đặt vấn đề của luận án. Vì vậy, việc nghiên cứu tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN là cần thiết nhằm góp phần 6 bổ sung các khoảng trống lý thuyết trước đây về tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLDDN. Về thực tiễn, Việt Nam đang đứng trước bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải linh hoạt và đủ năng lực để có thể ứng phó kịp thời và hiệu quả trước sự biến động khó lường của thị trường.
Muốn như thế, các doanh nghiệp phải tiến hành tái cấu trúc doanh nghiệp một cách bài bản và toàn diện. Mặt khác, một trong những lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp đó chính là NSLĐDN. Tuy nhiên, NSLĐDN của Việt Nam hiện nay cho thấy còn rất nhiều tồn tại và yếu kém. Lý do là hầu hết doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ nên còn rất nhiều hạn chế về trình độ sản xuất, năng lực quản lý; tỷ lệ thâm dụng lao động cao trong hoạt động SXKD; chưa chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trước áp lực của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
Vì vậy, nâng cao NSLĐDN là nhiệm vụ trọng tâm của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dệt may nói riêng trong tình hình hiện nay. Xuất phát từ bối cảnh nghiên cứu nêu trên, cho thấy việc lựa chọn đề tài “Tái cấu trúc và Năng suất lao động doanh nghiệp – Nghiên cứu Ngành Dệt may Việt Nam” là rất cần thiết về cả lý thuyết lẫn thực tiễn. Luận án sẽ tiến hành nghiên cứu cơ sở lý thuyết về tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN nhằm bổ sung các khoảng trống lý thuyết. Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu các cơ sở lý luận có liên quan đến mối quan hệ giữa tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN, luận án sẽ làm rõ mối quan hệ và đánh giá tác động của nó một cách toàn diện, để tìm ra những hàm ý quản trị phù hợp góp phần nâng cao NSLĐ của doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói riêng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa như hiện nay.2 Vấn đề nghiên cứu Luận án sẽ nghiên cứu lý thuyết về tái cấu trúc doanh nghiệp dựa theo lý thuyết tái cấu trúc toàn diện của Bowman và Singh (1993) thông qua việc phát triển và mở rộng phân tích đồng thời 3 yếu tố đó là: danh mục đầu tư, tài chính và tổ chức.
Từ đó, 7 Luận án đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa tái cấu trúc và NSLĐDN; và tác động của tái cấu trúc doanh nghiệp đến NSLĐDN ngành dệt may Việt Nam. Luận án sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng là chủ yếu, thông qua việc phân tích và nghiên cứu bộ số liệu lớn với 7.640 doanh nghiệp dệt may trên địa bàn cả nước trong giai đoạn 2009 – 2018, nhằm tăng tính thuyết phục và độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần bổ sung khoảng trống lý thuyết về tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN. Trên cơ sở kết quả đó, luận án cũng sẽ đưa ra các hàm ý quản trị nhằm góp phần nâng cao NSLĐDN nói chung và dệt may Việt Nam nói riêng.3 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu tổng quát - Nghiên cứu tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN.2 Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN.
- Phân tích mối quan hệ giữa tái cấu trúc và NSLĐDN. Đồng thời, đánh giá tác động của tái cấu trúc đến NSLĐDN (nghiên cứu dữ liệu ngành dệt may Việt Nam, giai đoạn 2009-2018). - Căn cứ kết quả nghiên cứu, đưa ra những hàm ý quản trị để nâng cao NSLĐDN ngành dệt may Việt Nam.4 Câu hỏi nghiên cứu Để làm sáng tỏ các vấn đề trên, luận án cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: - Các yếu tố nào hình thành nên tái cấu trúc toàn diện? - Mối quan hệ giữa tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN như thế nào ? - Mức độ tác động của tái cấu trúc toàn diện đến NSLĐDN dệt may Việt Nam như thế nào? 8 - Những hàm ý quản trị nào rút ra để nâng cao NSLĐDN dệt may Việt Nam thông qua tái cấu trúc toàn diện doanh nghiệp? 1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của luận án: Tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN; Mối quan hệ và tác động giữa tái cấu trúc doanh nghiệp và NSLĐDN. - Đối tượng khảo sát của luận án: Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.2 Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi nghiên cứu: NSLĐ là một phạm trù kinh tế rất rộng có nhiều cấp độ khác nhau như: NSLĐ cá nhân, NSLĐDN và NSLĐ xã hội.
Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của luận án sẽ được giới hạn là NSLĐDN. Trong đó, NSLĐDN là một phạm trù kinh tế nói lên hiệu quả sản xuất của người lao động trong quá trình sản xuất sản phẩm. Nói cách khác, NSLĐDN là toàn bộ NSLĐ cá nhân trong một doanh nghiệp. Thực chất nội hàm của NSLĐDN chính là tổng lợi nhuận đầu ra của toàn bộ lao động trong một doanh nghiệp tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định.
- Không gian nghiên cứu: Các doanh nghiệp dệt may trên địa bàn cả nước. - Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2009 đến năm 2018.6 Phương pháp nghiên cứu 1.1 Mô hình nghiên cứu Mô hình nghiên cứu đề xuất của luận án được xây dựng và đề xuất dựa theo hướng nghiên cứu tiếp cận lý thuyết tái cấu trúc toàn diện của Bowman và Singh (1993). Đồng thời, kết hợp với việc tham khảo, kế thừa và phát triển các lý thuyết và mô hình nghiên cứu có liên quan về tái cấu trúc và NSLĐDN trong và ngoài nước của John, Lang và Netter (1992); Kang và Shivdasani (1997); Denis và Kruse (2000); Perry và Shivdasani (2005), Morrison (2007); Sử Đình Thành và cộng sự (2017). 9 Nội dung về Mô hình nghiên cứu đề xuất của luận án sẽ được trình bày chi tiết trong Chương 3.2 Dữ liệu nghiên cứu Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp, phân tích số liệu của 7.640 doanh nghiệp dệt may trên địa bàn cả nước trong giai đoạn 10 năm gần đây nhất, từ năm 2009 đến năm 2018.
Luận án lấy dữ liệu về các chỉ tiêu tài chính như: doanh thu, lợi nhuận sau thuế, tổng tài sản, tổng nợ, vốn FDI, vốn kinh doanh. và các chỉ tiêu phi tài chính như: số năm từ khi thành lập doanh nghiệp, tổng số lao động bình quân của doanh nghiệp… thông qua kênh dữ liệu thứ cấp của Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS). Ngoài ra, có tham khảo dữ liệu của Tổng cục Thống kê.3 Phương pháp phân tích dữ liệu Luận án sử dụng Phương pháp nghiên cứu Định lượng (Quantitative Research Method) là chủ yếu để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu. Tác giả lần lượt sử dụng các phương pháp hồi quy dữ liệu bảng phổ biến và kiểm định mô hình hồi quy nhằm thỏa mãn các yêu cầu một cách chặt chẽ và có độ tin cậy cao bằng phần mềm STATA.
Trong đó, hồi quy dữ liệu bảng trong phân tích cơ bản thường có hai phương pháp sau: hồi quy bằng mô hình tác động cố định FEM (Fixed Effetcts Model) và hồi quy bằng mô hình tác động ngẫu nhiên REM (Random Effetcts Model). Ngoài ra, luận án sẽ đi kiểm định lựa chọn mô hình FEM và mô hình REM (Hausman Test), hồi quy mô hình độ lệch chuẩn Driscoll-Kraay để nghiên cứu tác động của tái cấu trúc đến NSLĐDN.7 Đóng góp mới của luận án 1.1 Về mặt lý thuyết: Thứ nhất, hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây về tái cấu trúc doanh nghiệp thường chỉ đề cập đến một vài yếu tố đơn lẻ như tài chính hay hình thức sở hữu vốn mà thôi. Tuy nhiên, trước bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, đòi hỏi các doanh nghiệp phải linh hoạt và đủ năng lực để có thể ứng phó kịp thời 10 và hiệu quả trước sự biến động của thị trường. Những lý thuyết về tái cấu trúc trước đây đã trở nên lỗi thời, làm xuất hiện những khoảng trống lý thuyết.
Vì vậy, luận án đã lựa chọn, kế thừa và phát triển theo hướng tiếp cận lý thuyết tái cấu trúc toàn diện của Bowman và Singh (1993). Từ đó, luận án xây dựng Biến tái cấu trúc toàn diện, bao gồm đồng thời cả 3 yếu tố đó là: danh mục đầu tư, tài chính và tổ chức, để đưa vào mô hình nghiên cứu của luận án nhằm phản ánh tái cấu trúc một cách toàn diện hơn, cũng như góp phần bổ sung những khoảng trống lý thuyết về tái cấu trúc. Thứ hai, theo khảo lược lý thuyết, tác giả nhận thấy hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây chỉ đề cập đến tác động của tái cấu trúc đến hiệu suất hoặc hiệu quả của doanh nghiệp mà thôi. Có thể nói, hiện nay chưa có nghiên cứu nào đề cập đến mối quan hệ giữa tái cấu trúc và NSLĐDN như cách đặt vấn đề nghiên cứu của luận án.
Vì vậy, luận án đã đi sâu nghiên cứu và làm rõ mối quan hệ giữa tái cấu trúc và NSLĐDN. Thứ ba, luận án đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho tác động của tái cấu trúc đến NSLĐDN.2 Về mặt thực tiễn: Thứ nhất, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây chủ yếu sử dụng cỡ mẫu nhỏ, số liệu của một tỉnh, địa phương hoặc các báo cáo tài chính của các công ty trên sàn chứng khoán nên kết quả nghiên cứu thường bị hạn chế. Ngược lại, luận án với mô hình và kết quả nghiên cứu được phân tích theo phương pháp định lượng bằng công cụ STATA, dựa trên bộ dữ liệu lớn với 7.640 doanh nghiệp dệt may đang hoạt động trải đều trên khắp cả nước trong thời gian 10 năm gần đây. Dữ liệu này có thể xem như đại diện cho toàn bộ các doanh nghiệp dệt may Việt Nam và là cơ sở khoa học để luận án tiến hành phân tích và nghiên cứu về tái cấu trúc và NSLĐDN của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chi tiết và tin cậy hơn.