Luận văn: Tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro ngân hàng TMCP UEH

Nghiên cứu chi tiết tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro trong luận văn kinh tế. Phân tích mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và giảm thiểu rủi ro

Trường đại học

Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Tài chính – Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đa dạng hóa thu nhập tác động đến rủi ro ngân hàng

Đa dạng hóa thu nhập là chiến lược quản trị rủi ro quan trọng trong hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần. Khái niệm này đề cập đến việc mở rộng nguồn thu nhập từ nhiều lĩnh vực thay vì phụ thuộc duy nhất vào hoạt động cho vay truyền thống. Các ngân hàng đa dạng hóa thu nhập thông qua thu nhập từ phí dịch vụ, kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm hay hoạt động đầu tư. Tại Việt Nam giai đoạn 2005-2017, xu hướng này trở nên cấp thiết khi môi trường kinh doanh ngân hàng ngày càng cạnh tranh và biến động. Nghiên cứu chỉ ra rằng đa dạng hóa thu nhập có thể giảm thiểu rủi ro hệ thống thông qua phân tán rủi ro vào nhiều nguồn thu. Tuy nhiên, mức độ đa dạng hóa cần được kiểm soát chặt chẽ để tránh gia tăng rủi ro phi hệ thống do hoạt động ngoài lĩnh vực chuyên môn. Hiệu quả của chiến lược này phụ thuộc vào năng lực quản trị rủi ro và sự phù hợp với đặc thù thị trường Việt Nam.

1.1. Khái niệm và bản chất đa dạng hóa thu nhập

Đa dạng hóa thu nhập trong ngân hàng được định nghĩa là việc kết hợp nhiều nguồn thu nhập khác nhau nhằm giảm sự phụ thuộc vào một nguồn thu chính. Tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, thu nhập chủ yếu đến từ lãi suất cho vay, phí dịch vụ, thu nhập từ hoạt động kinh doanh chứng khoán và bảo hiểm. Bản chất của đa dạng hóa là tối ưu hóa cấu trúc thu nhập thông qua việc khai thác lợi thế cạnh tranh ở từng lĩnh vực. Chiến lược này giúp ngân hàng ổn định dòng tiền khi một lĩnh vực kinh doanh gặp biến động. Tuy nhiên, đa dạng hóa quá mức có thể dẫn đến mất tập trung vào hoạt động cốt lõi, gia tăng chi phí quản lý và rủi ro hoạt động.

1.2. Mối quan hệ giữa đa dạng hóa và rủi ro ngân hàng

Rủi ro ngân hàng bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và rủi ro thanh khoản. Đa dạng hóa thu nhập tác động hai chiều đến rủi ro ngân hàng. Một mặt, việc phân tán thu nhập vào nhiều lĩnh vực giúp giảm rủi ro hệ thống khi suy thoái xảy ra ở một lĩnh vực. Mặt khác, đa dạng hóa không kiểm soát có thể gia tăng rủi ro phi hệ thống do thiếu chuyên môn trong lĩnh vực mới. Nghiên cứu tại Việt Nam giai đoạn 2005-2017 cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa đa dạng hóa thu nhập và rủi ro ngân hàng, trong đó mức độ đa dạng hóa tối ưu nằm ở mức trung bình.

II. Phân tích tác động đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro ngân hàng

Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2005-2017 được phân tích thông qua dữ liệu của 28 ngân hàng thương mại cổ phần. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa dạng hóa thu nhập có tác động tích cực đến khả năng chống chịu rủi ro khi chỉ số đa dạng hóa (HHI) nằm trong khoảng 0.3-0.6. Khi HHI vượt quá 0.6, hiệu quả giảm thiểu rủi ro suy giảm do ngân hàng phải đối mặt với rủi ro hoạt động tăng cao từ các lĩnh vực không chuyên môn. Phân tích thống kê mô tả cho thấy các ngân hàng có mức độ đa dạng hóa cao hơn thường có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn nhưng chi phí hoạt động cao hơn. Mối quan hệ này đặc biệt rõ rệt trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008-2009 khi các ngân hàng đa dạng hóa thu nhập có khả năng phục hồi nhanh hơn.

2.1. Bằng chứng thực nghiệm từ nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy GMM với dữ liệu bảng giai đoạn 2005-2017 cho 28 ngân hàng thương mại cổ phần. Kết quả cho thấy đa dạng hóa thu nhập có tác động giảm rủi ro phá sản (Z-Score) khi chỉ số HHI nằm trong khoảng 0.3-0.6. Tại mức HHI > 0.6, tác động trở nên tiêu cực do chi phí quản lý tăng cao và mất tập trung vào hoạt động cốt lõi. Phân tích tương quan cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa đa dạng hóa thu nhập và rủi ro ngân hàng, với điểm uốn tại HHI=0.55. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đa dạng hóa thu nhập tác động tích cực đến khả năng sinh lời (ROA) khi HHI nằm trong khoảng 0.4-0.7.

2.2. So sánh với các nghiên cứu quốc tế

Các nghiên cứu quốc tế như của Kohler (2013) tại châu Âu hay Gamra & Plihon (2014) tại châu Phi đều thống nhất về tác động tích cực của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro ngân hàng, nhưng nhấn mạnh mức độ đa dạng hóa tối ưu khác nhau tùy thuộc vào đặc thù thị trường. Tại Nam Á, nghiên cứu của Edirisuriya (2015) cho thấy đa dạng hóa thu nhập giúp cải thiện định giá thị trường (market-to-book) nhưng chỉ đến một điểm giới hạn. Điểm khác biệt chính tại Việt Nam là vai trò quan trọng của yếu tố quy mô ngân hàng trong mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và rủi ro.

III. Giải pháp đa dạng hóa thu nhập tối ưu rủi ro ngân hàng

Để tối ưu hóa tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro ngân hàng, các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam cần xây dựng chiến lược đa dạng hóa phù hợp với quy mô và năng lực quản trị. Giải pháp đầu tiên là xác định mức độ đa dạng hóa tối ưu dựa trên phân tích dữ liệu lịch sử, thông thường nằm trong khoảng HHI 0.4-0.6. Chiến lược thứ hai là phát triển các lĩnh vực thu nhập bổ trợ có liên quan đến hoạt động cốt lõi như dịch vụ thanh toán hay tài trợ thương mại. Giải pháp thứ ba là đầu tư vào hệ thống quản trị rủi ro hiện đại để giám sát chặt chẽ rủi ro phát sinh từ hoạt động đa dạng hóa. Cuối cùng, ngân hàng cần duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản ở mức an toàn (≥8%) để tăng cường khả năng chống chịu rủi ro.

3.1. Xây dựng chiến lược đa dạng hóa phù hợp

Chiến lược đa dạng hóa thu nhập cần bắt đầu từ việc đánh giá năng lực cạnh tranh cốt lõi của ngân hàng. Ngân hàng có thể lựa chọn đa dạng hóa theo chiều rộng (mở rộng sang nhiều lĩnh vực) hoặc chiều sâu (tăng cường chuyên môn hóa trong lĩnh vực phụ trợ). Ví dụ, ngân hàng có thể phát triển mảng dịch vụ thanh toán điện tử như một lĩnh vực thu nhập bổ trợ cho hoạt động cho vay truyền thống. Chiến lược cần được xây dựng dựa trên phân tích SWOT và dự báo xu hướng thị trường. Ngân hàng cũng cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu giám sát định kỳ mức độ đa dạng hóa thu nhập và rủi ro phát sinh.

3.2. Nâng cao năng lực quản trị rủi ro

Hệ thống quản trị rủi ro cần được nâng cấp để phù hợp với mô hình kinh doanh đa dạng hóa thu nhập. Điều này bao gồm việc xây dựng mô hình dự báo rủi ro theo kịch bản cho từng lĩnh vực thu nhập mới, thiết lập ngưỡng cảnh báo sớm khi rủi ro vượt ngưỡng cho phép. Ngân hàng cần đào tạo đội ngũ nhân viên về quản trị rủi ro trong hoạt động đa dạng hóa, đặc biệt là rủi ro hoạt động và rủi ro danh mục. Hệ thống báo cáo quản trị cần cung cấp thông tin kịp thời về hiệu quả và rủi ro của từng lĩnh vực thu nhập để ban lãnh đạo đưa ra quyết định điều chỉnh kịp thời.

IV. Kết luận và khuyến nghị chính sách

Nghiên cứu khẳng định đa dạng hóa thu nhập có tác động tích cực đến rủi ro ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2005-2017, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào mức độ đa dạng hóa phù hợp. Kết quả cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa đa dạng hóa thu nhập (HHI) và rủi ro phá sản (Z-Score), với điểm tối ưu tại HHI=0.55. Ngân hàng có mức độ đa dạng hóa nằm trong khoảng 0.4-0.6 có khả năng chống chịu rủi ro tốt hơn trong giai đoạn khủng hoảng. Nghiên cứu cũng chỉ ra tầm quan trọng của quy mô ngân hàng và năng lực quản trị rủi ro trong việc tối ưu hóa tác động của đa dạng hóa thu nhập. Kết quả này cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách đa dạng hóa thu nhập tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.

4.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy GMM với dữ liệu bảng giai đoạn 2005-2017 cho 28 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Kết quả chính cho thấy đa dạng hóa thu nhập có tác động giảm rủi ro phá sản khi chỉ số HHI nằm trong khoảng 0.4-0.6. Mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và rủi ro là phi tuyến, với điểm uốn tại HHI=0.55. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đa dạng hóa thu nhập tác động tích cực đến khả năng sinh lời (ROA) trong cùng khoảng HHI. Kết quả kiểm định Hausman ủng hộ sử dụng mô hình hiệu ứng cố định (FEM) cho nghiên cứu này.

4.2. Khuyến nghị chính sách

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nên xây dựng hướng dẫn cụ thể về mức độ đa dạng hóa thu nhập phù hợp cho từng nhóm ngân hàng dựa trên quy mô và năng lực quản trị rủi ro. Các ngân hàng cần tăng cường tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản lên tối thiểu 10% để tăng cường khả năng chống chịu rủi ro. Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm về rủi ro phát sinh từ hoạt động đa dạng hóa thu nhập. Các hiệp hội ngân hàng nên tổ chức các khóa đào tạo về quản trị rủi ro trong hoạt động đa dạng hóa thu nhập cho đội ngũ lãnh đạo ngân hàng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Tài liệu luận văn tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận.

7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2. M t số khái niệm cơ ản 2. Khái niệm về thu nhập của Ngân hàng thƣơng mại Thu nhập của NHTM bắt nguồn từ các khoản thu do các sản phẩm, dịch vụ và nghiệp vụ của NHTM mang lại, tuy nhiên căn cứ vào tính chất thị trường về tổng quát có thể chia thành hai loại: thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi. Thu nhập lãi Là các khoản thu nhập có tính chất lãi suất.

Các khoản thu nhập này không phụ thuộc vào tình hình hoạt động kinh doanh của các bên tham gia mà chỉ phụ thuộc vào số tiền và mức lãi suất được thỏa thuận trong hợp đồng giữa hai bên, hay nói khác hơn là phụ thuộc vào thị trường lãi suất, như thu lãi tín dụng, thu lãi trái phiếu chính phủ, thu lãi trái phiếu hay lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác. Đối với các khoản thu nhập lãi này thì trong NHTM, khoản thu lãi tín dụng chiếm tỷ trọng lớn và là khoản thu quan trọng nhất bởi lẽ hoạt động tín dụng là hoạt động chính của NHTM. Thu nhập ngoài lãi Là tất cả các khoản thu nhập còn lại khác của NHTM không phụ thuộcvào thị trường lãi suất, bao gồm: - Các kho n thu t phí dịch vụ và hoa hồng: Các khoản thu phí bảolãnh, phí mở thư tín dụng, phí thu hộ, phí chi hộ, phí chuyển tiền, phídịch vụ thanh toán… và các khoản hoa hồng như hoa hồng nghiệp vụ“bancassurance” là nghiệp vụ NHTM kết hợp với các công ty bảo hiểmđể bán các sản phẩm bảo hiểm. - Các kho n thu t hoạt động thương mại:Là các khoản thu phát sinhtừ hoạt động kinh doanh mua bán của NHTM, có thể kể như kinhdoanh mua bán chứng khoán, kinh doanh mua bán vàng, kinh doanhmua bán ngoại hối… - Các kho n thu t hoạt động đầu tư: Là các khoản thu đầu tư như thutừ chứng khoán đầu tư hay thu từ góp vốn thành lập công ty ví dụ nhưthành lập công ty con.

Ở các NHTM Việt Nam phổ biến là thành lậpcác Công ty chứng khoán, bất 8 động sản, cho thuê tài chính, bảo hiểm.ho c góp vốn thành lập mới ho c mua lại cổ phần trong các doanhnghiệp hay liên doanh với các doanh nghiệp khác thành lập công ty liên doanh. Lợi nhuận được chia cuối năm của các công ty này gópphần tạo nên khoản thu đầu tư cho NHTM - Các kho n thu khác:Là các khoản thu từ các hoạt động không thường xuyên ho c mang tính bất thường do ví dụ như các khoản thu về từ nghiệp vụ mua bán nợ, thanh lý tài sản,… 2. Khái niệm về đa ạng hóa thu nhập của NHTM Trong hoạt động kinh doanh, các NHTM luôn thực hiện việc đa dạng hóa thu nhập Đa dạng hóa thu nhập là quá trình làm phong ph và đa dạng các nguồn thu nhập của ngân hàng thông qua việc đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ, nghiệp vụ NHTM và các hoạt động kinh doanh khác màluật pháp không cấm. Vì thế đa dạng hóa thu nhập đồng nghĩa với việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, nghiệp vụ ngân hàng và các hoạt động khác nhằm mục đích gia tăng thu nhập tìm kiếm lợi nhuận.

Các phƣơng thức đa ạng hóa thu nhập của NHTM Theo khái niệm trên rõ ràng việc đa dạng hóa thu nhập gồm ba phương thức hoạt động chính là mở rộng sản phẩm, mở rộng các nghiệp vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác, vì thế hiện nay trên thế giới người ta phân chia các phương thức đa dạng hóa thu nhập gồm: Đa dạng hóa thu nhập thông qua việc mở rộng các chủng loại sản phẩm dịch vụ, đa dạng hóa thu nhập thông qua việc mở rộng thị trườngvà đa dạng hóa hoàn toàn theo Lipczynski và các đồng tác giả (2005, trang 593). Trong các vấn đề kinh tế hiện nay, người ta thường thiên về hướng tiếp cận đo lường và định lượng, vấn đề nào muốn quản lý được thì phải đo lường được, có đo lường được thì mới quản lý được Theo hướng tiếp cận này, vấn đề đa dạng hóa đã được nhiều chuyên gia kinh tế trên thế giới nghiên cứu và đưa ra nhiều cách đo lường. Trong một nghiên cứu, JacobA.Biker và Katharina Haaf (A.Bikker, et al., 2002) đã liệt kê 10 chỉ số đo lường đa dạng hóa trong ngành công nghiệp ngân hàng 9 do nhiều tác giảt rước đây đã nghiên cứu bao gồm: (1) Chỉ số k bank - Concentration Ratio(CRk); (2) Chỉ số Herfindahl-Hirschman Index (HHI); (3) Chỉ số Hall-Tideman Index (HTI); (4) Chỉ số Rosenbluth Index (RI); (5) Chỉ sốComprehensive Industrial Concentration Index (CCI); (6) Chỉ số Hannahand Kay Index (HKI); (7) Chỉ số U Index (U); (8) Chỉ số MultiplicativeHause Index (Hm); (9) Chỉ số Additive Hause Index (Ha); (10) Chỉ số Entropy Diversification Index (EDI). Rủi ro ngân hàng Rủi ro là một khái niệm phổ biến, hầu như ai cũng có thể biết đến phạm trù này Tuy nhiên cho đến nay lại không có một khái niệm thống nhất nào về rủi ro.

Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những khái niệm rủi ro khác nhau. Những khái niệm này rất phong ph và đa dạng và khó có thể dẫn chứng hết được, tuy nhiên có thể tóm lược các nội dung chính trong tất cả các khái niệm về rủi ro bao gồm các ý: - Rủi ro là một sự không chắc chắn là một tình trạng bất ổn với nhiều khả năng có thể xảy ra. - Trong các khả năng có thể xảy ra có ít nhất một khả năng đem lại một kết quả không mong muốn. - Kết quả không mong muốn khi xảy ra có thể gây ra tổn thất, thiệt hại cho đối tượng g p rủi ro.

Hiện nay, trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, khái niệm rủi ro được định nghĩa một cách cụ thể hơn là: “Rủi ro là kh năng x y ra tổn thất gây ra bởi các sự kiện không mong muốn và tổn thất này chính là sự khác biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng” Như vậy với định nghĩa rủi ro như trên các rủi ro phải ước đoán được xác suất xảy ra và các tổn thất được đo lường bằng sự khác biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng Hay nói khác hơn trong lĩnh vực tài chính ngân hàng khi nói đến rủi ro là nói đến quan hệ giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng. Lợi nhuận kỳ vọng chính là lợi nhuận trung bình có trọng số là xác suất xảy ra các giá 10 trị lợi nhuận, và sự khác biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng được đo lường bởi độ lệch chuẩn Độ lệch chuẩn chính là thước đo của rủi ro. Phân loại rủi ro Rủi ro của NHTM rất đa dạng và có thể được phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau. Một số loại rủi ro của NHTM cũng giống như các doanh nghiệp khác như rủi ro pháp lý, rủi ro chiến lược, rủi ro năng lực… và các loại rủi ro xét đến cùng là sự tổn thất là sự sụt giảm lợi nhuận.

Tại NHTM có 4 loại rủi ro cơ bản gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và rủi ro thanh khoản (Rose, 1999). Trong bài nghiên cứu này, tác giả xem xét đến rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam Đây là rủi ro tổng thể bao gồm các loại rủi ro trên nhằm đánh giá tác động của đa dạng hóa cấu tr c thu nhập đến nguy cơ phá sản của các NHTMCP Việt Nam 2. Đo lƣờng rủi ro Việc đo lường rủi ro phá sản đối với các NHTM là hết sức cần thiết bởi lẽ chấp nhận rủi ro là trung tâm của hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng cần đo lường các rủi ro làm cơ sở cho việc đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận.

Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý, kiểm soát được vànằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính của ngân hàng. Qua việc phân tích các loại rủi ro cơ bản trên ta có thể thấy được đây là những rủi ro tất yếu và không thể loại trừ của NHTM, những loại rủi ro này khi xảy ra đều mang lại tổn thất về lợi nhuận cho NHTM Đối với từng loại rủi ro cơ bản trên, người ta đều có cách lượng hóa để đo lường chúng, tuy nhiên trong mục tiêu nghiên cứu của đề tài này chính là đo lường mức độ rủi ro phá sản hay rủi ro tổng thể của NHTM Theo định nghĩa rủi ro đã nêu, đo lường mức độ rủi ro chính là đo lường độ tổn thất mà rủi ro gây ra và mức độ tổn thất này được đo bằng sự chênh lệch giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng trong đó độ lệch chuẩn là thước đo Hiện nay nhiều nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới khi nghiên cứu về rủi ro phá sản của NHTM thường sử dụng chỉ số Z-Score hay c n gọi là chỉ số hiệu 11 chỉnh rủi ro làm công cụ để đo lường mức độ rủi ro phá sản ngân hàng. Theo nghiên cứu của Sissy và cộng sự 2016 và nghiên cứu của Kohler 2013 (được đăng trên SJR: www.com) thì chỉ số Z-Score được tính như sau: ̅̅̅̅̅̅ ̅̅̅̅̅̅ Trong đ Z-Score: Chỉ số hiệu chỉnh rủi ro; ̅̅̅̅̅̅: Lợi nhuận sau thuế trên Tổng tài s n bình quân của hai năm liền kề; ̅̅̅̅̅̅: Bình quân vốn chủ sở hữu của 2 năm liền kề trên tổng tài s n bình quân của 2 năm liền kề. Chỉ số Z-Score được tính dựa trên tổng số các số bình quân của lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản và vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (vì rủi ro được tính trong thời kỳ còn ROA, E, A trên báo cáo tài chính là số thời điểm nên tác giả đã lấy số bình quân) Đối với một NHTM, tại một thời điểm tổng vốn chủ sở hữu và lợi nhuận sau thuế có được là tất cả nguồn lực của chủ sở hữu.

Do vậy chỉ số Z-Score không chỉ đo lường mức độ rủi ro mà c n đo lường khả năng phá sản khánh kiệt hay phá sản của NHTM. Chỉ số Z_Score biến thiên nghịch chiều với mức độ rủi ro phá sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Trương Phạm Hồng Hạnh (2018), Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam giai đoạn 2005 – 2017, Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.
APA 7
Trương, P. H. H. (2018). Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam giai đoạn 2005 – 2017 [Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/tai-lieu-luan-van-tac-dong-cua-da-dang-hoa-thu-nhap-den-rui-ro/9443586357
IEEE
P. H. H. Trương, "Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam giai đoạn 2005 – 2017," Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 2018. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/tai-lieu-luan-van-tac-dong-cua-da-dang-hoa-thu-nhap-den-rui-ro/9443586357

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác