Chương 1: Cơ sở lý luận - Chương 2: Thực trạng tác động thành phần sở hữu vốn nước ngoài đến khả năng sinh lời của các ngân hàng TMCP Việt Nam - Chương 3: Mô hình ước lượng và kết quả nghiên cứu thực nghiệm - Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tóm lƣợc nghiên cứu Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Do đó bài nghiên cứu được thực hiện nhằm kiểm tra mối tương quan giữa thành phần sở hữu vốn nước ngoài và khả năng sinh lời của các ngân hàng TMCP trong nước với phương pháp kiểm định thống kê và hồi quy cho mẫu 32 ngân hàng TMCP trong giai đoạn sáu năm (2008 – 2013). Thông qua kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả nhận thấy sở hữu vốn nước ngoài có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của các ngân hàng, đặc biệt đối với tỷ suất thu nhập ngoài lãi cận biên.
Đây là cơ sở quan trọng để các ngân hàng, cơ quan quản lý Nhà nước có cái nhìn toàn diện về việc tiếp nhận, sử dụng và quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Các khái niệm liên quan đến đối tƣợng nghiên cứu 1. Thành phần sở hữu vốn nƣớc ngoài Trước hết cần làm rõ khái niệm “ngân hàng TMCP”: tại Việt Nam, khái niệm này được hiểu là các ngân hàng có hoạt động kinh doanh, thương mại theo mô hình cổ phần và tuân theo các luật riêng của Chính phủ và các quy chế, quy định của NHNN khi hoạt động. Gọi là ngân hàng TMCP để phân biệt với một số loại hình ngân hàng khác như ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại liên doanh và chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam.
Ngoài ra, một ngân hàng TMCP có quyền phát hành cổ phần và bán ra công chúng, người sở hữu cổ phần do ngân hàng nào phát hành được gọi là cổ đông của ngân hàng TMCP đó, trường hợp ngân hàng có niêm yết cổ phiếu tại sàn chứng khoán thì cổ phần của ngân hàng này sẽ được mua – bán tự do trên thị trường chứng khoán, người sở hữu cổ phần có thể là các cá nhân hoặc tổ chức trong và ngoài nước với tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa theo quy định của Nhà nước. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- Vì vậy, khái niệm “sở hữu vốn nước ngoài” trong bài nghiên cứu này nhằm ám chỉ các phần vốn của ngân hàng TMCP được sở hữu bởi cá ngân hay tổ chức nước ngoài thông qua việc mua cổ phiếu của ngân hàng đó trên thị trường chứng khoán hoặc dưới hình thức một nhà đầu tư chiến lược của ngân hàng. Theo đó “tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài” chính là tỷ lệ phần trăm số cổ phần được nắm giữ bởi cổ đông nước ngoài trên tổng số vốn cổ phần của một ngân hàng TMCP. Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần của cổ đông của ngân hàng trong trường hợp ngân hàng bán cổ phần để tăng vốn điều lệ hoặc bán cổ phiếu quỹ hoặc trong trường hợp ngân hàng chuyển đổi hình thức pháp lý thành ngân hàng cổ phần.
Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là bao gồm tổ chức nước ngoài và cá nhân nước ngoài. Tổ chức nước ngoài là tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của các tổ chức này tại nước ngoài và tại Việt Nam, các quỹ đóng, quỹ thành viên, công ty đầu tư chứng khoán thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%. Còn các cá nhân được hiểu là nhà đầu tư nước ngoài khi cá nhân này không mang quốc tịch Việt Nam. Riêng đối với trường hợp đối với nhà đầu tư chiến lược nước ngoài thông qua sở hữu vốn trực tiếp hay gián tiếp phải là tổ chức nước ngoài có năng lực tài chính và có cam kết bằng văn bản của người có thẩm quyền về việc gắn bó lợi ích lâu dài với ngân hàng Việt Nam và hỗ trợ ngân hàng Việt Nam chuyển giao công nghệ hiện đại, phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, nâng cao năng lực tài chính, quản trị, điều hành.
Hiện nay tại Việt Nam theo quy định của NHNN, giới hạn về tỷ lệ sở hữu cổ phần của một cá nhân nước ngoài không được vượt quá 5% vốn điều lệ của một ngân hàng, không quá 15% vốn điều lệ đối với một tổ chức nước ngoài, và không vượt quá 20% vốn điều lệ đối với một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Theo đó, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá 30% TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- vốn điều lệ của một ngân hàng. Trong một số trường hợp khác với quy định phải có chỉ đạo thực hiện cụ thể của Thủ tướng Chính phủ. Khả năng sinh lời của các ngân hàng TMCP Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằng tiền, là một trong những điều kiện để duy trì cân bằng tài chính.
Ngoài ra, việc đánh giá khả năng sinh lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu nhất định. Do đó, khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả thu về trên các phương tiện bỏ ra. Khả năng sinh lời có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản. Ở cấp độ ngân hàng, khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà ngân hàng nắm giữ.
Bên cạnh đó, khả năng sinh lời cần ít nhất đủ để đáp ứng được hai đòi hỏi trước hết là: đảm bảo duy trì vốn cho ngân hàng và trả được các khoản lãi tiền gửi hay chi phí đầu vào và đảm bảo hoàn trả khoản huy động vốn. Lãi thu được từ các hoạt động sinh lời trong năm tài chính có thể được trích chia cho cổ đông hoặc vẫn duy trì dưới dạng vốn dự trữ. Nếu không tính đến thuế và lãi, khả năng sinh lời của tập hợp tài sản phải cho phép tích luỹ đủ tiền để đảm bảo vốn kinh doanh, đảm bảo hoàn trả nguồn vốn huy động, đóng góp vào việc tăng vốn và trả lợi nhuận đầu tư cho các cổ đông của ngân hàng. Để đo lường khả năng sinh lời của một ngân hàng có rất nhiều chỉ tiêu, tuy nhiên trong đó có một số chỉ tiêu quan trọng nhất được sử dụng hiện nay như: Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu viết tắt là ROE, tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản viết tắt là ROA, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên viết tắt là NIM, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên viết tắt là NNIM và tỷ lệ chi phí trên thu nhập viết tắt là CIR.
ROE hay tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu được tính bằng cách lấy thu nhập ròng của ngân hàng chia cho vốn chủ sở hữu bình quân với công thức như sau: Thu nhập ròng ROE = Vốn chủ sở hữu bình quân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- Trong đó chỉ tiêu vốn chủ sở hữu bình quân là trung bình cộng giá trị vốn chủ sở hữu đầu năm và cuối năm của ngân hàng. Giá trị này thể hiện hiệu suất sử dụng vốn chủ sở hữu tạo ra lợi nhuận của ngân hàng. Chẳng hạn như ROE của một ngân hàng là 12,5%, chỉ số này cho thấy rằng rằng cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư sẽ tạo ra 12,5 đồng lợi nhuận ròng sau thuế. Do đó tỷ lệ này càng cao chứng tỏ khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao.
ROA hay tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản được tính bằng cách lấy thu nhập ròng của ngân hàng chia cho tổng tài sản bình quân theo công thức sau: Thu nhập ròng ROA = Tổng tài sản bình quân Trong đó chỉ tiêu tổng tài sản bình quân là trung bình cộng giá trị tổng tài sản đầu năm và cuối năm của ngân hàng. Giá trị này dùng để đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản tạo ra lợi nhuận của ngân hàng. Ví dụ ROA của một ngân hàng là 7,5% cho thấy cứ 100 đồng tài sản của ngân hàng dùng để đầu tư sẽ tạo ra 7,5 đồng lợi nhuận ròng sau thuế. Do đó tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản càng cao thì khả năng sinh lời của ngân hàng càng lớn, thể hiện hoạt động của ngân hàng càng hiệu quả.
NIM hay tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được hiểu là chênh lệch giữa lãi suất đầu vào (lãi suất huy động vốn) và lãi suất đầu ra (lãi suất cho vay) của một ngân hàng, để tính thu nhập lãi cận biên lấy thu nhập lãi thuần chia cho tổng tài sản có sinh lời bình quân theo công thức sau: Thu nhập lãi thuần NIM = Tổng tài sản có sinh lời bình quân Giả sử NIM của một ngân hàng là 4,3 có nghĩa bình quân 100 đồng tài sản có sinh lời bình quân của ngân hàng tạo ra 4,3 đồng thu nhập từ lãi. Do đó tỷ lệ này càng cao thì chứng tỏ khả năng sinh lời của ngân hàng càng lớn. NNIM hay tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên được tính bằng cách lấy thu nhập ngoài lãi thuần chia cho tổng tài sản có sinh lời bình quân theo công thức sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- Thu nhập ngoài lãi thuần NNIM = Tổng tài sản có sinh lời bình quân Nếu một ngân hàng có NNIM rất cao so với NIM chứng tỏ ngân hàng này ít phụ thuộc vào hoạt động cho vay mà thu nhập chủ yếu đến từ thu dịch vụ, thu nhập khác ngoài lãi. Giả sử NNIM là 2,3 có nghĩa là cứ 100 đồng tài sản có sinh lời bình quân tạo ra 2,3 đồng thu nhập ngoài lãi.
Do đó tỷ lệ này càng cao chứng tỏ ngân hàng có khả năng sinh lời cao và hoạt động càng hiệu quả. CIR hay tỷ lệ chi phí trên thu nhập là một trong những chỉ số tài chính quan trọng, đặc biệt trong việc đánh giá hoạt động ngân hàng vì nó thể hiện được mối quan hệ giữa chi phí và thu nhập của ngân hàng đó.