CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG GIAI ĐOẠN 1975-1986 VÀ NHỮNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU TÁI PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG TRÌNH NÀY TẠI HÀ NỘI 1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan Trong nghiên cứu này với các mục đích, mục tiêu cũng như kết quả mong muốn đạt được như đã nêu ở trên, để kiện toàn những cơ sở khoa học, những khung lý thuyết của việc nghiên cứu, chúng tôi đề xuất tìm hiểu một số thuật ngữ và khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau : Công trình công cộng theo định nghĩa của PGS.KTS Nguyễn Đức Thiềm là loại nhà dân dụng, thiết kế xây dựng nhằm phục vụ các hoạt động chuyên môn nghề nghiệp, hay để thoả mãn các nhu cầu sinh hoạt văn hoá, tinh thần cũng như vui chơi, giải trí của con người. Đó là các loại nhà trẻ, trường học, cửa hàng, trung tâm công cộng, bên cạnh các công trình còn có một hệ thống không gian công cộng quan hệ rất mật thiết với các công trình cho quần chúng, văn phòng, cơ quan hành chính, bệnh viện, nhà ga, rạp chiếu phim. Tuy nhiên cũng có nhiều khái niệm về công trình công cộng khác, cho thấy sự đa dạng về ý nghĩa, phần nào nói lên sự tác động rộng rãi của loại hình công trình này tới đời sống dân sinh.
Theo từ điển Cambridge, công trình công cộng được gọi là public works với định nghĩa là những công trình được xây dựng bằng nguồn vốn đầu tư của nhà nước (vốn ngân sách) phục vụ nhu cầu dân sinh, văn hóa, thương mại, dịch vụ.của cộng đồng. Loại hình này cũng có thể được đầu tư bởi nguồn vốn ngoài ngân sách, như của các tổ chức tư nhân hoặc vốn vay. Di sản đô thị là một khái niệm được KTS người Italia Gustato Giovannoni đề cập lần đầu tiên từ thập niên 30 của thế kỷ trước, cho thấy sự thay đổi trong khái niệm bảo tồn và phát huy các giá trị kiến trúc đô thị. Theo đó Di sản đô thị không chỉ quan tâm đến một công trình riêng lẻ mà bao gồm cả những yếu tố gắn kết liên quan như khung cảnh kiến trúc, môi trường đô thị, bảo tồn và tôn vinh giá trị toàn vẹn của di sản.
Từ đó, di sản không chỉ tồn tại mà còn “sống” được trong bối cảnh đô thị hiện đại, góp phần xây dựng một đô thị có bản sắc và giàu văn hóa. Nội dung này cũng đã được nêu bật trong Hiến chương Burra (1979) và làm rõ lại ở Hiến chương Washington (1987) với việc chỉ ra giá trị văn hóa của công trình kiến trúc không chỉ là cấu trúc vật chất mà còn phụ thuộc vào bối cảnh đô thị, môi trường xung quanh, 9 giá trị văn hóa truyền thống bản địa. Theo quan điểm của KTS Emmanuel Cerise, Trưởng đại diện Vùng Ile-de-France tại Hà Nội thì “.Di sản đô thị bao gồm các công trình mang tính biểu tượng và các yếu tố kiến trúc thông thường, tạo thành một chỉnh thể thống nhất hoặc một cấu trúc không gian đô thị thống nhất, thể hiện qua các đặc tính chung, phong thái quy hoạch, công năng đặc thù hoặc dấu ấn của một giai đoạn. Tuổi thọ thiết kế của CTCC là thời gian khai thác cơ sở vật chất theo đúng tiêu chuẩn thiết kế, cấp công trình và được xác định bởi các tiêu chuẩn quản lý chất lượng công trình hiện hành [73].
Tuổi thọ hữu ích của CTCC là thời gian khai thác hiệu quả của công năng thiết kế. Tuổi thọ hữu ích được coi là kết thúc khi hiệu quả khai thác của công năng thiết kế không còn và phát sinh các yêu cầu nâng cấp, cải tạo hoặc thậm chí phá dỡ để xây mới [73]. Bảo tồn theo từ điển Hán-Việt là một hành động gìn giữ sự vật tồn tại nguyên bản, không bị tổn hại hoặc biến đổi về tính chất, ý nghĩa, hình thức. Theo từ điển Oxford, bảo tồn là hoạt động giữ cho (cái gì đó) ở trạng thái nguyên bản hoặc ở trạng thái hoạt động tốt (the act of keeping something in its original state or in good condition).
Công tác bảo tồn theo Hiến chương Venice 1964 là làm cho đối tượng được duy trì lâu bền, có thể sử dụng vào những mục đích hữu ích cho xã hội nhưng không biến đổi bố cục hoặc trang trí của công trình [27]. Theo đó trong công tác bảo tồn, giá trị thông qua hiện trạng vật lý của công trình kiến trúc là chủ thể được bảo vệ. Đối với đối tượng nghiên cứu của luận án, là cách thức tái phát triển các CTCC đang được khai thác, thì Bảo tồn được coi như một phạm trù bao trùm rộng tuy nhiên ít liên quan. Bền vững mang ý nghĩa về khả năng tồn tại một cách tích cực trong một thời gian dài.
Các từ điển Oxford hay Cambridge đều đưa ra định nghĩa tương tự như vậy. Trong kiến trúc, đó là khả năng thỏa mãn nhu cầu khai thác không chỉ ở thời điểm hiện tại mà còn bảo đảm giữ gìn các yếu tố cần thiết để thỏa mãn cả các nhu cầu phát sinh trong tương lai. Đối với nghiên cứu của luận án, tái phát triển CTCC cũng là một giải pháp khai thác các công trình kiến trúc hướng đến bền vững. Thuật ngữ Phát triển bền vững được định nghĩa chính thức vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế-IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của 10 nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”.
Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế-xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội. phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa ba lĩnh vực chính: kinh tế-xã hội-môi trường. Đối với đối tượng nghiên cứu của luận án, hướng tới phát triển bền vững là một trong những mục đích nghiên cứu và sẽ được xem xét, đánh giá ở nhiều phạm vi khác nhau. Tái phát triển trong tiếng Anh có nghĩa là redevelopment, và thường mang ý nghĩa tích cực, làm cho tốt lên.
Theo từ điển Oxford, Tái phát triển là hành động hoặc quá trình thay đổi một khu vực nhất định thông qua thay thế các kiến trúc, hạ tầng.cũ bằng các thứ mới (the act or process of changing an area by building new roads, houses, factories, etc). Đối với quy hoạch, Tái phát triển thường được áp dụng cho một phạm vi rộng lớn, như tái phát triển một khu dân cư, tái phát triển thành phố.trong đó chủ yếu đề cập tới việc đưa vào khu đất có chức năng cụ thể cho trước nhưng đang bị bỏ hoang, khai thác kém hiệu quả, những công trình kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật.được xây mới nhằm trở thành động lực phát triển mới cho khu đất mà không thay đổi mục đích sử dụng sẵn có. Tuy nhiên nhiều giải pháp Tái phát triển lại tập trung vào thiết kế đô thị hoặc cải tạo kiến trúc [71]. Trong phạm vi kiến trúc, Tái phát triển có thể hiểu như việc một công trình kiến trúc, vì nhiều lý do đã không còn hiệu quả để tiếp tục khai thác, hết động lực để phát triển, cần một tác động đủ mạnh tới các yếu tố mang tính động lực chính trước đây dẫn dắt sự phát triển của công trình như công năng, hình thức kiến trúc hay ý nghĩa sử dụng., vốn đang trở nên yếu kém, để kích hoạt lại quá trình khai thác công trình, khiến trở nên hiệu quả hơn mà không loại bỏ các giá trị sẵn có.
Đối với nghiên cứu của luận án trong bối cảnh đặc thù ở Hà Nội giai đoạn 1975-1986, tái phát triển CTCC được coi như một hoạt động định hình lại, cấu trúc lại, sắp xếp chỉnh sửa lại nhưng không loại bỏ hoàn toàn các yếu tố hiện trạng của công trình, bao gồm cả việc có thể bổ sung thêm các yếu tố mới có chọn lọc để tạo nền tảng hay động lực tốt hơn, tích cực hơn. Các biến thể của Tái phát triển trong kiến trúc có thể bao gồm tái sử dụng thích ứng công trình, tái phát triển công trình kiến trúc hay phá dỡ để xây mới từng phần, trong tổng thể cảnh quan và bối cảnh kiến trúc có liên quan. Nếu hoạt động này thực hiện trên cơ sở dung hòa được ba lĩnh vực chính là Kinh tế- Môi trường- Xã hội thì có thể gọi là Tái phát triển hướng tới bền vững. 11 Tái sử dụng thích ứng (Adaptive reuse) theo từ điển Oxford là quá trình khai thác sử dụng một giá trị cũ dưới một diện mạo mới (the renovation and reuse of pre- existing structures ,such as warehouses, for new purposes).
Đây là một quá trình kéo dài thời gian sử dụng công trình kiến trúc đã không còn hiệu quả khai thác, dưới một công năng hoàn toàn mới, trong khi vẫn tận dụng được các yếu tố hiện trạng của công trình [60]. Đối với trường hợp nghiên cứu của luận án, đây là một giải pháp nằm trong hoạt động Tái phát triển và được áp dụng cho một số trường hợp cụ thể (thường là các công trình kiến trúc công nghiệp hoặc CTCC đã hoàn toàn lạc hậu về công năng, phải chuyển đổi công năng). So sánh khái niệm Tái phát triển và Tái sử dụng thích ứng Tái phát triển Tái sử dụng thích ứng Khái niệm - Đánh giá, sắp xếp lại các yếu - Đánh giá các yếu tố hiện trạng. cơ bản tố hiện trạng.
- Xác định rõ các yếu tố cần giữ - Tìm ra yếu tố mang tính động lại, loại bỏ các yếu tố không lực để tác động. - Đưa vào một số yếu tố mới - Đưa vào yếu tố mới trên cơ sở phù hợp với các yếu tố hiện sử dụng lại các giá trị cũ đã trạng đã được đánh giá. Bản chất Kích hoạt lại các yếu tố hiện Thay thế các yếu tố hiện trạng sau trạng sau khi được đánh giá giá khi được đánh giá bằng những yếu trị bằng cách đưa thêm vào các tố mới hoàn toàn. yếu tố mới phù hợp.
Kết quả Công trình kiến trúc với công Công trình kiến trúc hiện trạng năng hiện trạng được đa năng hóa được thay thế công năng mới có và thích ứng cao. tính thích ứng cao. Phạm vi Các công trình kiến trúc có giá trị Các công trình kiến trúc còn giá áp dụng vẫn đang được khai thác với công trị sử dụng nhưng không còn năng thiết kế nhưng kém hiệu được khai thác hiệu quả với công quả. năng thiết kế 1.