Tái Phát Triển Bền Vững Các Công Trình Công Cộng Giai Đoạn 1975-1986 Tại Hà Nội

Chuyên khảo phân tích Tái phát triển theo hướng bền vững các công trình công cộng giai đoạn 1975 1986 tại hà nội, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp

Chuyên ngành

Kiến Trúc

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2023

190
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG GIAI ĐOẠN 1975-1986 VÀ NHỮNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU TÁI PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG TRÌNH NÀY TẠI HÀ NỘI

1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan

1.2. Tổng quan về bối cảnh hình thành và phát triển CTCC trên thế giới từ sau những năm 1920 cho tới những năm 1980 và giai đoạn 1975-1986

1.3. Tổng quan về nghiên cứu tái phát triển CTCC trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1. Trên thế giới

1.4. Sơ lược về sự phát triển của CTCC tại Hà Nội thời kỳ 1954-1986

1.4.1. Bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội

1.4.2. Kiến trúc CTCC tại Hà Nội giai đoạn 1954-1964

1.4.3. Kiến trúc CTCC tại Hà Nội giai đoạn 1965-1972

1.4.4. Kiến trúc CTCC tại Hà Nội giai đoạn 1973-1986, tập trung vào thời điểm từ 1975

1.5. Thực trạng tái phát triển các CTCC giai đoạn 1975-1986 tại Hà Nội và các vấn đề tồn tại cần nghiên cứu

1.5.1. Thực trạng tái phát triển các CTCC giai đoạn 1975-1986 tại Hà Nội

1.5.2. Các vấn đề tồn tại cần nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CÁC CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ TÁI PHÁT TRIỂN CÁC CTCC GIAI ĐOẠN 1975-1986 TẠI HÀ NỘI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

2.1. Hệ thống văn bản pháp lý về di sản hóa và đánh giá giá trị công trình kiến trúc

2.2. Hệ thống văn bản pháp lý về quản lý xây dựng công trình kiến trúc

2.3. Hệ thống văn bản pháp lý về đánh giá chất lượng công trình

2.3.1. Các quan điểm bảo tồn hiện đại nhìn nhận qua các Hiến chương quốc tế về bảo tồn

2.4. Các lý thuyết về phát triển bền vững và kiến trúc bền vững

2.4.1. Lý thuyết về di sản đô thị

2.4.2. Lý thuyết về Chuyển hóa luận

2.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới tái phát triển hướng tới bền vững các CTCC giai đoạn 1975-1986 tại Hà Nội

2.5.1. Các yếu tố tự nhiên và tác động môi trường

2.5.2. Các yếu tố quy hoạch và kiến trúc

2.5.3. Các yếu tố văn hóa-xã hội

2.5.4. Yếu tố kinh tế

2.5.5. Các yếu tố kỹ thuật và công nghệ

2.6. Một số trường hợp điển hình về tái phát triển CTCC trên thế giới

2.6.1. Trường hợp tái phát triển các CTCC có giá trị lịch sử để giữ gìn và khai thác có giới hạn

2.6.2. Trường hợp tái phát triển các CTCC có giá trị khai thác nhưng kém hiệu quả

2.6.3. Trường hợp tái phát triển các CTCC từ đơn chức năng thành đa chức năng

2.7. Xu thế mới về tái phát triển công trình kiến trúc trên thế giới và cơ sở thực tiễn ở một số nước thuộc khu vực Đông Nam Á

3. CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT TÁI PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG GIAI ĐOẠN 1975-1986 TẠI HÀ NỘI

3.1. Quan điểm và nguyên tắc về tái phát triển theo hướng bền vững các CTCC. Đề xuất khái niệm mới về tái phát triển theo hướng bền vững

3.1.1. Khái niệm Tái phát triển theo hướng bền vững

3.1.2. So sánh khái niệm Tái phát triển theo hướng bền vững với các khái niệm liên quan

3.2. Hệ thống tiêu chí đánh giá giá trị và đánh giá mức độ bền vững của các CTCC giai đoạn 1975-1986 phục vụ cho tái phát triển theo hướng bền vững

3.2.1. Hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ tái phát triển CTCC

3.2.2. Phân loại theo các tiêu chí đánh giá và phân loại CTCC giai đoạn 1975-1986 tại Hà Nội

3.3. Mô hình tái phát triển theo hướng bền vững

3.3.1. Cơ sở hình thành mô hình tái phát triển CTCC theo hướng bền vững

3.3.2. Các mô hình tái phát triển theo hướng bền vững

3.4. Đề xuất định hướng tái phát triển CTCC giai đoạn 1975-1986 tại Hà Nội về quy hoạch, kiến trúc và quy trình thực hiện

3.4.1. Quy hoạch tổng mặt bằng

3.4.2. Không gian và chức năng chuyển đổi

3.4.3. Về hình thức kiến trúc

3.4.4. Quy trình thực hiện tương ứng với các mô hình phát triển

3.4.4.1. Cung Thiếu nhi Hà Nội
3.4.4.2. Nhà hát múa rối nước Thăng Long

3.5. Bàn luận về khái niệm Tái phát triển theo hướng bền vững

3.6. Bàn luận về hệ tiêu chí đánh giá

3.7. Bàn luận về mô hình tái phát triển và quy trình thực hiện

3.8. Bàn luận về điều kiện để áp dụng thực tiễn thành công và hiệu quả

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tái Phát Triển Bền Vững Công Trình 1975 1986

Trong không gian đô thị, các công trình công cộng (CTCC) thường được coi là nhân chứng của thời đại, phản ánh rõ nét nhu cầu xã hội tại thời điểm xây dựng. Việc bảo tồn những công trình kiến trúc này là lưu giữ giá trị lịch sử một cách trực quan, sinh động, điều mà không sách vở hay tài liệu nào có thể mô tả xác thực hơn. GS.KTS Nguyễn Việt Châu nhấn mạnh: "Đô thị không có di sản là đô thị không có ký ức, đô thị mất trí nhớ, đồng nghĩa với không có điểm tựa, không có chỗ dựa về nhân văn...". Nghiên cứu giai đoạn 1954-1986, đặc biệt là giai đoạn 1975-1986, rất quan trọng vì nhiều CTCC được xây dựng lần đầu, các đối tượng khai thác được xác định và vai trò của CTCC trong quy hoạch đô thị được nhấn mạnh. Mặc dù giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc có thể chưa được công nhận là di sản, nhưng những yếu tố đặc trưng cho thời đại lại rất đáng lưu tâm và giá trị tinh thần qua nhiều trường hợp lại không hề nhỏ.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử và Ý Nghĩa Giai Đoạn 1975 1986

Giai đoạn 1975-1986 là thời kỳ đặc thù trong lịch sử Việt Nam. Bắt đầu bằng chiến thắng 30/04/1975, thống nhất đất nước, chuyển đổi từ thời chiến sang thời bình và kết thúc bằng sự kiện Đổi mới tại Đại hội VI, chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường. Đây là giai đoạn duy nhất được bắt đầu và kết thúc bởi các trạng thái chuyển giai đoạn quan trọng. Kiến trúc giai đoạn này thể hiện yếu tố lý trí mạnh mẽ, đoạn tuyệt với quá khứ và khao khát tiếp cận với thế giới, hướng tới phục vụ cộng đồng.

1.2. Vai Trò và Giá Trị của CTCC Xây Dựng Từ 1975 Đến 1986

Các CTCC giai đoạn 1975-1986 là đại diện tiêu biểu cho cả thời kỳ 1954-1986, về cả giá trị kiến trúc cũng như giá trị văn hóa, lịch sử. Tuy nhiên, việc ứng xử với các công trình giai đoạn này đang đứng trước sự lựa chọn và cả thách thức: cải tạo hoàn thiện để tiếp tục khai thác với nhu cầu đương đại, hay là phá bỏ để xây dựng mới? Lựa chọn thường dựa trên quy mô, sự xuống cấp, giá trị khu đất, trong khi các giá trị phi vật thể, văn hóa, tinh thần chưa được xem xét nghiêm túc.

II. Thách Thức Tái Phát Triển Bền Vững Công Trình Công Cộng

Các CTCC thuộc giai đoạn 1975-1986 thường được xây dựng rất kiên cố, tuổi thọ vật lý còn khá dài, chất lượng kết cấu và vỏ bao che còn tốt. Tuy nhiên, do xuất hiện trong một thời kỳ đặc thù, nhu cầu khai thác của nhiều công trình có những nét riêng và khó thích nghi với quá trình chuyển đổi nhu cầu xã hội hiện tại. Khảo sát cho thấy nhiều CTCC đã lỗi thời và xuống cấp. Đáng tiếc hơn, nhiều công trình đã bị phá bỏ hoàn toàn hoặc đang trong quá trình hoàn tất các thủ tục pháp lý để phá bỏ nhằm thay thế bằng công trình mới. Việc này khiến Hà Nội mất đi những bằng chứng lịch sử quan trọng.

2.1. Vấn Đề Bảo Tồn và Khai Thác Công Trình Công Cộng Hiện Nay

Nhiều nghiên cứu khoa học đã đề cập tới các giá trị kiến trúc của CTCC giai đoạn 1975-1986 ở Hà Nội, cũng có không ít đề xuất để bảo tồn, phát huy giá trị các công trình kiến trúc thuộc giai đoạn này nhưng công tác đánh giá các giá trị kiến trúc nhằm phân loại để áp dụng các giải pháp ứng xử phù hợp cho từng thể loại công trình lại chưa được quan tâm đúng mức. Các nghiên cứu đa phần hướng tới lựa chọn công trình có giá trị để bảo tồn, hiệu quả khai thác trong tương lai lại không có định hướng cụ thể.

2.2. Sự Cần Thiết của Giải Pháp Tái Phát Triển Bền Vững

Không phải tất cả các CTCC có giá trị đều đủ điều kiện để được bảo vệ bởi Luật Di sản văn hóa, trong khi hầu như các công trình này đều đang và sẽ còn được khai thác trong tương lai. Vì vậy, cần nghiên cứu để đưa ra một giải pháp khoa học mang tính bền vững, đảm bảo vừa bảo tồn giá trị, vừa khai thác hiệu quả, đáp ứng nhu cầu xã hội hiện đại.

2.3. Tác Động Môi Trường và Yếu Tố Bền Vững Trong Xây Dựng

Quá trình tái phát triển cần xem xét kỹ lưỡng tác động đến môi trường, bao gồm sử dụng năng lượng hiệu quả, giảm thiểu chất thải xây dựng, và bảo tồn tài nguyên. Các giải pháp bền vững như sử dụng vật liệu tái chế, thiết kế thông gió tự nhiên, và tận dụng ánh sáng mặt trời cần được ưu tiên.

III. Phương Pháp Đánh Giá và Phân Loại CTCC Hà Nội 1975 1986

Để tái phát triển bền vững các CTCC giai đoạn 1975-1986 tại Hà Nội, cần có một phương pháp đánh giá và phân loại khoa học. Phương pháp này cần dựa trên các tiêu chí rõ ràng, bao gồm giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc, chất lượng công trình, khả năng thích ứng với nhu cầu hiện đại, và tiềm năng phát triển kinh tế. Việc phân loại giúp xác định các giải pháp ứng xử phù hợp cho từng loại công trình.

3.1. Xây Dựng Hệ Thống Tiêu Chí Đánh Giá Giá Trị Công Trình

Hệ thống tiêu chí đánh giá cần bao gồm các yếu tố định tính và định lượng. Các yếu tố định tính bao gồm giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc, ý nghĩa xã hội, và giá trị thẩm mỹ. Các yếu tố định lượng bao gồm diện tích, quy mô, chất lượng vật liệu, tuổi thọ công trình, và hiệu quả sử dụng năng lượng.

3.2. Phân Loại CTCC Theo Mức Độ Giá Trị và Khả Năng Tái Sử Dụng

Dựa trên hệ thống tiêu chí đánh giá, các CTCC cần được phân loại thành các nhóm khác nhau. Ví dụ, nhóm công trình có giá trị lịch sử cao cần được bảo tồn nguyên trạng hoặc cải tạo tối thiểu. Nhóm công trình có giá trị kiến trúc cần được bảo tồn các yếu tố đặc trưng. Nhóm công trình không có giá trị đặc biệt có thể được cải tạo hoặc xây dựng mới.

IV. Giải Pháp Mô Hình Tái Phát Triển Bền Vững CTCC 1975 1986

Nghiên cứu này đề xuất các mô hình tái phát triển bền vững cho các CTCC giai đoạn 1975-1986 tại Hà Nội, dựa trên kết quả đánh giá và phân loại. Các mô hình này cần đảm bảo vừa bảo tồn giá trị, vừa khai thác hiệu quả, đáp ứng nhu cầu xã hội hiện đại, đồng thời giảm thiểu tác động đến môi trường. Các mô hình này có thể bao gồm cải tạo, nâng cấp, chuyển đổi chức năng, hoặc kết hợp các giải pháp khác nhau.

4.1. Mô Hình 1 Bảo Tồn và Cải Tạo Chức Năng

Mô hình này áp dụng cho các CTCC có giá trị lịch sử cao và khả năng thích ứng với nhu cầu hiện đại. Giải pháp bao gồm bảo tồn các yếu tố kiến trúc quan trọng, cải tạo nội thất để đáp ứng nhu cầu sử dụng, và bổ sung các tiện nghi hiện đại. Cần chú trọng việc bảo tồn di sản và tạo ra sự hài hòa giữa cũ và mới.

4.2. Mô Hình 2 Chuyển Đổi Chức Năng và Nâng Cấp

Mô hình này áp dụng cho các CTCC không còn phù hợp với chức năng ban đầu, nhưng có tiềm năng phát triển kinh tế. Giải pháp bao gồm chuyển đổi chức năng sang các loại hình dịch vụ, thương mại, văn hóa, hoặc du lịch. Cần nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải thiện không gian công cộng, và tạo ra sự kết nối với cộng đồng.

4.3. Mô Hình 3 Tái Thiết và Phát Triển Mới

Mô hình này áp dụng cho các CTCC đã xuống cấp nghiêm trọng và không còn giá trị sử dụng. Giải pháp bao gồm phá dỡ công trình cũ và xây dựng mới, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn quy hoạch, kiến trúc, và môi trường. Cần tạo ra các công trình hiện đại, tiện nghi, và thân thiện với môi trường.

V. Ứng Dụng Đề Xuất Quy Trình Tái Phát Triển Bền Vững CTCC

Nghiên cứu này đề xuất một quy trình tái phát triển bền vững cho các CTCC giai đoạn 1975-1986 tại Hà Nội. Quy trình này bao gồm các bước: khảo sát, đánh giá, phân loại, lựa chọn mô hình, lập kế hoạch, thực hiện, và giám sát. Cần có sự tham gia của các chuyên gia, cộng đồng, và chính quyền địa phương trong quá trình thực hiện.

5.1. Khảo Sát và Đánh Giá Hiện Trạng Công Trình

Bước đầu tiên là khảo sát và đánh giá hiện trạng công trình, bao gồm các yếu tố kiến trúc, kết cấu, cơ điện, và môi trường. Cần thu thập thông tin chi tiết về lịch sử, giá trị, và tiềm năng của công trình.

5.2. Lựa Chọn Mô Hình Tái Phát Triển Phù Hợp

Dựa trên kết quả khảo sát và đánh giá, cần lựa chọn mô hình tái phát triển phù hợp, đảm bảo vừa bảo tồn giá trị, vừa khai thác hiệu quả, đáp ứng nhu cầu xã hội, và giảm thiểu tác động đến môi trường.

5.3. Thực Hiện Dự Án và Giám Sát

Sau khi có kế hoạch chi tiết, cần thực hiện dự án tái phát triển, đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật, tiêu chuẩn kỹ thuật, và yêu cầu về môi trường. Cần giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện để đảm bảo chất lượng và hiệu quả.

VI. Kết Luận Tương Lai Tái Phát Triển Bền Vững CTCC Hà Nội

Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn tổng quan về vấn đề tái phát triển bền vững các CTCC giai đoạn 1975-1986 tại Hà Nội. Các kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp có thể được sử dụng để định hướng cho các dự án tái phát triển trong tương lai, góp phần bảo tồn di sản, phát triển kinh tế, và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

6.1. Tầm Quan Trọng của Nghiên Cứu và Ứng Dụng Thực Tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng, cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận cho việc tái phát triển bền vững các CTCC tại Hà Nội và các thành phố khác. Việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bảo tồn di sản, phát triển kinh tế, và nâng cao chất lượng cuộc sống.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo và Khuyến Nghị

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các khía cạnh kinh tế, xã hội, và môi trường của việc tái phát triển bền vững các CTCC. Cần khuyến khích sự tham gia của các chuyên gia, cộng đồng, và chính quyền địa phương trong quá trình thực hiện các dự án tái phát triển.

23/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG GIAI ĐOẠN 1975-1986 VÀ NHỮNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU TÁI PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG TRÌNH NÀY TẠI HÀ NỘI 1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan Trong nghiên cứu này với các mục đích, mục tiêu cũng như kết quả mong muốn đạt được như đã nêu ở trên, để kiện toàn những cơ sở khoa học, những khung lý thuyết của việc nghiên cứu, chúng tôi đề xuất tìm hiểu một số thuật ngữ và khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau : Công trình công cộng theo định nghĩa của PGS.KTS Nguyễn Đức Thiềm là loại nhà dân dụng, thiết kế xây dựng nhằm phục vụ các hoạt động chuyên môn nghề nghiệp, hay để thoả mãn các nhu cầu sinh hoạt văn hoá, tinh thần cũng như vui chơi, giải trí của con người. Đó là các loại nhà trẻ, trường học, cửa hàng, trung tâm công cộng, bên cạnh các công trình còn có một hệ thống không gian công cộng quan hệ rất mật thiết với các công trình cho quần chúng, văn phòng, cơ quan hành chính, bệnh viện, nhà ga, rạp chiếu phim. Tuy nhiên cũng có nhiều khái niệm về công trình công cộng khác, cho thấy sự đa dạng về ý nghĩa, phần nào nói lên sự tác động rộng rãi của loại hình công trình này tới đời sống dân sinh.

Theo từ điển Cambridge, công trình công cộng được gọi là public works với định nghĩa là những công trình được xây dựng bằng nguồn vốn đầu tư của nhà nước (vốn ngân sách) phục vụ nhu cầu dân sinh, văn hóa, thương mại, dịch vụ.của cộng đồng. Loại hình này cũng có thể được đầu tư bởi nguồn vốn ngoài ngân sách, như của các tổ chức tư nhân hoặc vốn vay. Di sản đô thị là một khái niệm được KTS người Italia Gustato Giovannoni đề cập lần đầu tiên từ thập niên 30 của thế kỷ trước, cho thấy sự thay đổi trong khái niệm bảo tồn và phát huy các giá trị kiến trúc đô thị. Theo đó Di sản đô thị không chỉ quan tâm đến một công trình riêng lẻ mà bao gồm cả những yếu tố gắn kết liên quan như khung cảnh kiến trúc, môi trường đô thị, bảo tồn và tôn vinh giá trị toàn vẹn của di sản.

Từ đó, di sản không chỉ tồn tại mà còn “sống” được trong bối cảnh đô thị hiện đại, góp phần xây dựng một đô thị có bản sắc và giàu văn hóa. Nội dung này cũng đã được nêu bật trong Hiến chương Burra (1979) và làm rõ lại ở Hiến chương Washington (1987) với việc chỉ ra giá trị văn hóa của công trình kiến trúc không chỉ là cấu trúc vật chất mà còn phụ thuộc vào bối cảnh đô thị, môi trường xung quanh, 9 giá trị văn hóa truyền thống bản địa. Theo quan điểm của KTS Emmanuel Cerise, Trưởng đại diện Vùng Ile-de-France tại Hà Nội thì “.Di sản đô thị bao gồm các công trình mang tính biểu tượng và các yếu tố kiến trúc thông thường, tạo thành một chỉnh thể thống nhất hoặc một cấu trúc không gian đô thị thống nhất, thể hiện qua các đặc tính chung, phong thái quy hoạch, công năng đặc thù hoặc dấu ấn của một giai đoạn. Tuổi thọ thiết kế của CTCC là thời gian khai thác cơ sở vật chất theo đúng tiêu chuẩn thiết kế, cấp công trình và được xác định bởi các tiêu chuẩn quản lý chất lượng công trình hiện hành [73].

Tuổi thọ hữu ích của CTCC là thời gian khai thác hiệu quả của công năng thiết kế. Tuổi thọ hữu ích được coi là kết thúc khi hiệu quả khai thác của công năng thiết kế không còn và phát sinh các yêu cầu nâng cấp, cải tạo hoặc thậm chí phá dỡ để xây mới [73]. Bảo tồn theo từ điển Hán-Việt là một hành động gìn giữ sự vật tồn tại nguyên bản, không bị tổn hại hoặc biến đổi về tính chất, ý nghĩa, hình thức. Theo từ điển Oxford, bảo tồn là hoạt động giữ cho (cái gì đó) ở trạng thái nguyên bản hoặc ở trạng thái hoạt động tốt (the act of keeping something in its original state or in good condition).

Công tác bảo tồn theo Hiến chương Venice 1964 là làm cho đối tượng được duy trì lâu bền, có thể sử dụng vào những mục đích hữu ích cho xã hội nhưng không biến đổi bố cục hoặc trang trí của công trình [27]. Theo đó trong công tác bảo tồn, giá trị thông qua hiện trạng vật lý của công trình kiến trúc là chủ thể được bảo vệ. Đối với đối tượng nghiên cứu của luận án, là cách thức tái phát triển các CTCC đang được khai thác, thì Bảo tồn được coi như một phạm trù bao trùm rộng tuy nhiên ít liên quan. Bền vững mang ý nghĩa về khả năng tồn tại một cách tích cực trong một thời gian dài.

Các từ điển Oxford hay Cambridge đều đưa ra định nghĩa tương tự như vậy. Trong kiến trúc, đó là khả năng thỏa mãn nhu cầu khai thác không chỉ ở thời điểm hiện tại mà còn bảo đảm giữ gìn các yếu tố cần thiết để thỏa mãn cả các nhu cầu phát sinh trong tương lai. Đối với nghiên cứu của luận án, tái phát triển CTCC cũng là một giải pháp khai thác các công trình kiến trúc hướng đến bền vững. Thuật ngữ Phát triển bền vững được định nghĩa chính thức vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế-IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của 10 nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”.

Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế-xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội. phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa ba lĩnh vực chính: kinh tế-xã hội-môi trường. Đối với đối tượng nghiên cứu của luận án, hướng tới phát triển bền vững là một trong những mục đích nghiên cứu và sẽ được xem xét, đánh giá ở nhiều phạm vi khác nhau. Tái phát triển trong tiếng Anh có nghĩa là redevelopment, và thường mang ý nghĩa tích cực, làm cho tốt lên.

Theo từ điển Oxford, Tái phát triển là hành động hoặc quá trình thay đổi một khu vực nhất định thông qua thay thế các kiến trúc, hạ tầng.cũ bằng các thứ mới (the act or process of changing an area by building new roads, houses, factories, etc). Đối với quy hoạch, Tái phát triển thường được áp dụng cho một phạm vi rộng lớn, như tái phát triển một khu dân cư, tái phát triển thành phố.trong đó chủ yếu đề cập tới việc đưa vào khu đất có chức năng cụ thể cho trước nhưng đang bị bỏ hoang, khai thác kém hiệu quả, những công trình kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật.được xây mới nhằm trở thành động lực phát triển mới cho khu đất mà không thay đổi mục đích sử dụng sẵn có. Tuy nhiên nhiều giải pháp Tái phát triển lại tập trung vào thiết kế đô thị hoặc cải tạo kiến trúc [71]. Trong phạm vi kiến trúc, Tái phát triển có thể hiểu như việc một công trình kiến trúc, vì nhiều lý do đã không còn hiệu quả để tiếp tục khai thác, hết động lực để phát triển, cần một tác động đủ mạnh tới các yếu tố mang tính động lực chính trước đây dẫn dắt sự phát triển của công trình như công năng, hình thức kiến trúc hay ý nghĩa sử dụng., vốn đang trở nên yếu kém, để kích hoạt lại quá trình khai thác công trình, khiến trở nên hiệu quả hơn mà không loại bỏ các giá trị sẵn có.

Đối với nghiên cứu của luận án trong bối cảnh đặc thù ở Hà Nội giai đoạn 1975-1986, tái phát triển CTCC được coi như một hoạt động định hình lại, cấu trúc lại, sắp xếp chỉnh sửa lại nhưng không loại bỏ hoàn toàn các yếu tố hiện trạng của công trình, bao gồm cả việc có thể bổ sung thêm các yếu tố mới có chọn lọc để tạo nền tảng hay động lực tốt hơn, tích cực hơn. Các biến thể của Tái phát triển trong kiến trúc có thể bao gồm tái sử dụng thích ứng công trình, tái phát triển công trình kiến trúc hay phá dỡ để xây mới từng phần, trong tổng thể cảnh quan và bối cảnh kiến trúc có liên quan. Nếu hoạt động này thực hiện trên cơ sở dung hòa được ba lĩnh vực chính là Kinh tế- Môi trường- Xã hội thì có thể gọi là Tái phát triển hướng tới bền vững. 11 Tái sử dụng thích ứng (Adaptive reuse) theo từ điển Oxford là quá trình khai thác sử dụng một giá trị cũ dưới một diện mạo mới (the renovation and reuse of pre- existing structures ,such as warehouses, for new purposes).

Đây là một quá trình kéo dài thời gian sử dụng công trình kiến trúc đã không còn hiệu quả khai thác, dưới một công năng hoàn toàn mới, trong khi vẫn tận dụng được các yếu tố hiện trạng của công trình [60]. Đối với trường hợp nghiên cứu của luận án, đây là một giải pháp nằm trong hoạt động Tái phát triển và được áp dụng cho một số trường hợp cụ thể (thường là các công trình kiến trúc công nghiệp hoặc CTCC đã hoàn toàn lạc hậu về công năng, phải chuyển đổi công năng). So sánh khái niệm Tái phát triển và Tái sử dụng thích ứng Tái phát triển Tái sử dụng thích ứng Khái niệm - Đánh giá, sắp xếp lại các yếu - Đánh giá các yếu tố hiện trạng. cơ bản tố hiện trạng.

- Xác định rõ các yếu tố cần giữ - Tìm ra yếu tố mang tính động lại, loại bỏ các yếu tố không lực để tác động. - Đưa vào một số yếu tố mới - Đưa vào yếu tố mới trên cơ sở phù hợp với các yếu tố hiện sử dụng lại các giá trị cũ đã trạng đã được đánh giá. Bản chất Kích hoạt lại các yếu tố hiện Thay thế các yếu tố hiện trạng sau trạng sau khi được đánh giá giá khi được đánh giá bằng những yếu trị bằng cách đưa thêm vào các tố mới hoàn toàn. yếu tố mới phù hợp.

Kết quả Công trình kiến trúc với công Công trình kiến trúc hiện trạng năng hiện trạng được đa năng hóa được thay thế công năng mới có và thích ứng cao. tính thích ứng cao. Phạm vi Các công trình kiến trúc có giá trị Các công trình kiến trúc còn giá áp dụng vẫn đang được khai thác với công trị sử dụng nhưng không còn năng thiết kế nhưng kém hiệu được khai thác hiệu quả với công quả. năng thiết kế 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tái Phát Triển Bền Vững Các Công Trình Công Cộng Tại Hà Nội (1975-1986)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình phát triển và tái phát triển các công trình công cộng tại Hà Nội trong giai đoạn quan trọng này. Tài liệu không chỉ nêu bật những thách thức mà còn đề xuất các giải pháp bền vững nhằm cải thiện chất lượng và hiệu quả của các công trình. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức quản lý và phát triển hạ tầng, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn trong các dự án tương lai.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý xây dựng và nâng cao chất lượng công trình, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kỹ thuật xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi phí dự án tại các công trình xây dựng dân dụng trên địa bàn huyện yên phong tỉnh bắc ninh, nơi cung cấp các giải pháp quản lý chi phí hiệu quả. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giám sát thi công xây dựng tại ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện châu thành tỉnh hậu giang sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về giám sát chất lượng trong thi công. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác an toàn vệ sinh môi trường cho các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp tại tỉnh bến tre sẽ cung cấp cái nhìn về an toàn vệ sinh môi trường trong xây dựng. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực này.