Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và khung phân tích hoạt động tái cau trúc doanh nghiệp nhà nước ngành xây dựng. Chương 2: Cơ sở lý luận về tái cau trúc doanh nghiệp nhà nước Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu Chương 5: Hàm ý, giải pháp và khuyến nghị Phần kết luận 10 CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG PHAN TÍCH HOAT DONG TAI CÁU TRÚC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC NGÀNH XÂY DỰNG Tái cấu trúc DNNN tại Việt Nam nói chung và DNNN ngành Xây dựng nói riêng nhằm giúp cho các doanh nghiệp này nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường, va tăng hiệu quả tài chính và phi tai chính của doanh nghiệp. Các hình thức tái cau trúc DNNN tương đối đa dạng bao gồm sáp nhập, hợp nhất, chuyên giao doanh nghiệp, chuyền giao dự án, cổ phần hoá, giao, bán doanh nghiệp. trong đó cổ phần hoá DNNN là phô biến và rất được chú trọng.
Nhìn chung, hoạt động tái cầu trúc DNNN tại Việt Nam đã có được những kết quả tích cực. Cụ thể là trong giai đoạn từ năm 2011 đến hết năm 2016, cả nước đã cô phần hóa được 554 doanh nghiệp. Tính đến hết năm 2016, cả nước đã cô phần hóa được 4. Trong đó có 1 tập đoàn kinh tế, 47 tổng công ty nhà nước và nhiều DNNN có quy mô lớn và ngành nghề kinh doanh đa dạng.
Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp được sắp xếp, chuyên đổi nhiều nhưng ty lệ vốn Nha nước còn nắm giữ vẫn cao, chưa thực sự đạt được mục tiêu về đôi mới quản trị, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp sau cô phần hóa đã để xảy ra thất thoát vốn, tài sản nhà nước trong quá trình tái cau trúc, cô phần hóa doanh nghiệp. Thực tế nghiên cứu cho thấy có nhiều nguyên nhân dẫn tới những khó khăn và rào cản trong quá trình thực hiện tái cấu trúc và cải cách DNNN ở Việt Nam như năng lực quản lý của ngũ lãnh đạo DNNN chưa cao, tâm lý lo ngại sau tái cấu trúc giảm ưu đãi từ phía nhà nước, khung pháp lý chưa 6n định, chưa rõ ràng, cơ chế công khai, minh bạch thông tin, kiểm tra, kiểm duyệt thông tin báo cáo còn thiếu, không nhiều doanh nghiệp đủ năng lực tài 11 chính dé sử dụng các dich vụ tư vấn tái câu trúc chuyên nghiệp, việc xử lý số nợ tồn đọng của các tập đoàn, tông công ty lớn gặp nhiều khó khăn, hay nhận thức chưa đầy đủ về sự đổi mới. Theo đánh giá của nghiên cứu sinh, một nguyên nhân khác có thé gây ra những khó khăn và rào cản trong tái cấu trúc DNNN là do thiếu những kết quả nghiên cứu khoa học về chủ đề này đề các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý doanh nghiệp tham khảo.
Đối với hoạt động tái cau trúc DNNN ngành xây dựng, hiện có rất ít các nghiên cứu về chủ đề này. Chính vì vậy mà hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp nói chung và tái cau trúc các doanh nghiệp theo lĩnh vực quản lý chuyên ngành nói riêng đã và đang là những van đề được nhiều học giả, nhà nghiên cứu, nhà quan lý trong và ngoai nước, là đề tài được hội thảo tại nhiều hội nghị trong nước và quốc tế dé cập tới. Dé góp phần vào việc cung cấp thêm các luận cứ khoa học cho các nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý doanh nghiệp nói chung và ngành xây dựng nói riêng, trong chương này, nghiên cứu sinh sẽ thực hiện nghiên cứu tông quan từ các công bố quốc tế và trong nước liên quan đến hoạt động tái cau trúc các doanh nghiệp ngành xây dựng nhằm chỉ ra những mặt được và hạn chế của các nghiên cứu khoa học trước đây về chủ đề nghiên cứu của luận án, góp phần chỉ ra những khoảng trống nghiên cứu. Tiếp đó, nghiên cứu sinh sẽ trình bày bối cảnh thực tiễn tái cấu trúc các doanh nghiệp ngành xây dựng nhằm chỉ ra những mặt thành công và hạn chế của quá trình tái cấu trúc các doanh nghiệp ngành xây dựng.
Kết hợp nghiên cứu tổng quan từ các nghiên cứu khoa học về cùng chủ đề và bối cảnh thực tiễn tái câu trúc doanh nghiệp ngành xây dựng Việt Nam, nghiên cứu sinh sẽ đánh giá và chọn lọc các khía cạnh cốt lõi của hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp ngành xây dựng Việt Nam nhằm đề xuất khung phân tích mối quan hệ giữa hoạt động tái cấu trúc DNNN ngành xây dựng và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Từ khung 12 phân tích này, nghiên cứu sinh sẽ phát triển các giả thuyết phục vụ cho nghiên cứu luận án tiễn sĩ. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu quốc tế Tái cấu trúc doanh nghiệp nói chung và tái cấu trúc doanh nghiệp theo lĩnh vực quản lý chuyên ngành nói riêng đã và đang là những vấn đề được nhiều học giả và nhà nghiên cứu quốc tế quan tâm nghiên cứu.
Chủ đề này cũng là đề tài được nhiều hội thảo quốc tế đề cập tới. Sau đây nghiên cứu sinh sẽ thực hiện phân tích tổng quan một số nghiên cứu được các học giả quốc tế công bố trong thời gian vừa qua về chủ dé này. Simeon Djankov va Peter Murrell (2000) đã khảo sát, đánh giá, nghiên cứu và tong hợp các bang chứng thông qua khảo sát doanh nghiệp về các yếu tố quyết định trong quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp trong giai đoạn chuyên đối. Nghiên cứu đã cung cấp các bình luận về hiệu quả của các chính sách cải cách khác nhau đối với doanh nghiệp.
Báo cáo cũng nhấn mạnh đến một số van đề như: tầm anh hưởng của tư nhân; tầm quan trọng của sở hữu; vai trò của quan lý trong van đề về nguồn nhân lực, tác dung của phần mềm, ngân sách, ảnh hưởng của cạnh tranh và vai trò của các tổ chức trong quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp. Mark Stone (2002), khi nghiên cứu về vai trò của chính phủ đối với hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp chi ra rằng tái cau trúc doanh nghiệp trên quy mô lớn là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất đối với các nhà hoạch định chính sách kinh tế. Sự thành công của tái cấu trúc đòi hỏi một chính phủ đi đầu trong việc thiết lập các ưu tiên tái cấu trúc, giải quyết thất bại thị trường, cải cách hệ thống pháp lý và thuế, và có lẽ quan trọng nhất là đối phó với các vật cản lớn gây ra bởi các nhóm lợi ích. Một số bài học về tái cấu trúc doanh nghiệp đã chỉ ra trong nghiên cứu này như: (¡) Chính phủ cần 13 hỗ trợ môi trường kinh tế vi mô và pháp lý cho tái cấu trúc; (ii) tái cấu trúc phải dựa trên một chiến lược toàn diện và minh bạch bao gồm tái cấu trúc doanh nghiệp và tài chính; (iii) mục tiêu tái cau trúc phải được nêu rõ ngay từ đầu và xác định tái cấu trúc sẽ gây tổn thương cho một số nhóm có liên quan; (iv) cơ cau lại doanh nghiệp quy mô lớn cần trung bình tối thiểu năm năm dé hoàn thành.
Michael Hammer và James A. Champy (2006), “Reengineering the corporation, reengineering management, and the agenda” cho rằng tái cấu trúc doanh nghiệp là việc xem xét và cấu trúc lại một phần, một số phần hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị nào đó. Cụ thé, doanh nghiệp có thé tái cấu trúc chiến lược, tái câu trúc đội ngũ nhân sự, tai cấu trúc tài chính hay thay đổi cơ cấu sở hữu doanh nghiệp. Ngoài việc sắp xếp lại doanh nghiệp theo chức năng thực hiện, nhóm tác giả còn quan tâm đến việc tái cau trúc các quy trình thực hiện hay hoạt động như cấu trúc lại từ khâu tìm kiếm các nhân tố đầu vào, cho tới các khâu sản xuất, tiếp thị và phân phối.
Quá trình tái cấu trúc cần có kế hoạch và lộ trình rõ ràng dé quá trình tái cầu trúc được hiệu quả. Nikolai Rogovsky va cộng sự (2005), “Restructuring for corporate success: A socially sensitive aproach” tập trung phân tích những van dé của tái cầu trúc doanh nghiệp liên quan đến người lao động. Đây là những vấn đề rất nhạy cảm trong quá trình tái câu trúc doanh nghiệp. Nhóm tác giả cho rằng (i) tái câu trúc với sự tỉnh giản biên chế có tác động tích cực và cả tiêu cực đến hoạt động của doanh nghiệp.
(ii) tái cấu trúc sẽ diễn ra suôn sẻ nếu nó được dựa trên một thỏa thuận hợp tác giữa người lao động với người sử dụng lao động và Chính phủ; (iii) sự hỗ trợ về chính sách đối với hoạt động tái cầu trúc doanh nghiệp là rất quan trọng và góp phần mang lại thành công cho hoạt động tái cấu trúc. Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện hoạt động tái cấu trúc, các doanh nghiệp cần thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 14 thông qua khía cạnh quan tâm đến người lao động, hạn chế sa thải dé lao động thất nghiệp ảnh hưởng đến xã hội. John Michaelson (2002), “Restructuring for Growth: Alternative Financial Strategies to Increase Shareholder Value” đã nghiên cứu hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp tập trung vào vốn chủ sở hữu va tai sản của các công ty con đang hoạt động trong tập đoàn. Nghiên cứu này cũng chỉ ra cách thức sử dụng tối đa hóa nguồn vốn và tài sản để tạo ra giá trị, đồng thời cung cấp chỉ tiết các mục tiêu, cơ hội, thách thức đối với các công ty con và hiệu quả trong việc thực hiện tái cấu trúc.
Một số gợi ý chiến lược cho doanh nghiệp trong quá trình tái cấu trúc như tập trung vào một số sản phẩm phụ, sản phẩm khác biệt, quản lý hàng tồn kho, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn băng cách hợp tác với các nhà đầu tư, hoặc liên minh hoặc sáp nhập doanh nghiệp nhằm tận dụng thế mạnh của mỗi bên trong quá trình hoạt động và kinh doanh. Trong nghiên cứu của mình về tái cấu trúc ngành xây dựng tại Trung Quốc, Sha (2000) cho răng quá trình tái cấu trúc DNNN ngành xây dựng Trung Quốc tập trung vào: (i) Thiết lập cơ chế điều hành phần vốn nhà nước trong DNNN tách biệt khỏi chức năng điều tiết của chính quyền. Tach riêng công tác quản lý xây dựng khỏi việc kinh doanh xây dựng dé các DNNN ngành xây dựng tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh.