Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh (mã số 62 34 01 02) của tác giả Phạm Đình Cường, được thực hiện tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 dưới sự hướng dẫn của PGS. Võ Phước Tấn và PGS. Phạm Đình Long, nghiên cứu đề tài: "Tái cấu trúc và năng suất lao động doanh nghiệp – Nghiên cứu ngành dệt may Việt Nam".

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, khi chi phí lao động của doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng tăng lên trong khi năng suất lao động doanh nghiệp (NSLĐDN) có xu hướng chững lại. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 31/12/2018, Việt Nam có 758.510 doanh nghiệp đăng ký nhưng chỉ có 610.608 doanh nghiệp đang hoạt động, còn lại 147.902 doanh nghiệp đã giải thể hoặc tạm ngưng hoạt động. Trong nền kinh tế, ngành dệt may đóng vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn mang lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong giai đoạn 10 năm (2009–2018). Tuy nhiên, ngành này đối mặt với thực trạng NSLĐDN ở mức thấp, chủ yếu thực hiện gia công cho nước ngoài (hình thức CMT chiếm trên 85%), tỷ lệ thâm dụng lao động cao và hiệu quả quản lý còn nhiều hạn chế. Theo số liệu từ Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS, 2019), NSLĐDN dệt may Việt Nam chỉ bằng 13% so với Trung Quốc, 58% so với Indonesia, 65% so với Ấn Độ, 66% so với Pakistan và chỉ cao hơn 60% so với Campuchia. Đồng thời, khoảng cách chênh lệch về NSLĐDN giữa ngành dệt và ngành may mặc trong nước duy trì ở mức rất lớn.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định gồm hai phương diện:

  • Về mặt lý thuyết: Hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây về tái cấu trúc doanh nghiệp chỉ tiếp cận đơn lẻ ở một khía cạnh như tái cấu trúc tài chính hoặc hình thức sở hữu vốn; các nghiên cứu về năng suất lao động chủ yếu phân tích ở tầm vĩ mô (năng suất lao động xã hội) bằng các mô hình kinh tế lượng; đồng thời các nghiên cứu về tái cấu trúc chủ yếu đo lường tác động đến hiệu suất hoặc hiệu quả hoạt động tổng thể của doanh nghiệp, chưa có nghiên cứu đi sâu phân tích mối quan hệ tác động trực tiếp giữa tái cấu trúc và NSLĐDN.
  • Về mặt thực tiễn: Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước thường khảo sát trên cỡ mẫu nhỏ, phạm vi một địa phương hẹp hoặc chỉ giới hạn ở các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, thiếu dữ liệu diện rộng phản ánh đầy đủ ngành dệt may trên toàn quốc.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án:

  1. Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN.
    • Phân tích mối quan hệ giữa tái cấu trúc và NSLĐDN, đồng thời đánh giá tác động của tái cấu trúc đến NSLĐDN dựa trên dữ liệu ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2009–2018.
    • Căn cứ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, đề xuất những hàm ý quản trị nhằm nâng cao NSLĐDN ngành dệt may Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Các yếu tố nào hình thành nên tái cấu trúc toàn diện?
  2. Mối quan hệ giữa tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN như thế nào?
  3. Mức độ tác động của tái cấu trúc toàn diện đến NSLĐDN dệt may Việt Nam như thế nào?
  4. Những hàm ý quản trị nào rút ra để nâng cao NSLĐDN dệt may Việt Nam thông qua tái cấu trúc toàn diện doanh nghiệp?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN; mối quan hệ và tác động giữa tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN.
  • Đối tượng khảo sát: Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Luận án giới hạn nghiên cứu ở cấp độ NSLĐDN (không nghiên cứu NSLĐ cá nhân hay NSLĐ xã hội). Bản chất nội hàm NSLĐDN được xác định bằng tỷ số giữa tổng lợi nhuận sau thuế và tổng số lao động bình quân của doanh nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp dệt may hoạt động trên địa bàn cả nước.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 10 năm, từ năm 2009 đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã thực hiện tổng quan hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hai mảng nội dung chính: tái cấu trúc doanh nghiệp và năng suất lao động.

Về lý thuyết tái cấu trúc doanh nghiệp ngoài nước: Khái niệm tái cấu trúc bắt đầu xuất hiện từ thập niên 1980. Micheal (1990) xem tái cấu trúc là việc thiết lập lại các nguồn lực và quy trình cốt lõi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Hammer và Champy (1993) đưa ra định nghĩa tái lập là sự tư duy lại và thiết kế lại quy trình kinh doanh nhằm cải thiện chi phí, chất lượng và tốc độ phục vụ. Bowman và Singh (1993) đề xuất lý thuyết tái cấu trúc toàn diện thông qua việc thay đổi đồng thời 3 khía cạnh: danh mục đầu tư, tài chính và tổ chức. Staniforth (1994) và Gilson (2001) xây dựng khung phân tích tái cấu trúc gắn liền với thay đổi giá trị và hiệu suất doanh nghiệp. Dentchev và Heene (2004), Chadwick, Hunter và Walston (2004), Kinshore (2004), Lebans và Euske (2006), Lin, Lee và Peterson (2006), Barry, Antonio và Shari (2010), Christa và cộng sự (2012), Sulaiman (2012) làm rõ các động cơ, quy trình và áp lực buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc như môi trường kinh doanh thay đổi, chi phí gia tăng, tái bố trí lao động và thoái vốn các mảng hoạt động không hiệu quả.

Các công trình thực nghiệm quốc tế về tái cấu trúc gồm:

  • Charles và Scott (1989): Nghiên cứu thay đổi quy mô vốn sở hữu đối với 122 công ty trong danh mục Fortune 500, chỉ ra tác động của thay đổi quyền sở hữu và đa dạng hóa danh mục đầu tư đến hiệu quả doanh nghiệp.
  • Kang và Shivdasani (1997): Phân tích 92 công ty Nhật Bản giai đoạn 1986–1990 qua các biện pháp bán tài sản, đóng cửa nhà máy và tinh giảm lao động.
  • Susan và Gory (1998): Phân tích hơn 2.000 công ty ở Nga giai đoạn 1992–1995, ghi nhận khoảng 20% doanh nghiệp nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh vượt 25% nhờ tái định vị chiến lược và cải tiến quy trình.
  • Tsung và Hoshino (2002): Nghiên cứu thực nghiệm 86 thương vụ M&A tại Nhật Bản giai đoạn 1970–1994, chứng minh ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận và tinh gọn lao động.
  • Michael, Karl và Sascha (2006): Khảo sát hơn 1.500 doanh nghiệp Đức giai đoạn 1997–2006, ghi nhận tái cấu trúc tài chính giúp lợi nhuận vượt 130% so với mức trung bình ngành.
  • Xiaoyang Li (2011), Higuchi (2004), Menghistu (2017): Phân tích các yếu tố sáp nhập, bộ máy quản lý và chi phí tái cấu trúc.

Về nghiên cứu tái cấu trúc trong nước: Vấn đề tái cấu trúc bắt đầu được quan tâm từ năm 2005. Nguyễn Hữu Long (2008), Hoàng Văn Hoan (2008), Nguyễn Bách Khoa (2010), Đỗ Tiến Long (2013, tiếp cận theo mô hình 7S-McKinsey), Huỳnh Thanh Điền (2014), Trần Hoàng Ngân và Phạm Quốc Việt (2015) tiếp cận tái cấu trúc dưới góc độ kinh tế vĩ mô, chiến lược và tư vấn quản trị. Về mặt thực nghiệm chuyên ngành, Phan Thị Cúc (2013) nghiên cứu tái cấu trúc vốn của các doanh nghiệp dệt may tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2004–2007; Lê Văn Hùng (2016) đánh giá tác động của yếu tố quản lý tới tái cấu trúc doanh nghiệp dệt may; Sử Đình Thành và cộng sự (2017) đo lường tái cấu trúc thông qua các chỉ tiêu tài chính và tài sản.

Về lý thuyết năng suất lao động và mối quan hệ với tái cấu trúc: Bain và Elsheikh (1982), Mai Quốc Chánh và Phạm Đức Thành (2001), Freeman (2008), Steenhuis và Bruijn (2006), Ross và Khawaldeh (2002) hệ thống hóa các khái niệm về NSLĐ, phân định giữa NSLĐ cá nhân, NSLĐ xã hội và NSLĐDN. Về mối quan hệ giữa tái cấu trúc và năng suất, luận án kế thừa các nghiên cứu của John, Lang và Netter (1992), Denis và Kruse (2000), Perry và Shivdasani (2005), Morrison (2007), Đinh Phi Hổ và Phạm Ngọc Dưỡng (2011).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Thay vì nghiên cứu các biện pháp tái cấu trúc đơn lẻ hoặc chỉ đo lường tác động đến doanh thu, tỷ suất sinh lời nói chung, luận án xây dựng mô hình đánh giá tác động của tái cấu trúc toàn diện (tích hợp đồng thời danh mục đầu tư, tài chính và tổ chức) đối với chỉ tiêu NSLĐDN trong ngành dệt may Việt Nam bằng dữ liệu bảng diện rộng cấp quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án lựa chọn lý thuyết tái cấu trúc toàn diện của Bowman và Singh (1993) làm cơ sở lý thuyết nền tảng. Theo lý thuyết này, tái cấu trúc toàn diện là sự thay đổi đáng kể và đồng thời ở cả 3 thành phần:

  1. Tái cấu trúc danh mục đầu tư (Portfolio Restructuring / Asset Restructuring): Quá trình cơ cấu lại tài sản, sáp nhập, mua lại hoặc thoái vốn các mảng kinh doanh kém hiệu quả để tập trung nguồn lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh cốt lõi (kế thừa Brickley và Van, 1990; Jensen, 1991; Perry và Shivdasani, 2005). Chỉ báo đo lường đại diện là tỷ lệ tăng trưởng tổng tài sản của doanh nghiệp.
  2. Tái cấu trúc tài chính (Financial Restructuring): Sự điều chỉnh quy mô và cơ cấu nguồn vốn, tỷ lệ nợ vay, vốn chủ sở hữu nhằm cải thiện khả năng thanh khoản ngắn hạn, tối ưu hóa chi phí vốn và giảm thiểu rủi ro tài chính (kế thừa Milton và Artur, 1990; Lai và Sudarsanam, 1997; William, 2001; Patrick, 2002; Irina và cộng sự, 2010). Chỉ báo đo lường đại diện là tỷ lệ thay đổi tổng nợ hoặc quy mô vốn.
  3. Tái cấu trúc tổ chức (Organizational Restructuring): Quá trình sắp xếp lại cơ cấu bộ máy quản lý, tái phân công lao động, cải tiến phương thức phối hợp công việc nhằm nâng cao hiệu suất vận hành (kế thừa Zajac và Kraatz, 1993; Prechel, 1994; Dentchev và Heene, 2004; Brush và cộng sự, 2000; Fukui và Ushijima, 2007). Chỉ báo đo lường đại diện là tỷ lệ tăng trưởng doanh thu thuần của doanh nghiệp.

Về khái niệm NSLĐDN: Luận án căn cứ vào quan điểm của Mai Quốc Chánh và Phạm Đức Thành (2001) cùng Freeman (2008), xác định NSLĐDN = Tổng đầu ra / Tổng đầu vào. Do đặc thù ngành dệt may Việt Nam có tỷ lệ gia công cao, biên lợi nhuận thấp (thường dưới 5% doanh thu) và lực lượng lao động biến động lớn theo mùa vụ, tác giả sử dụng Tổng lợi nhuận sau thuế làm đại diện cho Đầu ra và Tổng số lao động bình quân làm đại diện cho Đầu vào để hạn chế sai lệch từ số liệu ảo.

Bảng tổng hợp khung lý thuyết nền tảng của luận án:

Thành phần tái cấu trúc Cơ sở lý thuyết kế thừa Bản chất nội dung trong luận án Chỉ báo đo lường đại diện
Tái cấu trúc danh mục đầu tư Bowman và Singh (1993); Brickley và Van (1990); Jensen (1991); Perry và Shivdasani (2005) Thay đổi tổng tài sản, thoái vốn ngoài ngành, tập trung vào lĩnh vực cốt lõi Tỷ lệ tăng trưởng tổng tài sản (%)
Tái cấu trúc tài chính Bowman và Singh (1993); Milton và Artur (1990); Lai và Sudarsanam (1997); Patrick (2002) Tái cơ cấu tỷ lệ nợ vay, vốn chủ sở hữu, kiểm soát rủi ro thanh toán Tỷ lệ tăng trưởng tổng nợ / cơ cấu nợ (%)
Tái cấu trúc tổ chức Bowman và Singh (1993); Zajac và Kraatz (1993); Prechel (1994); Dentchev và Heene (2004) Cải tổ bộ máy, điều chỉnh nhân sự, nâng cao quy mô cung ứng sản phẩm Tỷ lệ tăng trưởng tổng doanh thu (%)

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên dữ liệu bảng (panel data), sử dụng phần mềm STATA để ước lượng và kiểm định mô hình.

Quy trình phân tích dữ liệu thực nghiệm:

  1. Thống kê mô tả các biến tài chính và phi tài chính trong mô hình.
  2. Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến bằng ma trận hệ số tương quan Pearson và hệ số nhân tử phóng đại phương sai (VIF).
  3. Hồi quy mô hình dữ liệu bảng qua các phương pháp cơ bản:
    • Mô hình hồi quy OLS gộp (Pooled OLS).
    • Mô hình tác động cố định (FEM - Fixed Effects Model).
    • Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM - Random Effects Model).
  4. Thực hiện các kiểm định lựa chọn mô hình:
    • Kiểm định F và Breusch-Pagan Lagrange Multiplier để so sánh Pooled OLS với FEM và REM.
    • Kiểm định Hausman (Hausman Test) để lựa chọn giữa mô hình FEM và mô hình REM.
  5. Kiểm định các khuyết tật của mô hình hồi quy:
    • Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity).
    • Kiểm định hiện tượng tự tương quan (autocorrelation) của chuỗi phần dư.
  6. Xử lý khuyết tật mô hình: Sử dụng phương pháp hồi quy với độ lệch chuẩn Driscoll-Kraay (FEM ước lượng sai số chuẩn vững) nhằm kiểm soát đồng thời hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan trong dữ liệu bảng.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu: Dữ liệu thứ cấp gồm 7.640 doanh nghiệp dệt may hoạt động trên cả nước trong giai đoạn 10 năm từ 2009 đến 2018. Dữ liệu được trích xuất từ cơ sở dữ liệu của Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) và đối chiếu với số liệu của Tổng cục Thống kê, bao gồm các chỉ tiêu tài chính (doanh thu, lợi nhuận sau thuế, tổng tài sản, nợ phải trả, vốn FDI, vốn kinh doanh) và chỉ tiêu phi tài chính (số năm hoạt động, số lao động bình quân).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung tổng thể của đề tài nghiên cứu. Tác giả trình bày bối cảnh kinh tế toàn cầu, thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và sự chững lại của NSLĐDN ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2009–2018. Tác giả phân tích số liệu thống kê về sự phân hóa năng suất giữa ngành dệt và ngành may, đồng thời dẫn chứng các báo cáo của VITAS (2019) chứng minh năng suất lao động của ngành dệt may Việt Nam tụt hậu đáng kể so với các quốc gia cạnh tranh trực tiếp như Trung Quốc, Indonesia, Ấn Độ và Pakistan. Trên cơ sở đó, chương này xác định vấn đề nghiên cứu, xây dựng hệ thống 1 mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể và 4 câu hỏi nghiên cứu. Tác giả xác định rõ đối tượng nghiên cứu là tái cấu trúc, NSLĐDN và mối quan hệ giữa chúng trên phạm vi khảo sát 7.640 doanh nghiệp dệt may cả nước trong thời gian 10 năm. Chương 1 cũng khái quát phương pháp nghiên cứu định lượng, nêu rõ 3 đóng góp mới về lý thuyết, 2 đóng góp mới về thực tiễn và kết cấu 5 chương của toàn bộ luận án.

Chương 2. Cơ sở lý thuyết

Chương 2 tập trung xây dựng nền tảng lý luận khoa học cho mô hình nghiên cứu. Nội dung chương chia làm ba phần chính:

  • Tổng quan lý thuyết về tái cấu trúc doanh nghiệp: Phân tích các quan điểm lý thuyết quốc tế từ Micheal (1990), Hammer và Champy (1993), Staniforth (1994) đến Bowman và Singh (1993), kết hợp các nghiên cứu trong nước của Hoàng Văn Hoan (2008), Nguyễn Bách Khoa (2010), Đỗ Tiến Long (2013), Sử Đình Thành và cộng sự (2017). Tác giả luận giải việc lựa chọn lý thuyết tái cấu trúc toàn diện của Bowman và Singh (1993) làm lý thuyết nền, phân tích chi tiết 3 cấu phần: tái cấu trúc danh mục đầu tư, tái cấu trúc tài chính và tái cấu trúc tổ chức.
  • Tổng quan lý thuyết về NSLĐDN: Hệ thống hóa các định nghĩa năng suất lao động theo Bain và Elsheikh (1982), Mai Quốc Chánh và Phạm Đức Thành (2001), Freeman (2008). Phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp đo lường năng suất (bằng hiện vật, bằng giá trị, bằng thời gian lao động); phân biệt NSLĐ cá nhân, NSLĐ xã hội và NSLĐDN. Luận giải việc chọn chỉ tiêu Lợi nhuận sau thuế / Số lao động bình quân làm thước đo đại diện cho NSLĐDN trong ngành dệt may.
  • Mối quan hệ giữa tái cấu trúc và NSLĐDN: Lược khảo các bằng chứng thực nghiệm của John, Lang và Netter (1992), Kang và Shivdasani (1997), Denis và Kruse (2000), Perry và Shivdasani (2005), Phan Thị Cúc (2013), Đinh Phi Hổ và Phạm Ngọc Dưỡng (2011). Nội dung chương được cô đọng qua hệ thống 5 bảng tổng hợp lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm (Bảng 2.1 đến Bảng 2.5).

Chương 3. Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu thực nghiệm:

  • Cơ sở hình thành mô hình nghiên cứu: Kế thừa khung lý thuyết của Bowman và Singh (1993) cùng các mô hình thực nghiệm của Perry và Shivdasani (2005), Sử Đình Thành và cộng sự (2017). Tác giả thiết lập mô hình hồi quy phụ thuộc vào biến NSLĐDN với biến giải thích trung tâm là biến Tái cấu trúc toàn diện (tích hợp 3 yếu tố danh mục đầu tư, tài chính và tổ chức) cùng các biến độc lập và biến kiểm soát như: Doanh thu trên lao động bình quân, Vốn FDI trên lao động bình quân, Vốn kinh doanh trên lao động bình quân, Vòng quay vốn, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu và Tuổi của doanh nghiệp.
  • Quy trình thu thập và xử lý mẫu: Mô tả tập dữ liệu bảng gồm 7.640 doanh nghiệp dệt may trong 10 năm (2009–2018) từ dữ liệu của VITAS và Tổng cục Thống kê.
  • Phương pháp phân tích kinh tế lượng: Quy định quy trình phân tích gồm thống kê mô tả, kiểm tra ma trận tương quan và kiểm định đa cộng tuyến VIF, chạy hồi quy Pooled OLS, FEM và REM. Thiết lập kiểm định Hausman để xác định mô hình tác động cố định (FEM) là mô hình phù hợp hơn mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Trình bày phương pháp kiểm định phương sai sai số thay đổi và kiểm định tự tương quan chuỗi, sau đó đưa ra giải pháp ước lượng vững bằng mô hình độ lệch chuẩn Driscoll-Kraay trên STATA.

Chương 4. Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu

Chương 4 cung cấp kết quả thực nghiệm và thảo luận học thuật:

  • Trình bày kết quả thống kê mô tả các biến nghiên cứu và ma trận tương quan (Bảng 4.1 và Bảng 4.2). Kết quả kiểm tra nhân tử phóng đại phương sai (Bảng 4.3) cho thấy các giá trị VIF đều ở mức thấp, loại trừ nguy cơ đa cộng tuyến nghiêm trọng giữa các biến.
  • Báo cáo kết quả hồi quy qua các bước: Hồi quy Pooled OLS (Bảng 4.4), mô hình tác động cố định FEM (Bảng 4.5), mô hình tác động ngẫu nhiên REM (Bảng 4.7). Kiểm định Hausman (Bảng 4.9 và Bảng 4.10) cho kết quả có ý nghĩa thống kê, bác bỏ giả thuyết H0, qua đó khẳng định mô hình FEM phù hợp hơn REM.
  • Kiểm định khuyết tật: Các kiểm định chuyên biệt xác nhận mô hình FEM gặp phải hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan. Do đó, tác giả sử dụng mô hình hồi quy với độ lệch chuẩn Driscoll-Kraay (Bảng 4.11 và Bảng 4.13) để đưa ra kết quả ước lượng vững chắc nhất.
  • Thảo luận kết quả nghiên cứu: Kết quả khẳng định biến Tái cấu trúc toàn diện có hệ số hồi quy mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê, chứng minh việc tái cấu trúc đồng thời cả 3 yếu tố (danh mục đầu tư, tài chính, tổ chức) giúp gia tăng NSLĐDN ngành dệt may. Các biến Doanh thu trên lao động, Vốn FDI trên lao động và Vốn kinh doanh trên lao động cũng thể hiện tác động cùng chiều có ý nghĩa. Tác giả phân tích sâu cơ chế tác động thông qua các chỉ số quay vòng vốn và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong các doanh nghiệp dệt may (Bảng 4.14 đến Bảng 4.16).

Chương 5. Kết luận, hàm ý quản trị và khuyến nghị chính sách

Chương 5 đúc kết các phát hiện nghiên cứu và đề xuất hàm ý thực tiễn:

  • Tổng kết toàn bộ kết quả nghiên cứu định lượng, khẳng định việc chuyển đổi từ tái cấu trúc đơn lẻ sang tái cấu trúc toàn diện là điều kiện để nâng cao NSLĐDN.
  • Đề xuất hệ thống khuyến nghị và hàm ý quản trị chia thành 4 nhóm chính:
    1. Nhóm khuyến nghị nâng cao NSLĐDN thông qua tái cấu trúc toàn diện: Bao gồm tái cấu trúc danh mục đầu tư (đầu tư công nghệ hiện đại, chuyển dịch từ gia công CMT sang phương thức FOB, ODM, OBM, thoái vốn ngoài ngành); tái cấu trúc tài chính (cân đối tỷ lệ nợ vay, tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn, kiểm soát thanh khoản); tái cấu trúc tổ chức (tinh gọn bộ máy, áp dụng phương thức sản xuất tinh gọn Lean, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực).
    2. Nhóm khuyến nghị nâng cao doanh thu gắn với quy mô lao động hợp lý: Mở rộng thị trường xuất khẩu gắn liền với kiểm soát định mức lao động.
    3. Nhóm khuyến nghị thu hút và tận dụng nguồn vốn FDI: Tiếp thu công nghệ và kỹ năng quản trị từ các dự án FDI dệt may.
    4. Nhóm khuyến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn kinh doanh: Gia tăng tốc độ vòng quay vốn và cơ cấu lại vốn chủ sở hữu hợp lý.
  • Nêu rõ các hạn chế chưa giải quyết được của đề tài và định hướng các nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Bổ sung và phát triển lý thuyết tái cấu trúc trong điều kiện doanh nghiệp tại thị trường đang phát triển: Kế thừa khung lý thuyết của Bowman và Singh (1993), luận án đã xây dựng và kiểm định thang đo biến Tái cấu trúc toàn diện tích hợp đồng thời 3 khía cạnh (danh mục đầu tư, tài chính và tổ chức) thay cho cách tiếp cận phân mảnh, đơn lẻ trước đây.
  • Khỏa lấp khoảng trống nghiên cứu về mối quan hệ giữa tái cấu trúc và năng suất lao động cấp độ doanh nghiệp: Luận án chứng minh mối liên hệ trực tiếp giữa tái cấu trúc toàn diện và chỉ tiêu NSLĐDN (lợi nhuận sau thuế trên lao động bình quân), mở rộng phạm vi nghiên cứu vốn trước đây chỉ tập trung vào hiệu suất tài chính chung hoặc NSLĐ xã hội ở tầm vĩ mô.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm diện rộng: Luận án đã thu thập và xử lý bộ dữ liệu bảng gồm 7.640 doanh nghiệp dệt may đang hoạt động trên phạm vi toàn quốc trong giai đoạn 10 năm (2009–2018). Mẫu nghiên cứu này mang tính đại diện cho toàn ngành dệt may Việt Nam, khắc phục hạn chế về mẫu nhỏ hoặc chỉ khảo sát công ty niêm yết của các nghiên cứu trước.
  • Khẳng định vai trò thực tế của tái cấu trúc toàn diện: Kết quả phân tích hồi quy vững (Driscoll-Kraay) chứng minh hệ số hồi quy của biến tái cấu trúc toàn diện có ý nghĩa thống kê dương đối với NSLĐDN.
  • Đề xuất hệ thống hàm ý quản trị khả thi: Luận án đưa ra 4 nhóm khuyến nghị thực tiễn giúp các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chuyển đổi phương thức sản xuất từ gia công thuần túy (CMT) sang các phương thức tạo giá trị gia tăng cao hơn (FOB, ODM), đồng thời cung cấp căn cứ để Chính phủ và các hiệp hội ngành hàng hoạch định chính sách hỗ trợ tái cơ cấu công nghiệp dệt may.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi ngành và nguồn dữ liệu: Đề tài chỉ tập trung khảo sát ngành dệt may tại Việt Nam trong giai đoạn 2009–2018, chưa mở rộng so sánh với các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác.
  • Dữ liệu thứ cấp: Luận án hoàn toàn dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính từ số liệu thống kê của VITAS và Tổng cục Thống kê; chưa thực hiện khảo sát sơ cấp để đánh giá các yếu tố phi tài chính định tính như văn hóa tổ chức, sự thỏa mãn của người lao động hay phong cách lãnh đạo trong quá trình tái cấu trúc.
  • Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu kết thúc ở năm 2018, chưa bao quát được các biến động kinh tế sau giai đoạn này, đặc biệt là tác động gián đoạn chuỗi cung ứng từ đại dịch Covid-19.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi đối tượng sang các ngành sản xuất mũi nhọn khác như da giày, điện tử, chế biến nông sản để kiểm chứng tính phổ quát của mô hình tái cấu trúc toàn diện.
  • Kéo dài chuỗi thời gian dữ liệu sau năm 2018 nhằm đánh giá tác động của tái cấu trúc trong và sau các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
  • Kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu, khảo sát bảng hỏi) để lồng ghép các biến số về quản trị nhân sự, văn hóa doanh nghiệp và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin vào mô hình giải thích NSLĐDN.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tài liệu hữu ích cho việc xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu về tái cấu trúc doanh nghiệp và phương pháp xử lý dữ liệu bảng (panel data) quy mô lớn trên phần mềm STATA; tham khảo quy trình thực hiện kiểm định Hausman và kỹ thuật khắc phục khuyết tật mô hình bằng hồi quy độ lệch chuẩn Driscoll-Kraay (Chương 3 và Chương 4).
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Nguồn tài liệu tham khảo trong giảng dạy các học phần Quản trị chiến lược, Quản trị sản xuất và Quản trị nguồn nhân lực tại các trường đại học khối kinh tế và quản trị kinh doanh.
  • Nhà quản trị doanh nghiệp dệt may: Cung cấp lộ trình thực tế cho việc triển khai tái cấu trúc doanh nghiệp; nhấn mạnh yêu cầu phải tiến hành đồng thời giữa sắp xếp lại tài sản (chuyển dịch mô hình sản xuất), điều chỉnh cơ cấu tài chính (kiểm soát đòn bẩy nợ) và tinh gọn bộ máy nhân sự thay vì chỉ cắt giảm chi phí đơn thuần (Chương 5).
  • Nhà hoạch định chính sách (Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp hội Dệt May Việt Nam - VITAS): Cung cấp các số liệu thực chứng về hiện trạng năng suất lao động và cơ cấu tài chính của ngành dệt may giai đoạn 2009–2018, làm cơ sở xây dựng chính sách thu hút vốn FDI có chọn lọc và chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển dịch chuỗi giá trị.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án đo lường biến Năng suất lao động doanh nghiệp (NSLĐDN) bằng công thức và chỉ tiêu cụ thể nào? Luận án căn cứ vào định nghĩa của Mai Quốc Chánh và Phạm Đức Thành (2001) cùng Freeman (2008), xác định NSLĐDN = Tổng đầu ra / Tổng đầu vào. Cụ thể, Tổng đầu ra được đo lường bằng Tổng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, còn Tổng đầu vào được đo lường bằng Tổng số lao động bình quân của doanh nghiệp trong năm. Tác giả chọn lợi nhuận thay vì doanh thu và chọn lao động bình quân nhằm phản ánh chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh thực chất, tránh số liệu ảo do đặc thù thâm dụng lao động và tỷ lệ gia công CMT cao của ngành dệt may.

  2. Biến Tái cấu trúc toàn diện trong luận án gồm những thành phần nào và được kế thừa từ cơ sở lý thuyết nào? Biến Tái cấu trúc toàn diện được kế thừa từ khung lý thuyết của Bowman và Singh (1993), bao gồm đồng thời 3 thành phần:

  • Tái cấu trúc danh mục đầu tư (Asset/Portfolio Restructuring): Đo lường bằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của tổng tài sản.
  • Tái cấu trúc tài chính (Financial Restructuring): Đo lường bằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của tổng nợ và cơ cấu vốn.
  • Tái cấu trúc tổ chức (Organizational Restructuring): Đo lường bằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của tổng doanh thu hoạt động.
  1. Quy mô dữ liệu nghiên cứu của luận án được thu thập từ nguồn nào và trong giai đoạn nào? Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp dạng bảng (panel data) của 7.640 doanh nghiệp dệt may hoạt động trên phạm vi cả nước. Dữ liệu bao gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính được thu thập liên tục trong 10 năm, từ năm 2009 đến năm 2018, từ nguồn cơ sở dữ liệu của Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) và đối chiếu với dữ liệu thống kê của Tổng cục Thống kê.

  2. Luận án áp dụng các kỹ thuật kinh tế lượng nào trên STATA để xử lý dữ liệu và khắc phục các khuyết tật của mô hình? Quy trình phân tích kinh tế lượng trong luận án gồm: thống kê mô tả, kiểm tra đa cộng tuyến bằng ma trận tương quan và hệ số VIF; ước lượng bằng các mô hình Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM); sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa FEM và REM (kết quả chọn FEM); thực hiện kiểm định phương sai sai số thay đổi và kiểm định tự tương quan. Do mô hình FEM xuất hiện cả hai khuyết tật này, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy với độ lệch chuẩn Driscoll-Kraay (FEM ước lượng sai số chuẩn vững) để có kết quả ước lượng chính xác.

  3. Theo số liệu trích dẫn trong luận án, thực trạng năng suất lao động ngành dệt may Việt Nam so với các nước trong khu vực ra sao? Theo báo cáo của Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS, 2019) được dẫn trong Chương 1, NSLĐDN dệt may Việt Nam ở mức rất thấp khi so sánh với các quốc gia cạnh tranh trực tiếp trong khu vực: chỉ bằng 13% so với Trung Quốc, bằng 58% so với Indonesia, bằng 65% so với Ấn Độ, bằng 66% so với Pakistan, và chỉ cao hơn 60% so với Campuchia.

Kết luận

Luận án của tác giả Phạm Đình Cường đã làm rõ mối quan hệ tác động giữa tái cấu trúc doanh nghiệp và năng suất lao động doanh nghiệp thông qua việc tiếp cận lý thuyết tái cấu trúc toàn diện của Bowman và Singh (1993). Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng trên bộ dữ liệu bảng gồm 7.640 doanh nghiệp dệt may Việt Nam giai đoạn 2009–2018, công trình cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định tái cấu trúc đồng thời cả 3 yếu tố danh mục đầu tư, tài chính và tổ chức có tác động tích cực đến nâng cao NSLĐDN. Các kết quả phân tích kinh tế lượng và hệ thống hàm ý quản trị đề xuất trong luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhà nghiên cứu, nhà quản trị doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực dệt may.