên quan đến TS trong trường hợp không có thừa thuận đặc biệt giữa VC miễn là các TT này không trái với những phong tục tập quán tốt đẹp cũng như không vi phạm các QĐPL về việc công nhận vị trí chủ gia đình của người chồng" (Điều 102 DLT). Như vậy, DLT bằng việc gián tiếp cho phép VC có thể lập khế ước riêng để xác định các quy tắc điều chỉnh QHTS giữa họ và được ghi nhận tại Điều 103 DLT “Khế ước hôn nhân phải được lập trước khi KH có xác nhận của Lý trưởng hoặc bằng văn tự có công chúng. Khế ước hôn nhân không thể bị thay đổi sau khi hôn nhân đã được xác lập”.
Đây là một quy định mới, lần đầu tiên công nhận có sự 15 tồn tại của khế ước hôn nhân trong PLVN. Tuy nhiên, quy định này có sự hạn chế vì không còn quy định nào đề cập tới mà chỉ dành để quy định về chế độ tài sản (CĐTS) pháp định, dưới thời kỳ này thì người đàn ông là người chồng vẫn được ghi nhận và xác định là chủ của gia đình nên có thiên hướng người vợ vẫn phải phụ thuộc vào quyết định của người chồng mặc dù đã ghi nhận khá chi tiết được thừa nhận đây là khối TSC VC. Việc quy định về chế độ phân chia TS khi LH được đặt ra và cũng có sự ưu tiên cho người vợ dù rằng rõ ràng DLT có nhiều quy định đậm màu sắc của thời phong kiến “trọng nam khinh nữ”. DLB có 1455 điều, được thiết kế gồm một thiên sơ bộ và bốn quyển với nội dung cơ bản như sau: Thiên sơ bộ nói về các nguyên tắc cơ bản của dân luật như nguyên tắc công bố luật, nguyên tắc bất hồi tố, nguyên tắc bình đẳng, tự do cá nhân và tôn trọng quyền tư hữu, nguyên tắc thừa nhận ưu thế của pháp luật so với các thoả thuận hay cam kết của tư nhân với nhau, cũng như ưu thế của pháp luật đối với các thẩm phán trong quá trình xét xử.
quyển 1 quy định về quốc tịch, hộ tịch, HN&GĐ và thừa kế, quyển 2 quy định các vấn đề về TS như phân loại TS (động sản và bất động sản), QSH, hình thức sở hữu, quyền của chủ sở hữu (CSH), dịch chuyển QSH.; quyển 3 nói về NV và khế ước; quyển 4 quy định về cách thức viện dẫn các chứng cứ trong các vụ kiện dân sự. CĐTS VC được nhà làm luật rất quan tâm, ghi nhận nhiều quy định trong DLB, có khá nhiều quy định tương đồng với DLT điển hình là khế ước hôn nhân để xác lập các quy tắc điều chỉnh QHTS cho riêng họ, tuy nhiên có ghi nhận về hiệu lực đối kháng với bên thứ ba “Để khế ước hôn nhân phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì khế ước phải được đề cập trong giấy ĐKKH và phải được cấp cho các bên có quan tâm theo yêu cầu” (Điều 106 Dụ số 2). Trường hợp không có khế ước hôn nhân, CĐTS luật định trong DLB được ghi nhận là chế độ cộng đồng TS, nghĩa là hợp thành một khối TSC không thể phân chia cho đến khi chấm dứt cuộc hôn nhân. Quá trình phân định và chia TSC khi LH cũng được xác định theo nguyên tắc phân chia theo từng trường hợp cụ thể cũng khá giống như nguyên tắc phân chia TSC khi LH theo pháp luật HN&GĐ hiện hành.
16 DLGY bao gồm các thiên như sau: Thiên IV nói về sự thất tung (mất tích); Thiên V nói về giá thú; Thiên VI quy định về việc li hôn; Thiên VII quy định về chế độ phụ hệ và con chính thức; Thiên VIII quy định về vấn đề con nuôi; Thiên IX quy định về vấn đề thân quyền; Thiên X quy định về vấn đề vị thành niên, giám hộ, thoát quyền; Thiên XI quy định về vấn đề thành niên. So với DLT và DLB thì DLGY áp dụng tại xứ Nam Kỳ chỉ quy định những vấn đề về nhân pháp (tức nói về người), chứ không quy định các vấn đề khác vốn được xem là một trong những nội dung cốt yếu của dân luật như vấn đề TS; vấn đề NV dân sự và khế ước. Thậm chí, ngay cả CĐTS VC hay vấn đề thừa kế, vốn rất gần gũi với các quy định về “người” cũng không được quy định ở Bộ luật này. PLVN giai đoạn hiện đại bắt đầu từ thời điểm chấm dứt hiệu lực các bộ DLB, DLT, DLGY mà thời điểm có thể xác định là khoảng cuối năm 1958, bởi sau Cách mạng tháng 8, mặc dù đã khai sinh ra Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhưng vẫn còn áp dụng các quy định của chính quyền cũ để lại mà chưa kịp để xây dựng hệ thống pháp luật mới phù hợp với XH mới được hình thành.
Quá trình hình thành, phát triển pháp luật và hoàn thiện về CĐTS VC giai đoạn hiện đại ở hai miền Nam- Bắc và thống nhất thành một đạo luật chung cụ thể như: Luật HN&GĐ số 1/59 (ở Miền Nam) bị thay thế bởi Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 và tiếp tục bị thay thế bởi Bộ Dân luật 1972, trong QHTS của VC thì CĐTS TT được ghi nhận khá chi tiết, như quy định tại Điều 145 DL1972 “VC có thể tự do lập hôn ước tùy ý muốn, nếu không trái với trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục” và “Hôn ước phải làm trước khi KH, trước một chưởng khế. Vợ hay chồng còn vị thành niên muốn lập hôn ước phải có sự hỗ trợ của những người có tư cách để ưng thuận cho KH.