Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, tổng quan về phương pháp nghiên cứu và bố cục của bài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết. Trong chương này, tác giả tóm tắt các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa sở hữu quản trị và giá trị công ty.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu, cách thu thập dữ liệu, giải thích việc lựa chọn các biến, trình bày kỹ thuật ước lượng được sử dụng trong bài nghiên cứu. Chương 4: Nội dung và các kết quả nghiên cứu. Chương này trình bày kết quả nghiên cứu, đưa ra các thảo luận, so sánh với kết quả của các nghiên cứu trước đây.
Chương 5: Kết luận. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu trình bày kết luận về mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu nội bộ và giá trị công ty ở Việt Nam. 123doc 5 Chương 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Giá trị công ty và phương pháp đo lường Nghiên cứu của Demsetz & Lehn (1985) đã sử dụng tỷ suất lợi nhuận theo sổ sách để đo lường hiệu quả hoạt động của công ty. Tất cả các nghiên cứu sau đó sử dụng hệ số Tobin’q.
Đây là hai khía cạnh quan trọng, trong đó hai biện pháp đo lường này khác nhau. Thứ nhất là khác biệt về quan điểm mang tính thời gian, tỷ suất lợi nhuận theo sổ sách phản ánh những số liệu trong quá khứ, hệ số Tobin’q phản ánh kỳ vọng sẽ đạt được trong tương lai. Trong nỗ lực để đánh giá tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động công ty, cái nào là hợp lý hơn, sử dụng những gì mà nhà quản trị đã đạt được để ước lượng hay sử dụng những gì mà nhà quản trị sẽ thực hiện để ước lượng? Sự khác biệt thứ hai là trong cách thực hiện đo lường giá trị công ty. Đối với tỷ suất lợi nhuận theo sổ sách, kế toán viên bị hạn chế bởi những tiêu chuNn nghề nghiệp.
Đối với hệ số Tobin’Q, cộng đồng các nhà đầu tư bị hạn chế bởi sự nhạy bén của họ, quan điểm lạc quan hay chủ quan. Khuynh hướng của các nhà kinh tế hầu hết đều có sự hiểu biết về những hạn chế của thị trường tốt hơn những hạn chế, những ràng buộc trong kế toán, vì vậy hệ số Tobin’Q có lợi thế hơn. Nhưng ở đây cũng cần phải thận trọng. Tỷ suất lợi nhuận theo sổ sách không bị ảnh hưởng bởi tâm lý của nhà đầu tư, và nó chỉ có liên quan một phần đến ước lượng cho những sự kiện trong tương lai, chủ yếu trong định giá nó được đưa vào khấu hao và thương hiệu (sự tín nhiệm của khách hàng).
Tuy nhiên, hệ số Tobin’q bị ảnh hưởng nhiều bởi tâm lý của nhà đầu tư có liên quan đến dự đoán của vô số các sự kiện của thế giới bao gồm kết quả của chiến lược kinh doanh hiện tại. Đúng là tỷ suất lợi nhuận theo sổ sách bị ảnh hưởng bởi thông lệ kế toán, chẳng hạn áp dụng các phương pháp khác nhau cho định giá vốn hữu hình và 123doc 6 vốn vô hình, nhưng Tobin’q cũng chịu các vấn đề do kế toán tạo ra và có lẽ là nó dữ dội hơn. Trong thực tế, sự thay đổi trong hệ số Tobin’q được giải thích tốt hơn bằng các biến kiểm soát cho các vấn đề do kế toán tạo ra. Tử số của Tobin’q là giá trị thị trường của công ty, phần nào phản ánh giá trị của các nhà đầu tư gán cho tài sản vô hình của công ty, nhưng mẫu số của hệ số Tobin’Q không bao gồm các khoản đầu tư của công ty vào tài sản vô hình, được ước lượng bởi chi phí thay thế của tài sản hữu hình.
Nguồn thu nhập của công ty nếu có thì được coi là được tạo ra từ các khoản đầu tư được thực hiện đối với tài sản hữu hình. Điều này làm bóp méo giá trị của công ty, nó phụ thuộc vào mức độ khác nhau của tài sản vô hình. Hơn nữa, các nghiên cứu gần đây khi sử dụng hệ số Tobin’q không cố gắng đo lường chi phí thay thế của tài sản vô hình khi tính toán mẫu số của hệ số Tobin’q. Thay vào đó, họ sử dụng giá trị khấu hao theo sổ sách của tài sản vô hình.
Tử số của hệ số Tobin’q phản ánh tỷ suất lợi nhuận theo sổ sách, đạt một mức độ chắc chắn đáng kể. Các nhà đầu tư căn cứ vào quá khứ để xác định một mức kỳ vọng thích hợp vào lợi nhuận tương lai của công ty. Tỷ suất lợi nhuận theo sổ sách cao thì thường đi kèm với giá cổ phiếu cao, trong khi đó mẫu số của hệ số Tobin’Q được đo bằng giá trị sổ sách của tài sản hữu hình chứ không phải bằng chi phí thay thế, như vậy là đã sử dụng số liệu của kế toán khi ước tính vốn đầu tư của công ty. Điều này không phải để tranh luận hay chống đối lại một trong những phương pháp đo lường giá trị công ty.
Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng của mình. Với mỗi phương pháp đo lường khác nhau sẽ cho ra một kết quả khác nhau về mối quan hệ giữ tỷ lệ sở hữu nội bộ và giá trị công ty. Để kiểm tra các kết quả nhạy cảm với việc lựa chọn phương pháp đo lường giá trị công ty, tác giải tiến hành phân tích bằng cách sử dụng các cách khác nhau để tính toán giá trị công ty, bao gồm hệ số Tobin’s q, tỷ số giá trị thị trường và tỷ số tỷ suất lợi nhuận.2 Tỷ lệ sở hữu cổ phần Tất cả các phương pháp đo lường cấu trúc sở hữu đã được sử dụng bởi Demsetz & Lehn (1985) đều dựa trên tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi những cổ đông lớn nhất của công ty, cụ thể là thuộc sở hữu của năm cổ đông lớn nhất. Xuất hiện một vấn đề tiềm tàng trong phương pháp đo lường này.
Tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi các cổ đông lớn nhất của công ty không phải là một thước đo đáng tin cậy về mức độ mà các nhà đầu tư được bảo vệ khỏi sự lạm dụng quyền lực của nhà quản trị nếu các nhà quản trị nắm giữ cổ phiếu đủ để đưa họ vào danh sách phân loại sở hữu nội bộ. Tuy nhiên, điều này ít có khả năng để trở thành một vấn đề quan trọng bởi vì điều này phát sinh từ việc sử dụng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của nhà quản trị. Thực tế cho thấy rằng một người là thành viên của đội ngũ quản trị chuyên nghiệp hầu như không bao giờ nắm giữ cổ phiếu đủ để làm cho anh ta trở thành một trong năm cổ đông quan trọng nhất của công ty. Các nghiên cứu sau bài viết của Demsetz & Lehn tập trung vào tỷ lệ cổ phần thuộc sở hữu của những nhà quản trị công ty.
Sở hữu quản trị bao gồm cổ phiếu thuộc sở hữu của các thành viên thuộc hội đồng quản trị, của giám đốc điều hành và các nhà quản trị cấp cao. Việc lựa chọn những đối tượng có trong phương pháp đo lường này là để theo dõi mức độ nghiêm trọng của các vấn đề về đại diện cho thấy rằng tất cả cổ đông được phân loại là nhà quản trị có một lợi ích chung. Điều này dường như không đúng. Ví dụ một thành viên hội đồng quản trị có thể có vị trí này trong hội đồng quản trị là vì ông ta nắm giữ cổ phần của công ty với số lượng lớn hoặc có thể vì ông ta đại diện cho những người nắm giữ cổ phần của công ty với số lượng lớn.
Thành viên hội đồng quản trị có vẻ không có cùng lợi ích với những nhà quản trị chuyên nghiệp. Nhiều khả năng lợi ích của họ được liên kết chặt chẽ hơn với lợi ích của những nhà đầu tư bên ngoài. Nhà quản trị nội bộ thực sự là một người không vì lợi ích của nhà 123doc 8 đâu tư bên ngoài, hoặc không đại diện cho lợi ích của các nhà đầu tư bên ngoài. Các thành viên của hội đồng quản trị có quan hệ huyết thống, gia đình hoặc người đại diện cho họ không thể được coi là có chung lợi ích với những người quản trị thuần túy.
Do đó, tỷ lệ sở hữu nội bộ cao không phải là một chỉ số đáng tin cậy đại diện cho sức mạnh của nhà quản trị trong hoạt động của công ty như hầu hết các nghiên cứu sử dụng phương pháp đo lường này cho rằng như vậy. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng tỷ lệ sở hữu cổ phần của ban giám đốc công ty để đo lường cho tỷ lệ sở hữu nội bộ. Phù hợp với phương pháp đo lường tỷ lệ sở hữu nội bộ trong nghiên cứu của Gurmeet Singh Bhabra (2007).3 Lý thuyết đại diện trong quan hệ giữa ban giám đốc công ty và các cổ đông Vấn đề người đại diện thường được sử dụng trong việc nghiên cứu các tác động của tách biệt quyền quản lý khỏi quyền sở hữu đến giá trị của công ty. Ban giám đốc (hay còn gọi là người đại diện) là người có thể chỉ sở hữu một phần nhỏ trong vốn cổ phần của một công ty cổ phần, ngược lại với các cổ đông lại là người sở hữu phần lớn vốn cổ phần.
Do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, phát sinh vấn đề là Ban giám đốc có xu hướng tư lợi cho họ hơn là hành động vì lợi ích của người sở hữu và các cổ đông. Lý thuyết về đại diện cho rằng nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và Ban giám đốc) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng Ban giám đốc sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông và công ty. Với vị trí của mình, Ban giám đốc có thể tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình hay người thứ ba có liên quan với mình, chứ không phải cho công ty. Nguyên nhân xảy ra vấn đề người đại diện là thông tin bất cân xứng.
Thông tin bất cân xứng, trong kinh tế học, là trạng 123doc 9 thái không cân bằng trong cơ cấu thông tin giữa các chủ thể giao dịch có mức độ nắm giữ thông tin không ngang nhau. Rõ ràng trong quan hệ giữa cổ đông và những người đại diện của họ (Ban giám đốc) tồn tại thực trạng thông tin bất cân xứng.