LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Tại Việt Nam, Tài chính vi mô bắt đầu từ những năm 1980, qua hơn 30 năm hoạt động liên tục, bước đầu được ghi nhận phầnđóng góp quan trọng trong sự nghiệp hỗ trợ xoá đói giảm nghèo. Tài chính vi mô tiếp cậnvới khách hàng trọng tâm là người nghèo và rất nghèo trên phạm vi cả nước, đặc biệt ởxã vùng sâu, vùng xa nơi mà các ngân hàng thương mại chưa hiện diện. Để xóa đói giảm nghèo hiệu quả, một trong số giải pháp được Chính phủ coi trọng là tăng cường năng lực và khả năng tiếp cận nguồn vốn của người nghèo, giảm mức độ tổn thương của họ, đặc biệt vào những thời điểm nhạy cảm của nền kinh tế như lạm phát hoặc suy thoái.
Với mục tiêu này, hoạt động TCVM đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường, mở rộng tiếp cận tài chính cho khu vực nông thôn và người nghèo đô thị. TCVM ở nước ta được hiểu là Tài chính quy mô nhỏ, hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo. TCVM đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế xét theo khía cạnh sau đây:(i) Cung cấp dịch vụ tài chính cho xã hội thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho người nghèo như tín dụng, thanh toán, bảo hiểm., mục tiêu của TCVM được xác định rõ từ đầu đó là người nghèo, đối tượng khách hàng này thường không phải trọng tâm củangân hàng thương mại, công ty tài chính chính thức; (ii) Góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của hệ thống tài chính, góp phần bổ sung một nguồn cung vốn tiềm năng, phục vụ cho đối tượng khách hàng mà trước đó chưa được quan tâm đầy đủ từnhà cung cấp tài chính chính thức; (iii) Sự phát triển nhanh chóng của TCVM thường đi cùng với việc xóa đói giảm nghèo hiệu quả tại những địa phương mà TCVM hiện diện, 2 không chỉ cung cấp dịch vụ tín dụng phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất của người nghèo mà còn cung cấp các dịch vụ quản lý rủi ro khác.40] Nhờ các chương trình của Chính phủ mà phần đông hộ nghèo đã có một số lần nhận được vốn vay từ nhiều nguồn khác nhau như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách Xã hội, Quỹ Tín dụng Nhân dân - là tổ chức tài chính quy mô lớn, cung cấp dịch vụ đa dạng, trong đó một phần theo chỉ định của Chính phủ nhằm hỗ trợ người nghèo. Tuy nhiên, trên thực tế nhu cầu tìm đến nguồn vốn của người nghèo vẫn còn rất lớn và chưa được đáp ứng đầy đủ, kịp thời; đòi hỏi chương trình TCVM cần nỗ lực hơn nữa.38] Việt Nam cơ bản vẫn là nước nông nghiệp (trên dưới 70% dân số) cư trú ở khu vực nông thôn với lực lượng lao động trẻ, dồi dào; chủ yếu sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
Trong quá trình Công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn sẽ diễn ra quá trình phân công lại lao động từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp, dịch vụ; do vậy nhu cầu về vốn và dịch vụ tài chính đòi hỏi ngày càng lớn, đặc biệt hộ nghèo, vốn cho sản xuất - xóa nghèo trở thành yêu cầu cấp bách. Thực tế đã chứng minh đa số hộ nghèo nhờ tiếp cận nguồn vốn - phát triển sản xuất và đời sống được cải thiện khá lên rõ rệt. Tỉnh Đồng Nai nằm trong vùng trọng điểm kinh tế Đông Nam Bộ, đã và đang đạt kết quả tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trong thời gian dài, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của Tỉnh có cải thiện đáng kể, duy trì ở mức cao hơn trung bình cả nước. Tuy nhiên đời sống người dân nông thôn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc còn khó khăn; chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn còn lớn.
Vấn đề mới nổi lên gần đây nhưng không kém phần quan trọng đó là số người nghèo đô thị tăng nhanh cùng với tốc độ đô thị hoá. Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà Nước, trong những năm qua, XĐGN tại Đồng Nai đã thực sự được các cấp, các ngành địa phương quan 3 tâm, chỉ đạo, hỗ trợ thực hiện; qua đó, xuất hiện nhiều mô hình, điển hình XĐGN có hiệu quả. Tuy nhiên, trong phát triển kinh tế nói chung và công cuộc XĐGN nói riêng, thành công trong quá khứ chưa đủ để đảm bảo cho thành công trong tương lai, đặc biệt, cuộc chiến chống đói nghèo trong giai đoạn tới đang có nhiều dấu hiệu sẽ trở nên khó khăn hơn. Trên địa bàn Tỉnh, 100% xã, phường đã tiếp cận dịch vụ của NHCSXH, tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc người nghèo dễ dàng tiếp cận vốn vay.
Trong 30 năm gần đây, các hình thức cơ bản nhất của TCVM đã xuất hiện với quy mô nhỏ lẻ trên địa bàn Tỉnh, tuy nhiên TCVM thường hình thành và kết thúc dưới dạng dự án thử nghiệm, không có sự đầu tư, kế thừa. Đây cũng là nguyên nhân chính giải thích vì sao hiện nay trên địa bàn Đồng Nai chưa xuất hiện một tổ chức TCVM thực sự đúng nghĩa, so với địa phương lân cận như Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu thì kinh nghiệm về TCVM tại Đồng Nai còn rất khiêm tốn. Thực tiễn phát triển TCVM trên thế giới và Việt Nam đã chỉ ra rằng: mỗi địa phương có đặc thù riêng, việc xây dựng, phát triển TCVM cần quá trình phân tích, đánh giá, chọn lọc, thử nghiệm tìm ra mô hình, phương thức hoạt động phù hợp, hiệu quả, từ đó sẽ dần mở rộng quy mô. Cùng với chiến lược phát triển TCVM chung của cả nước, Đồng Nai cũng không nằm ngoài xu thế đó.
Như vậy, trên phạm vi chung cả nước và riêng Đồng Nai, TCVM đã hình thành - phát triển dưới nhiều hình thức phong phú (chính thức, bán chính thức, phi chính thức), tuy nhiên còn bộc lộ một số hạn chế nhất định, cần được nghiên cứu để bổ sung hoàn thiện. Từ thực tiễn khách quan và chủ quan đó mà tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu : ―Tài chính vi mô hỗ trợ xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Đồng Nai đến năm 2020‖. Tổng quan nghiên cứu của đề tài Nhiều công trình nghiên cứu về TCVM đãđược công bố trên thế giới và Việt Nam từ trước đến nay, những công trình này được tìm thấy từ các nguồn đáng tin cậy như: Thư viện Quốc gia, thư viện tỉnh, trường đại học, viện nghiên cứu, trang web của các tổ chức có uy tín như: Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Tổ chức Lao động thế giới cũng như hiệp hội TCVM. Trên cơ sở tiếp cậnmột số công trình nghiên cứunày tác giả thực hiện phần tổng quan tình hình nghiên cứu với kết cấu chia thành hai phần: Tình hình nghiên cứu quốc tế và trong nước.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế (1) Hafiz A.Palanivel trong ấn phẩm ―Chính sách và tăng trưởng vì người nghèo – Kinh nghiệm châu Á‖ [16, tr.6] cho rằng: Việc theo đuổi tăng trưởng phải đi kèm với nỗ lực đạt được tăng trưởng vì người nghèo thông qua việc tái phân bổ tài sản, thu nhập trong nền kinh tế, điều này đem lại ý nghĩa lớn trong xác định bản chất chiến lược chống đói nghèo.
Thực tế một số quốc gia có tốc độ giảm nghèo hạn chế trong khi thành tích tăng trưởng kinh tế đầy ấn tượng, còn số khác lại đạt tốc độ giảm nghèo cao đi cùng tăng trưởng kinh tế lại tương đối thấp.2]cho rằng:Trên thế giới, ngân hàng nhà nước đã cố gắng để cung cấp các khoản vay cho hộ gia đình người nghèo; kết quả thường được nhắc tới sau cùng làtham nhũng, không hiệu quả và hàng triệu đô la trợ cấp lãng phí. Bên cạnh đó, lý thuyết kinh tế còn cung cấp phong phú những cảnh báo ủng hộ việc không nên cho vay đối với hộ gia đình có thu nhập thấp, thiếu tài sản thế chấp. Thành công của Muhammad Yunus và ngân hàng Grameen trong lĩnh vực TCVM tác động mạnh đến sự xem xét lại các giả định về hộ gia đình 5 nghèo thực hiện tiết kiệm, xây dựng tài sản vàlàm thế nào để tổ chức TCVM vượt qua thất bại thị trường.7] đã phát hiện thực tế rằng: Nghèo đói được nhìn nhận không phải là sản phẩm tạo ra bởi người nghèo, nhưng chắc chắn họ được xem như nhân tố chính trong cuộc chiến chống lại đói nghèo, vai trò của TCVM và doanh nghiệp xã hội có thể là chìa khóa mở rộng tiềm năng này; trong đó cần công nhận “tín dụng” như một quyền cơ bản của con người. (4) Regina Galang, Susie Margolin, trường đại học Harvard đã viết về ―Tài chính vi mô và doanh nghiệp xã hội: Quỹ Phát triển kinh doanh Nam Thái Bình Dương‖ (Microfinance and Social Entrepreneurship: South Pacific Business Development Foundation), tác giả cho rằng TCVM là sự giúp đỡ một cách sáng tạo các khu vực ít nhận được sự quan tâm, nó cung cấp một cơ hội cho người nghèo không chỉ để nâng cao tiêu chuẩn sống, lòng tự trọng mà còn giúp họ có thểkiếm sống, làm việc theo cách của riêng của mình [52, tr.
(5) Monique Cohen trong nghiên cứu ―Khung khái niệm và đánh giá tác động của dịch vụ doanh nghiệp vi mô‖(Conceptual framework or assessing the impacts of microenterprise services), chỉ ra rằng: khi tất cả hộ gia đình, người nghèo và người không nghèo phải đối mặt rủi ro thì hộ gia đình nghèo dễ bị tổn thương hơn bởi vì họ có ít tài nguyên; các sự kiện nhỏ biến thành cuộc khủng hoảng kinh tế lớn, đôi khi được gọi là "Bẫy nghèo"[58, tr. TCVM có thể hỗ trợ hộ nghèo phá vỡ chu kỳ, tạo điều kiện thuận lợi cho tích lũy tài sản, đa dạng hóa các nguồn thu nhập, giúp đỡ các hộ gia đình tự bảo vệ mình khỏi rủi ro cũng như đối phó với cú sốc khi chúng xảy ra.5], đã phân tích ảnh hưởng của TCVM tới giảm nghèo, chứng minh TCVM là một công cụ hiệu quả, mạnh mẽ nhằm xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, giống như nhiều công cụ phát triển khác, nó không đủ thâm nhập sâu vào các tầng lớp nghèo trong xã hội. Hiệu quả tài chính tuyệt vời không bao hàm sự xuất sắc trong tiếp cận cộng đồng của hộ gia đình người nghèo, TCVM không phải dành cho tất cả mọi người và không phải tất cảkhách hàng tiềm năng đều bình đẳng khi tiếp cận TCVM.
Người nghèo bị bệnh tâm thần, người tàn tật, mất sức lao động.