CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu lý thuyết về tự do hóa thương mại Các lý thuyết thương mại quốc tế đã chỉ ra tự do hóa thương mại mang lại lợi ích cho các quốc gia (Ricardo, 1817; Heckscher & Ohlin, 1991). Thương mại tự do tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, dịch vụ trong một nước và giữa các nước với nhau, giúp phân bổ tối ưu các nguồn lực của nền kinh tế, tăng năng suất lao động, thúc đẩy đối mới và chuyển giao công nghệ, đa dạng hóa chủng loại và tăng chất lượng của hàng hóa cho người tiêu dùng, tối đa hóa hiệu quả thị trường trong nước và trên thế giới không có sự biến dạng của thị trường. Các lý thuyết thương mại cũng chỉ rõ sự khác biệt về lợi thế của mỗi quốc gia như điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và các yếu tố sản xuất (vốn và lao động) trong đó có cơ chế chính sách và môi trường kinh tế vĩ mô tác động đến thương mại.
Ngoài ra, các quốc gia có lợi thế kinh tế nhờ quy mô với sự tập trung sản xuất lớn, giảm chi phí sản xuất và lao động dồi dào sẽ có lợi thế trong trao đổi thương mại dưới tác động của thương mại tự do. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng có bằng chứng tốt cho thấy tự do hóa thương mại tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế bằng cách tạo điều kiện cho tích lũy vốn, nâng cấp cơ cấu công nghiệp, tiến bộ công nghệ và tiến bộ thể chế. Cụ thể, việc tăng nhập khẩu vốn và các sản phẩm trung gian, các yếu tố này không có sẵn trong thị trường nội địa, có thể làm tăng năng suất của ngành sản xuất (Lee, 1995). Bằng việc tự do hóa thương mại, các quốc gia tham gia tích cực hơn vào thị trường quốc tế thông qua thúc đẩy xuất khẩu dẫn đến cạnh tranh gay gắt hơn và cải thiện năng suất (Wagner, 2007).
Ngoài ra, lợi ích của tự do hóa thương mại chủ yếu được tạo ra từ môi trường bên ngoài, chính sách thương mại phù hợp và cấu trúc của mô hình thương mại. Trước những năm 1960, các nghiên cứu về tác động thương mại chỉ giới hạn ở một số quốc gia cụ thể. Tuy nhiên, với sự phát triển của lý thuyết thương mại và kinh tế lượng, nhiều phương pháp phức tạp dựa trên một mô hình toán học đã được đưa ra để phân tích tác động tương tác giữa tự do hóa thương mại và tăng trưởng kinh tế. Cho đến nay, các cuộc thảo luận trong lĩnh vực này thường được chia thành hai nhánh.
Các nhà nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ nhân quả giữa tự do hóa thương mại và tăng trưởng kinh tế để xem xét liệu tăng trưởng kinh tế có được thúc đẩy bởi thương mại tự do hay ngược lại. Phần còn lại chủ yếu thảo luận về đóng góp của thương mại vào tăng trưởng kinh tế. luan an 10 Maizels (1963) đã thảo luận về mối quan hệ tích cực giữa tự do hóa thương mại và phát triển kinh tế bằng phân tích thứ hạng tương quan giữa 7 nước phát triển. Kavoussi (1984), sau khi nghiên cứu 73 nước đang phát triển có thu nhập trung bình và thấp, phát hiện ra rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn có tương quan chặt chẽ với tốc độ tăng xuất khẩu cao hơn.
Ông chỉ ra rằng mối tương quan thuận chiều giữa xuất khẩu và tăng trưởng phù hợp với cả các nước thu nhập trung bình và thấp, nhưng ảnh hưởng này có xu hướng giảm dần theo trình độ phát triển của nền kinh tế. Trong khi đó, Balassa (1986) và Dollar (1992) lập luận rằng các nền kinh tế đang phát triển thực hiện chiến lược định hướng xuất khẩu sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với các nền kinh tế phát triển. Sachs và Warner (1995) cũng đã xây dựng một chỉ số chính sách để phân tích tốc độ tăng trưởng kinh tế với tự do hóa thương mại và nhận thấy rằng tốc độ tăng trưởng bình quân trong thời kỳ sau tự do hóa thương mại cao hơn đáng kể so với thời kỳ trước khi tự do hóa. Kraay (1997) đã điều tra xem liệu các công ty có “học hỏi” từ việc xuất khẩu bằng cách sử dụng dữ liệu bảng của 2105 doanh nghiệp công nghiệp Trung Quốc từ năm 1988 đến năm 1992 hay không, và nhận thấy tác động “học hỏi” rõ rệt nhất ở các nhà xuất khẩu đã thành lập.
Keller (2001) đã thảo luận rằng tự do hóa thương mại liên quan đến việc nhập khẩu hàng hóa trung gian có chất lượng cao góp phần vào việc phổ biến công nghệ. Frankel và Romer (1999) đã xây dựng các thước đo về khoảng cách địa lý của thương mại giữa các quốc gia và sử dụng các thước đo đó để có được các ước tính biến công cụ về tác động của thương mại tự do đối với thu nhập. Kết quả cho thấy tự do hóa thương mại có tác động tích cực về mặt số lượng và mạnh mẽ đối với thu nhập mặc dù nó chỉ có ý nghĩa thống kê vừa phải. Coe và Helpman (1995) đã nghiên cứu sự phổ biến của nghiên cứu và phát triển (R&D) quốc tế giữa 21 quốc gia OECD và Israel trong giai đoạn 1971-1990 và phát hiện ra rằng tự do hóa thương mại là một kênh chuyển giao công nghệ quan trọng.
Trong thực tiễn, thương mại tự do được tồn tại dưới hình thức phổ biến như (1) hiệp định thương mại tự do trên phạm vi toàn cầu, đại diện là Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và (2) hiệp định thương mại tự do giữa hai nước hay một nhóm nước. Các quốc gia tham gia các hiệp định thương mại tự do nhằm thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế. Viner (1950) đã chỉ ra mối quan hệ của tự do hóa thương mại đến tăng trưởng kinh tế và tạo thuận lợi cho thương mại dựa vào 2 yếu tố sau: (1) tạo lập thương mại và (2) chuyển hướng thương mại. Bằng việc dỡ bỏ các hàng rào thương mại giữa các quốc gia, các thỏa thuận thương mại xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp ở các nước thành viên và các doanh nghiệp trong nước luan an 11 (Lloyd&MacLaren, 2004).
Nếu một quốc gia thành viên, thay vì tự sản xuất hàng hóa thì thông qua thỏa thuận thương mại tự do, bây giờ có thể nhập khẩu hàng hóa từ một nước thành viên khác và đó chính là tạo lập thương mại. Còn chuyển hướng thương mại sẽ xảy ra khi một quốc gia thành viên nhập hàng hóa từ một quốc gia thành viên khác thay vì nhập khẩu từ một nước có chi phí thấp hơn nhưng không phái là thành viên của thỏa thuận thương mại tự do. Các tác động này dẫn đến việc phân bổ các nguồn lực sản xuất hiệu quả hơn trong nền kinh tế, góp phần hình thành một cơ cấu kinh tế mới dựa vào các cam kết đã ký giữa các thành viên. Việc bảo hộ bằng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ dẫn đến sự méo mó của thị trường hàng hóa kèm theo các tiêu cực đến phân bổ nguồn lực, tiền lương và việc làm trong nền kinh tế (Krueger, 1983), các ngành có mức độ bảo hộ cao sẽ hoạt động kém hiệu quả so với các ngành có sự bảo hộ thấp (Krueger và cộng sự, 1981).
Krueger (1983) đã kiểm định mối quan hệ của tự do hóa thương mại và quá trình điều chỉnh cơ cấu giữa các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu và các ngành thay thế nhập khẩu ở 10 quốc gia đang phát triển giai đoạn 1970 - 1980, phát hiện từ nghiên cứu cho thấy việc tự do hóa thương mại và chính sách công nghiệp hóa trong quá trình cắt giảm hàng rào thuế quan sẽ nâng cao hiệu quả cho phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh của quốc gia. Cho đến nay, có rất nhiều các nghiên cứu dựa trên các dữ liệu thực chứng về tác động của tự do hóa thương mại đến tăng trưởng kinh tế và thương mại của một quốc gia trên nhiều góc độ khác nhau. Có sự thống nhất chung rằng tự do hóa thương mại sẽ tạo thuận lợi cho dòng thương mại hàng hóa và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thay vì sử dụng các hàng rào thuế quan để bảo hộ (Winters, 2004; Ching, Hsiao, Wan&Wang, 2011). Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra các minh chứng cụ thể về tác động tích cực của tự do hóa thương mại đến các quốc gia phát triển (Greenaway, Morgan&Wright, 2002; Wacziarg&Welch, 2008).
Tóm lại, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra những tác động tích cực của tự do hóa thương mại đối với thương mại hàng hóa và tăng trưởng kinh tế. Từ các tài liệu nghiên cứu tổng hợp, có thể tìm thấy cả lợi ích tĩnh và động từ tự do hóa thương mại. Lợi ích tĩnh từ tự do hóa thương mại đề cập liên quan đến sự cải thiện về sản lượng hoặc phúc lợi xã hội với lượng đầu vào hoặc nguồn cung cấp cố định từ các đối tác. Còn lợi ích động của tự do hóa thương mại mang lại chủ yếu là kết quả từ việc cải thiện năng suất, tăng dự trữ ngoại hối và phúc lợi quốc gia.
Tự do hóa thương mại với các quốc gia bên ngoài sẽ mang lại cơ hội trao đổi theo giá quốc tế hơn là giá trong nước. Cơ hội này luan an 12 mang lại lợi ích từ trao đổi, vì người tiêu dùng trong nước có thể mua hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn và các nhà sản xuất có thể xuất khẩu hàng hóa với giá nước ngoài cao hơn. Hơn nữa, có một lợi ích khác đó là chuyên môn hóa. Thương mại tự do khuyến khích các ngành phân bổ lại sản xuất từ hàng hóa mà nền kinh tế đóng cửa đang sản xuất với chi phí tương đối cao (bất lợi so sánh) sang hàng hóa mà nó đang sản xuất với chi phí tương đối thấp (lợi thế so sánh).
Bằng cách tận dụng lợi thế so sánh của mình trong thương mại quốc tế, một quốc gia có thể tăng tổng sản lượng và phúc lợi xã hội. Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của hiệp định tự do thương mại Dựa trên cơ sở lý thuyết về tự do hóa thương mại, tác giả tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của hiệp định thương mại tự do đến các quốc gia, nhóm ngành và các phương pháp đánh giá tác động của hiệp định tới thương mại của hai quốc gia.