CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình trên thế giới Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và phát triển kinh tế trong các quốc gia đang phát triển là một chủ đề đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà kinh tế trong suốt các nhiều thập kỷ qua. Ngành công nghiệp chế tác là ngành chủ chốt của nền kinh tế và công nghiệp của các quốc gia trên thế giới. Do đó, các vấn đề nghiên cứu về FDI trong ngành công nghiệp chế tác sẽ tiếp tục được nghiên cứu và nhận được nhiều sự quan tâm, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển.
Các nghiên cứu về FDI trong ngành công nghiệp chế tác rất đa dạng, phong phú và ở nhiều phương diện khác nhau. Để tạo tiền đề cho các nghiên cứu, Luận án sẽ trình bày tổng quan các vấn đề nghiên cứu chính về mối quan hệ, sự tác động của FDI tới các ngành công nghiệp chế tác trên các khía cạnh chủ yếu như: công nghệ nhập khẩu, nghiên cứu và triển khai, hiệu ứng tràn, liên kết tích hợp theo chiều dọc, sự lựa chọn công nghệ, đào tạo lao động và tiền lương trong ngành công nghiệp chế tác trong các nước đang phát triển. - FDI với công nghệ nhập khẩu và nghiên cứu triển khai ở địa phương Nguồn vốn FDI là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho các doanh nghiệp địa phương. Để tận dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả, nguồn vốn FDI này thường được kết hợp với công nghệ nhập khẩu và nghiên cứu triển khai ở địa phương.
Trong các nước đang phát triển, các nhà khoa học có nhiều nghiên cứu và quan tâm tới sự kết hợp này. Tuy nhiên các nghiên cứu này có các quan điểm đối lập nhau. Có quan điểm cho rằng, sự kết hợp giữa FDI và công nghệ nhập khẩu là sự thay thế cho nghiên cứu và triển khai ở các doanh nghiệp địa phương. Quan điểm khác lại cho rằng đây là sự kết hợp bổ sung, nghiên cứu và triển khai ở các doanh nghiệp địa phương sẽ biến đổi công nghệ nhập khẩu trở nên phù hợp và thích ứng hơn với điều kiện ở địa phương.
8 Ấn Độ là một quốc gia rất nhiều các nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhập khẩu công nghệ và R&D địa phương. Cùng với quan điểm trên, Lall (1983) khi nghiên cứu về “các nhân tố quyết định đến R&D” cho rằng: mục đích của việc nghiên cứu triển khai trong các doanh nghiệp địa phương là làm cho công nghệ nhập khẩu trở nên thích ứng hơn [78]. Trong một cuộc điều tra về nhập khẩu công nghệ đã tiến hành ở Ấn Độ, Alam (1985) đã chỉ ra rằng khoảng 3/4 các doanh nghiệp địa phương liên quan tới nhập khẩu công nghệ có các hoạt động R&D bổ sung [47]. Trong khi các nghiên cứu khác như Katrak (1985, 1989) nghiên cứu về “nhập khẩu công nghệ ở các nước đang trong quá trình công nghiệp hóa”, Siddhathan (1988) trong nghiên cứu “công nghệ nhập khẩu và quy mô doanh nghiệp”, Siddhathan (1992) nghiên cứu “khu vực tư nhân Ấn Độ về các vấn đề R&D và chuyển giao công nghệ” đã quan sát và khẳng định bản chất bổ sung của mối quan hệ này [68], [69], [100], [101].
Trong một nghiên cứu khác ở Ấn Độ, Kumar (1987) trong nghiên cứu:“ Các công nghệ nhập khẩu và nghiên cứu triển khai ở địa phương trong ngành công nghiệp chế tác ở Ấn Độ” cho rằng, cách thức nhập khẩu công nghệ sẽ ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa công nghệ và nghiên cứu triển khai ở địa phương. Nếu các công ty nhập khẩu là công ty con của các công ty đa quốc gia, các công ty mẹ sẽ không khuyến khích việc nghiên cứu triển khai ở các công ty con vì hoạt động nghiên cứu triển khai ở này đã được thực hiện một cách đầy đủ ở công ty mẹ và các công ty mẹ 9 muốn kiểm soát hoạt động này thông qua hình thức FDI kèm chuyển giao công nghệ. Ngược lại các công ty nhập khẩu không phải là các chi nhánh của các công ty đa quốc gia, các công ty này sẽ lo lắng về khả năng hấp thụ công nghệ, thời gian của hợp đồng công nghệ do sự am hiểu kém hơn về công nghệ nên họ nhanh chóng và gấp rút tiến hành các hoạt động nghiên cứu và triển khai ở địa phương để tận dụng được công nghệ trong thời gian cho phép. Dựa trên quan điểm này, Kumar đã sử dụng một bộ số liệu của ngành công nghiệp Ấn Độ cho giai đoạn 1978 – 1981, đã chỉ ra rằng các giấy phép về tiền bản quyền và phí kỹ thuật miễn phí có tác động tăng cường khả năng hấp thụ công nghệ và nghiên cứu triển khai ở địa phương, trong khi đó FDI thì lại có tác động ngược lại khi mà FDI gây ra sự trì trệ hoạt động nghiên cứu triển khai ở địa phương [74].
Dựa trên quan điểm trên của Kumar (1987) về mối quan hệ giữa hoạt động nghiên cứu triển khai ở địa phương và vấn đề bảo hộ, Subrahmanian (1990) trong nghiên cứu: “ Khả năng công nghệ dưới chế độ bảo hộ mậu dịch tự do: nghiên cứu thực nghiệm trong ngành công nghiệp Ấn Độ ở thập niên 80” đã chỉ ra rằng, chế độ bảo hộ hay tự do hóa sẽ tác động đến hoạt động nghiên cứu triển khai ở địa phương. Dưới chế độ bảo hộ, việc nhập khẩu công nghệ trở nên khó khăn hơn, không thể nhập khẩu công nghệ bất cứ lúc nào nên các doanh nghiệp địa phương dành nhiều thời gian nghiên cứu, đổi mới, cải tiến công nghệ nhập khẩu [102]. Trong một nghiên cứu ở Ấn Độ, Deolalikar và Evenson (1989) trong một nghiên cứu định lượng về : “ Sản xuất và mua sắm công nghệ trong ngành công nghiệp Ấn Độ”, đã sử dụng hàm chi phí bậc hai tổng quát và giả định nghiên cứu triển khai và mua sắm công nghệ phụ thuộc vào đặc trưng của ngành công nghiệp, giá cả công nghệ và nguồn cung cấp công nghệ để đánh giá bộ số liệu của 50 ngành công nghiệp Ấn Độ giai đoạn 1960 – 1970 [59]. Kết quả chỉ ra rằng, có mối liên hệ bổ sung về các phát minh nội địa với công nghệ mua sắm.
Sử dụng mô hình Logit cho một nghiên cứu ở Bra-xin, Braga và Willmore (1991) trong nghiên cứu: “ Nhập khẩu và các nỗ lực công nghệ” đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp nhập khẩu, đa dạng hóa và định hướng xuất khẩu có mối liên hệ có ý nghĩa với nghiên cứu và triển khai 10 công nghệ. Ngoài ra, trong nghiên cứu này cho thấy vấn đề sở hữu, bảo hộ không có tác động nào tới nghiên cứu và triên khai công nghệ địa phương [51]. Các công trình trên đều thể hiện mối quan hệ giữa công nghệ nhập khẩu và nghiên cứu triển khai ở địa phương vừa mang tính chất bổ sung vừa mang tính chất thay thế. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu còn nhiều kết luận chồng chéo, chưa tách bạch rõ ràng về mối quan hệ hai khía cạnh này.
Để đưa ra được các chính sách FDI hiệu quả, việc đánh giá mức độ quan hệ theo khía cạnh thay thế hay bổ sung rất cần thiết trong các nghiên cứu của Việt Nam. Trong thời gian tới, các nghiên cứu về FDI ở Việt Nam cũng cần tập trung và phân tích làm rõ hơn về vấn đề này. - FDI và hiệu ứng tràn về kiến thức và năng suất Caves là một trong những người đầu tiên nghiên cứu định lượng về hiệu ứng tràn. Caves (1974) khi nghiên cứu tổng hợp về các vấn đề thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và thị trường hoàn hảo và nghiên cứu tác động tràn trong các ngành công nghiệp chế tác ở Ô-xtrây-li-a chỉ ra rằng thị phần nước ngoài có tác động dương lên năng suất các doanh nghiệp địa phương.
Với phương pháp nghiên cứu mới và độc đáo nên sau này có rất nhiều nghiên cứu đánh giá tác động tràn theo phương pháp của Caves [53]. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Ô-xtrây- li-a là nước phát triển chứ không phải là nước đang phát triển. Từ sau nghiên cứu này của Caves, có rất nhiều các nghiên cứu về tác động tràn của FDI ở các nước đang phát triển gồm cả châu Á, Mỹ Latinh. Blomstom (1989) và Worff (1989) trong nghiên cứu: “ Công ty đa quốc gia và hội tụ năng suất ở Mê-xi-cô”, đã sử dụng phương pháp của Caves và áp dụng cho trường hợp trong ngành chế tác ở Mê- xi-cô.
Nghiên cứu này đã chỉ ra các tác động tích cực của tỷ trọng số công nhân nước ngoài lên các doanh nghiệp sở hữu địa phương. Đồng thời trong nghiên cứu này, hai tác giả đã chỉ ra sự hội tụ năng suất giữa doanh nghiệp địa phương với doanh nghiệp nước ngoài [49]. Aitken và Harrison (1993), để trả lời câu hỏi: “Liệu các doanh nghiệp nội địa có thu được lợi ích từ đầu tư trực tiếp nước ngoài? ” đã sử dụng dữ liệu panel của các doanh nghiệp Venezuelea cho giai đoạn 1975 - 1989, và sử dụng một phương 11 pháp giống nhau để kiểm tra mối quan hệ giữa thị phần nước ngoài và năng suất trong cả doanh nghiệp địa phương và doanh nghiệp nước ngoài [45]. Kết quả chỉ ra rằng, các doanh nghiệp nội địa có mức năng suất, xuất khẩu, tiền lương thấp hơn các doanh nghiệp nước ngoài.
FDI có tác động âm lên năng suất các doanh nghiệp nội địa trong khi đó có tác động tích cực lên các doanh nghiệp có sự tham gia của phía nước ngoài. Hiệu ứng tác động lên các doanh nghiệp địa phương không đáp ứng được kỳ vọng của nước chủ nhà. Haddad và Harrison (1993), trong nghiên cứu để tìm “các bằng chứng về tác động tràn tích cực về sự tác động của FDI lên năng suất lao động của các doanh nghiệp địa phương” , đã sử dụng số liệu Panel giai đoạn 1985 – 1989 trong ngành công nghiệp chế tác ở Marốc [65]. Nghiên cứu đã chỉ ra không có mối liên hệ đáng kể nào giữa sự hiện diện tăng thêm của phía nước ngoài với tăng trưởng năng suất các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế tác, đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức năng suất lao động trong các doanh nghiệp nước ngoài không cao hơn doanh nghiệp sở hữu bởi địa phương, mặc dù các doanh nghiệp nước ngoài trả tiền lương cao hơn.
Kokko (1994) sử dụng dữ liệu Mê-xi-cô để phân tích “các đặc tính về công nghệ, thị trường và hiệu ứng tràn” đã phát hiện ra rằng sự hấp thụ công nghệ, tăng trưởng năng suất trong các doanh nghiệp địa phương phụ thuộc vào đặc tính của từng ngành công nghiệp.