CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐÈ TÀI 1.1 LÝ DO CHỌN DE TAL “Trong bối cảnh ngày nay, không khó để nhận ra rằng người lao động chính là những. đại sứ thương hiệu giúp các tô chức thu hút được nhiều nhân tài và tạo ra sự khác biệt cũng như thành công cho tổ chức. Thật vậy, thông qua các kỹ năng, kiến thức, năng lực và các đặc tính như nhi tình, năng động, tân tâm. của mình, người lao động góp phân.
rất lớn vào quá trình lớn mạnh của tổ chức, có thể thấy tài sản quý giá nhất, không thể thiếu ở mỗi tổ chức giờ đây chính là nguồn nhân lực. Đặc biệt, khi đa số các loại dịch vụ. được cung cấp trong khu vực công nói chung và các đơn vị hành chính sự nghiệp nói riêng phải dựa chủ yếu vào khả năng chuyên môn và tài năng người lao động là chủ yếu, thì yêu tố con người cảng được đặt ở vị trí quan trọng hơn. Mặt khác, khi hệ thống, thủ tục được cải tiến, các hoạt động được tiêu chuẩn hóa trong bối cảnh phát triển khoa học.
công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư hay còn gọi là kinh tế mới 4.0, cũng tạo ra áp lực về việc tìm kiếm nguồn lao động chất lượng cao nhằm đáp ứng xu hướng. ‘Tim kiểm và giữ chân nhân sự tài năng trở thành chiến lược quan trọng nhất cho. mỗi tổ chức, việc này luôn vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ với những tổ chức khác có nhiều ưu thế hơn trên mọi phương diện ngân sách, chính sách. Tuy vậy, khâu tuyển dụng vẫn chưa phải la tat cả, áp lực tiếp nỗi lên các hoạt động quản trị nguồn nhân lực.
Tiên quan sau đó là làm sao dé có thể giữ được cả khối óc và trái tỉm của người lao động. Có thé thấy, muốn hệ thống nhân sự đủ chất lượng, đáp ứng nhu cầu dé sẵn sàng chỉnh phục mục tiêu của tổ chức, ngoài việc triển khai hiệu quả công tác tuyển dụng thì việc tạo sự hải lòng, gắn bó lâu dải, xây dựng niềm tin, tinh thin đoàn kết của người lao động để họ cảm nhận được những giá trị mà tổ chức mang lại là vô củng quan trọng, từ đó góp phần thúc đây người lao động có thể phát huy hết năng lực , đóng góp hết sức mình, hướng tới mục tiêu chung của tổ chức. Không thể phủ nhận, sự hài lòng của người lao động chính la chia khóa thành công, tạo được sự gắn kết cao với tổ chức sẽ giúp giảm ý định nghỉ việc, hơn nữa còn ting mire nỗ lực cá nhân của người lao động để tạo ra nhiều giá trị cho tổ chức. Hulin và Judge (2003) cho rằng những người lao động có sự hài lòng cao thể hiện niễm vui, hạnh phúc với công việc và kết nối sâu sắc với mục tiêu của tổ chức trong khi người lao động có mức độ hài lòng thấp chỉ quan tâm đến việc làm đủ thời gian theo cam kết hợp đồng hơn.
là nâng cao năng s lao động hay cống hiển thêm cho tổ chức. Việc nâng cao mức độ. hài lòng của người lao động giúp tăng chất lượng cuộc sống làm việc của người lao động. góp phần tăng năng lực cạnh tranh cho tổ chức mà còn giúp ôn định bộ máy nhân sự, tiết kiệm thời gian đảo tạo và chỉ phí tuyển dụng mới cũng như mang lại tinh than hing hai, thái độ tích cực trong công việc, nhờ đó mà hiệu suất chung của tổ chức được nâng cao.
“Trên con đường tim ra chiếc chia khóa nâng cao sự hài lòng của người lao động với tổ chức, hoạt động thực tiễn quản trị nguồn nhân lực được cho là yếu tố đóng một vai trò quan trọng. Thông qua những tác động liên tục mỗi ngày đến người lao động. HRM practices có thể định hình thái độ, hảnh vi, văn hỏa của họ tại nơi làm việc. Đồng nghĩa với việc thực hiện HRM practices tốt sẽ mang lại thái độ làm việc tích cực, người lao động có xu hướng cám thấy gắn bó vả say mê với các hoạt động của tổ chức.
Nhiều nghiên cứu về sự hài lòng được thực hiện trước đây, tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào sự hải lòng trong công việc (vi dụ: Foreman Facts (1946); Keith & John (2002). Trong khi điều kiện môi trường hiện tại không ngừng biến đối (đổi mới công nghệ, bắt ôn tài chính, khó khăn trong tìm kiếm nhân sự chất lượng,. hải lòng với tổ chức có ý nghĩa quan trọng hơn, cần được nghiên cứu sâu hơn là sự hài lòng của người lao đông trong một công việc cụ thể, do tính chất dễ bị ảnh hưởng hơn của nó. Nói cách khác, việc tăng cường sự hải lòng của người lao động ở cắp độ tổ chức bằng các hoạt động thực tiễn quản trị nguồn nhân lực đẻ giúp các tô chức đạt được và duy trì hiệu suất cao hơn, giải quyết các vấn đề về bộ máy nhân sự cẳn được khám phá đây đủ hơn.
Tai Viễn thông Bà Rịa Vũng Tàu (VNPT BRVT), str hai lòng của người lao động luôn được xem là cơ sở cho sự phát triển bền vững và là mục lu quan trọng cần đạt được. Đối với những quốc gia đang phát triển ngày nay, toàn hóa và hội nhập kinh chứa nhiều thách thức. Các ngành sản xuất, dịch vụ trong nước đối mặt với áp lực cạnh tranh rất lớn khi mở cửa thị trường. Những đồi thủ mạnh đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Tập đoàn Bưu chính VNPT Việt nam (VNPT) nói riêng sẽ là các tập đoàn tư bản nước ngoài.
Trong bồi cảnh đó, chiến lược kinh doanh đã được VNPT tập trung xây dựng và nguồn nhân lực được xác định rỡ rằng là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự phát triển và tăng trưởng bền. vững Tai Ba Ria Vang tu, tình hình cạnh tranh ngày cảng gay gắt trên thị trường dịch vụ viễn thông, thị trường bị chia sẻ mạnh hơn khi ngày cảng có nhiễu doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông, dẫn tới hầu hết các dịch vụ viễn thông tiếp tục giảm. mạnh giá cước, mật độ thuê bao các dịch vụ trên thị trường khá cao, việc đầu tư mở rộng mạng lưới, thực hiện chương trình khuyến mại, chăm sóc khách hàng, bảo trì bảo dưỡng thiết bị,. dẫn đến chi phí của đơn vị tiếp tục tăng cao.
Do đó, VNPT BRVT nhận thấy. rằng việc xây dựng một chiến lược kinh doanh phù hợp, một đội ngũ lao động chất lượng là vấn đề cấp bách. Bên cạnh đó, chất lượng công việc có tốt hay không phụ thuộc vào việc người lao động có được chăm lo phù hợp với sự mong đợi hay không, có tạo được sự hài lòng trong công việc hay không. Có thể thấy, công tác quản trị nguồn nhân lực sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của đội ngũ nhân viên ngay từ khi bắt đầu tuyển.
dụng đến quá trình chăm lo sau nảy. “Trong bồi cảnh cạnh tranh gay gắt, thị trường lao động yêu cầu ngày cảng cao như. vậy, VNPT BRVT cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa trong công tác quản trị nguồn nhân lực. Hiện nay việc xây dựng kế hoạch về nhân lực chủ yếu dừng lại ở mức độ đánh giá sự thiểu hụt lao động để từ đó tổ chức tuyển dụng nhân viên, chưa thể hiện được rõ nét hoạt động hoạch định nguồn nhân lực.
Mặt khác, đã có nhiều biện pháp nhằm chăm lo cho người lao động, tạo sự hài hòa trong công việc tại VNPT BRVT thu được nhiễu kết qua kha quan, tuy nhiên hầu hết các biện pháp này chưa có thang do cu thé. Đã có nhiều nghiên cứu về tác động của thực tiễn quản trị nguồn nhân lực đến hoạt động của tổ chức trên thé giới và trong nước. Tuy nhiên đặc điểm của mỗi ngành, mỗi nghề là khác nhau ở mỗi quốc gia, mỗi lĩnh vực. Đồng thời, tác động của thực tiễn quản.
trị nguồn nhân lực đến sự hài lòng của nhân viên VNPT Bà Rịa Vũng Tàu cũng chưa từng được nghiên cứu. (Cau hoi đặt ra là liệu rằng thực tiễn QTNNL tại VNPT Bà Rịa Vũng Tàu có ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên không? Và để duy trì một đội ngũ nhân lực phù hợp cho sự phát triển bền vững thì thực tiễn tốt nhất, ảnh hưởng nhất đến sự hài lòng của nhân viên là gì? Với lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu đẻ tài *Tác động của thực tiễn quản trị nguồn nhân lực đến sự hài lòng của người lao động, nghiên cứu tại Viễn thông Bà 'Rịa Vũng Tàu” làm luận văn tốt nghiệp và mong muốn từ kết quả nghiên cứu có thẻ đẻ. xuất một số giải pháp nâng cao sự hài lòng trong công việc với VNPT BRVT thông qua hoạt động động thực tiễn quản trị nguồn nhân lực.2 BÓI CẢNH NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu chung về Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam Ngày 07/04/1990, Hội đồng bộ trưởng ra Nghị định số 115/NĐ-HĐBT thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trực thuộc Bộ giao thông vận tải và Bưu điện. Trong giai đoạn 1990 đến 1995, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) là đơn vị độc quyền phát triển mạng lưới và cung cắp dịch vụ viễn thông tại Việt Nam.
Thang 01/2006, theo quyết định số 06/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, 'VNPT chính thức trở thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam thay thể cho mô hình Tổng công ty cũ, với chiến lược phát triển theo mô hình tập đoàn kinh tế chủ lực của Việt Nam, kinh doanh đa ngành nghề, đa lĩnh vực, đa sở hữu, trong đó Bưu chính ~ 'Viễn thông - Công Nghệ Thông Tin là nòng cốt.2 Quá trình hình thành và phát triển của Viễn thông Bà Rịa Vũng Tàu Viễn thông Bà Rịa Vũng tàu được thành lập trên cơ sở chia tách từ Bưu điện tỉnh Ba Rịa Vũng Tàu (cũ) và chính thức đi vào hoạt động từ 1/1/2008 theo quyết định số 589/QĐ-TCCB/HĐQT ngày 06 tháng 12 năm 2007 của Hội đồng Quản trị Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (nay là Hội đồng thành viên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông "Việt Nam). Trong những năm qua, Viễn thông Bà Rịa Vũng Tàu đã phát triển vượt bậc vẻ quy. mô và chất lượng, sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Với bể dày kinh nghiệm và cùng với đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ cao, phong cách phục vụ văn minh, chu đáo, thân thiện, Viễn thông Bà Rịa Vũng Tàu tự hào là doanh nghiệp hàng đầu và duy nhất cung cấp đầy đủ các dịch vụ viễn thông - công nghệ thông tin đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương.