Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các ngành công nghiệp chế tác ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đặng Qúy Dương, thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế, mã số 62.31.01.06. Luận án tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo hướng kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng, đặt trong bối cảnh thực tiễn phát triển kinh tế và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo lập luận của tác giả, tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu của Việt Nam, đặc biệt là từ sau công cuộc Đổi mới năm 1986 với định hướng đưa đất nước cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Trong tiến trình đó, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xác định là một nguồn lực quan trọng nhằm bổ sung nguồn vốn đầu tư, tiếp nhận chuyển giao công nghệ và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Ở cấp độ vĩ mô, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (được luận án gọi chung là ngành công nghiệp chế tác) giữ vị trí then chốt, đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào GDP và quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia.

Về mặt học thuật, tác giả chỉ ra rằng phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung phân tích tác động của dòng vốn FDI ở cấp độ toàn bộ nền kinh tế (tác động tới tăng trưởng GDP, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung, xuất khẩu vĩ mô). Ngược lại, số lượng các công trình đánh giá tác động của FDI ở cấp độ ngành, đặc biệt là ngành công nghiệp chế tác, còn tương đối hạn chế. Bên cạnh đó, các nghiên cứu chuyên sâu về ngành chế tác hiện có lại có xu hướng phân tách riêng biệt: hoặc nghiêng hoàn toàn về phân tích định tính thuần túy, hoặc chỉ giới hạn ở các mô hình thực nghiệm định lượng cụ thể mà chưa kết hợp một cách đồng bộ. Do đó, luận án lựa chọn khoảng trống nghiên cứu là đánh giá một cách có hệ thống, toàn diện tác động của FDI tới ngành công nghiệp chế tác ở cả hai góc độ tác động trực tiếp và tác động gián tiếp thông qua việc kết hợp cả hai phương pháp định tính và mô hình kinh tế lượng.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận án là phân tích, đánh giá thực trạng tác động của vốn FDI tới các ngành công nghiệp chế tác ở Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tận dụng tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của dòng vốn này. Luận án cụ thể hóa thành 4 mục tiêu nghiên cứu được đánh số như sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về FDI, vốn FDI và các kênh tác động của vốn FDI tới các ngành công nghiệp chế tác.
  2. Phân tích và đánh giá thực trạng tác động của vốn FDI tới các ngành công nghiệp chế tác ở Việt Nam thông qua phân tích định tính và vận dụng mô hình kinh tế lượng.
  3. Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng tới tác động của vốn FDI tới các ngành công nghiệp chế tác ở Việt Nam.
  4. Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm tận dụng các tác động tích cực, đồng thời hạn chế các tác động tiêu cực của vốn FDI tới các ngành công nghiệp chế tác ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các ngành công nghiệp chế tác ở Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Các ngành công nghiệp chế tác đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Toàn bộ tiến trình thu hút và sử dụng dòng vốn FDI trong ngành công nghiệp chế tác từ năm 1988 đến năm 2013. Đối với phần phân tích kinh tế lượng mảng doanh nghiệp, số liệu điều tra thứ cấp được thu thập và khai thác tập trung trong giai đoạn 2003 – 2009.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế, phân chia thành các chủ đề chuyên sâu liên quan trực tiếp đến tác động của FDI đối với khu vực công nghiệp chế tác.

Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Tổng quan tài liệu quốc tế được tác giả cấu trúc theo 6 vấn đề trọng tâm:

  • FDI, công nghệ nhập khẩu và nghiên cứu triển khai (R&D) tại địa phương: Nhóm nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt bổ sung hoặc thay thế giữa công nghệ nhập khẩu và R&D nội địa. Lall (1983) khi nghiên cứu các nhân tố quyết định R&D cho rằng hoạt động R&D địa phương nhằm mục đích thích ứng hóa công nghệ nhập khẩu. Điều tra của Alam (1985) tại Ấn Độ chỉ ra 3/4 doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ có tiến hành R&D bổ sung. Các nghiên cứu của Katrak (1985, 1989), Siddhathan (1988, 1992) khẳng định tính chất bổ sung này. Ngược lại, Kumar (1987) phân tích số liệu công nghiệp Ấn Độ giai đoạn 1978 – 1981 cho thấy FDI có thể làm đình trệ hoạt động R&D của doanh nghiệp địa phương do các công ty đa quốc gia (MNCs) kiểm soát hoạt động này tại công ty mẹ. Subrahmanian (1990) kiểm chứng tác động của chế độ bảo hộ mậu dịch tới R&D tại Ấn Độ thập niên 80. Deolalikar và Evenson (1989) sử dụng hàm chi phí bậc hai tổng quát giai đoạn 1960 – 1970 tại 50 ngành công nghiệp Ấn Độ chỉ ra mối liên hệ bổ sung giữa phát minh nội địa và công nghệ mua ngoài. Braga và Willmore (1991) dùng mô hình Logit tại Bra-xin chứng minh định hướng xuất khẩu gắn liền với nỗ lực R&D.
  • FDI và hiệu ứng tràn về kiến thức, năng suất: Caves (1974) là công trình định lượng đầu tiên chứng minh thị phần nước ngoài có tác động dương tới năng suất doanh nghiệp nội địa tại Ô-xtrây-li-a. Blomstrom và Wolff (1989) áp dụng phương pháp của Caves cho ngành chế tác Mê-xi-cô, xác nhận sự hội tụ năng suất. Trái lại, Aitken và Harrison (1993) sử dụng số liệu bảng giai đoạn 1975 – 1989 tại Venezuela phát hiện FDI có tác động âm tới năng suất doanh nghiệp nội địa. Haddad và Harrison (1993) tại Ma-rốc giai đoạn 1985 – 1989 cũng không tìm thấy mối liên hệ đáng kể giữa sự gia tăng hiện diện của FDI với tăng trưởng năng suất doanh nghiệp chế tác trong nước. Kokko (1994) chỉ ra rằng hiệu ứng tràn chỉ xuất hiện phụ thuộc vào đặc tính ngành và khoảng cách năng lực của doanh nghiệp nội địa. Goldar (1994) nghiên cứu 6 ngành công nghiệp chủ chốt tại Ấn Độ cho thấy công nghệ nhập khẩu thúc đẩy mở rộng quy mô hơn là cải thiện năng suất tổng hợp trong ngắn hạn.
  • FDI và mối liên kết doanh nghiệp: Katz (1969) tại Ác-hen-ti-na khẳng định doanh nghiệp FDI gây áp lực buộc nhà cung ứng địa phương đổi mới kỹ thuật. Kellar (1977), Subrahmanian và Pillai (1979) tại Ấn Độ nhận thấy doanh nghiệp nước ngoài phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu nhiều hơn. Jo (1980) tại Hàn Quốc và Newfarmer, Marsh (1981) tại Bra-xin lý giải việc doanh nghiệp FDI ít mua nguyên liệu nội địa do mạng lưới nhà cung ứng nước ngoài có sẵn và năng lực đáp ứng của công nghiệp địa phương còn yếu.
  • FDI và xuất khẩu của ngành chế tác: Subrahmanian và Pillai (1979), Lall và Streeten (1977), Jenkins (1979) chỉ ra doanh nghiệp FDI phục vụ thị trường nội địa xuất khẩu kém hơn doanh nghiệp trong nước. Morgenstern và Mueller (1976), Fairchild và Sosin (1986) tại khu vực Mỹ Latinh không nhận thấy sự khác biệt đáng kể về xuất khẩu giữa hai khu vực sở hữu. Ngược lại, Nayyar (1978), Blomstrom (1990), Tambunlertchai và Ramstetter (1991) tại Thái Lan khẳng định vai trò tích cực của MNCs đối với mở rộng xuất khẩu. Rao (1994) ghi nhận tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp FDI tại Ấn Độ chỉ dưới 7%. Aitken (1994) áp dụng mô hình Logit tại Mê-xi-cô giai đoạn 1986 – 1990 chỉ ra doanh nghiệp FDI xuất khẩu gấp hai lần doanh nghiệp nội địa và tạo hiệu ứng lan tỏa thông tin thị trường ngoại thương.
  • FDI với sự lựa chọn công nghệ: Courtney và Leipziger (1979) nhận thấy MNCs có xu hướng thâm dụng lao động hơn tại các nước đang phát triển. Forsyth và Solomon (1977), Wells (1973), Mahmood và Hussain (1991) tại Pa-ki-xtan lại kết luận doanh nghiệp FDI có cường độ vốn và năng suất lao động cao hơn doanh nghiệp bản địa. Riedel (1975) tại Đài Loan, Cohen (1975) tại Đài Loan, Hàn Quốc, Xin-ga-po, và Jo (1980) tại Hàn Quốc không thấy sự khác biệt về việc sử dụng công nghệ khi các doanh nghiệp có cùng định hướng xuất khẩu. Chen và Tang (1986, 1987) nghiên cứu gần 200 doanh nghiệp điện tử tại Đài Loan lại phát hiện doanh nghiệp nước ngoài sử dụng nhiều lao động giản đơn hơn.
  • FDI với lao động và tiền lương: Chen (1983) nghiên cứu về việc làm tại MNCs nhận thấy mức lương chênh lệch đáng kể đối với cán bộ quản lý và kỹ thuật, nhưng không có sự khác biệt rõ rệt đối với lao động phổ thông giữa khu vực FDI và doanh nghiệp địa phương.

Các công trình nghiên cứu trong nước

Các công trình trong nước được tác giả phân loại thành ba nhóm:

  • Đánh giá tác động tràn và năng suất: Nguyễn Mại (2003), Nguyễn Thị Phương Hoa (2004), Đoàn Ngọc Phúc (2003), Lê Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh (2005) đánh giá đóng góp của FDI vào tăng trưởng kinh tế vĩ mô. Lê Thanh Thủy (2007) sử dụng hàm Cobb-Douglas chỉ ra khoảng cách công nghệ quyết định chiều hướng tác động tiêu cực hay tích cực. Lê Quốc Hội (2008) phân tích dữ liệu 2000 – 2004 nhận thấy sự hiện diện của FDI làm tăng năng suất nhưng làm thu hẹp quy mô sản xuất của doanh nghiệp nội địa do áp lực cạnh tranh; Lê Quốc Hội (2011) tiếp tục làm rõ hiệu ứng tràn công nghệ. Nguyễn Ngọc Anh và cộng sự (2008) tìm thấy tác động dương lên năng suất qua dịch chuyển lao động trong ngành chế biến chế tạo nhưng không thấy tác động lên sản lượng. Nguyễn Phi Lân (2008) dùng số liệu giai đoạn 2000 – 2005 chỉ ra tác động dương ở liên kết ngang nhưng tác động âm ở liên kết dọc. Nguyễn Khắc Minh (2009) dùng phương pháp bán tham số, FEM và REM cho giai đoạn 2000 – 2005 chưa tìm thấy bằng chứng tin cậy về tác động của FDI lên năng suất doanh nghiệp nội địa. Chuc D. Nguyen và Gary Simpson (2008), Sajid Anwar và Lan Phi Nguyen (2010) tập trung nghiên cứu năng lực hấp thụ và hiệu ứng tràn.
  • Thu hút và sử dụng FDI: Nguyễn Kim Bảo (1996), Nguyễn Huy Thám (1999), Nguyễn Thị Hường và Bùi Huy Nhượng (2003), Bùi Huy Nhượng (2006), Đinh Văn Ân và Nguyễn Thị Tuệ Anh (2008), Ngô Thu Hà (2009), Bùi Thúy Vân (2010) tập trung vào kinh nghiệm quốc tế, rào cản chính sách và cơ chế xúc tiến đầu tư.
  • Tác động trực tiếp về cơ cấu, việc làm, ngân sách: Nguyễn Trọng Hải (2009), Trần Ngọc Thìn (2010), Bùi Thúy Vân (2010), Nguyễn Tiến Long (2012), Đỗ Hoàng Long (2008), Nguyễn Thị Ái Liên (2011) sử dụng các chỉ tiêu thống kê mô tả để phân tích đóng góp của FDI vào nguồn vốn, ngân sách, việc làm và chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Từ việc tổng kết các công trình trên, tác giả xác định khoảng trống học thuật: Chưa có công trình nào tại Việt Nam nghiên cứu một cách toàn diện, đồng bộ tác động của FDI đối với riêng ngành công nghiệp chế tác bằng việc kết hợp cả phân tích định tính về tác động trực tiếp và mô hình kinh tế lượng mảng về tác động gián tiếp (phân định rõ liên kết ngang và liên kết dọc xuôi, ngược thông qua bảng cân đối liên ngành I-O) theo từng cấp phân ngành và từng cấp độ công nghệ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên cơ sở khái niệm FDI theo quy định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam (Mục 2 và Mục 12 - Điều 3). Tác giả khái quát: Vốn FDI là nguồn vốn do nhà đầu tư nước ngoài chuyển dịch sang nước tiếp nhận đầu tư để trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi ích dài hạn.

Luận án vận dụng 3 lý thuyết kinh tế quốc tế làm nền tảng phân tích:

  1. Lý thuyết về quyền lực thị trường: Lý giải hành vi FDI theo chiều rộng và chiều dọc của các tập đoàn độc quyền nhóm nhằm kiểm soát nguồn nguyên liệu khan hiếm và thiết lập rào cản ngăn chặn đối thủ thâm nhập ngành.
  2. Lý thuyết chiết trung (Mô hình OLI của John Dunning): Khẳng định quyết định đầu tư FDI chỉ xuất hiện khi doanh nghiệp nắm giữ đồng thời 3 lợi thế: Lợi thế sở hữu (Ownership - bản quyền, công nghệ, kỹ năng quản lý), Lợi thế địa điểm (Location - tài nguyên, chi phí lao động, quy mô thị trường) và Lợi thế nội bộ hóa (Internalization - khắc phục chi phí giao dịch thị trường và bảo vệ bí quyết công nghệ).
  3. Lý thuyết năng suất biên của vốn đầu tư (Helpman, Sibert và Richard): Giải thích sự luân chuyển vốn quốc tế bắt nguồn từ chênh lệch năng suất cận biên của vốn giữa các quốc gia dư thừa vốn (năng suất cận biên thấp) và các quốc gia khan hiếm vốn (năng suất cận biên cao).

Khung phân tích tác động của luận án được chia tách thành hai trục:

  • Tác động trực tiếp: Tác động tới tổng vốn đầu tư; Tăng trưởng sản lượng; Chuyển dịch cơ cấu ngành; Thúc đẩy xuất khẩu; Đóng góp ngân sách nhà nước và giải quyết việc làm; Hình thành các ngành công nghiệp mới; Thúc đẩy hình thành và phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ.
  • Tác động gián tiếp: Lan tỏa qua 4 kênh: Kênh áp lực cạnh tranh; Kênh chuyển giao công nghệ và hoạt động R&D; Kênh đào tạo và di chuyển lao động; Kênh liên kết dọc (liên kết ngược và liên kết xuôi) và liên kết ngang giữa các doanh nghiệp.
Trục tác động Kênh biểu hiện / Truyền dẫn cụ thể Cơ chế tác động
Tác động trực tiếp - Bổ sung tổng vốn đầu tư
- Tăng trưởng sản lượng công nghiệp
- Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp chế tác
- Đẩy mạnh xuất khẩu hàng chế tác
- Nộp ngân sách nhà nước và tạo việc làm
- Hình thành ngành công nghiệp mới
- Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ
- Tăng cường nguồn lực đầu vào trực tiếp cho khu vực sản xuất.
- Mở rộng năng lực sản xuất và quy mô cung ứng hàng hóa.
- Thay đổi tỷ trọng các phân ngành theo hướng công nghiệp hóa.
- Khai thác mạng lưới tiêu thụ toàn cầu của MNCs.
- Mở rộng diện thu ngân sách và huy động nguồn nhân lực.
- Du nhập các quy trình sản xuất chưa từng có trong nước.
- Tạo lập nhu cầu đối ứng cho các nhà cung cấp phụ trợ.
Tác động gián tiếp - Kênh cạnh tranh
- Kênh chuyển giao công nghệ và R&D
- Kênh đào tạo và dịch chuyển lao động
- Kênh liên kết ngang và liên kết dọc
- Tạo sức ép buộc doanh nghiệp nội địa nâng cao hiệu quả hoặc đẩy lui doanh nghiệp yếu thế.
- Thúc đẩy thích ứng công nghệ và lan tỏa kỹ thuật quản lý.
- Cung cấp nguồn lao động kỹ thuật cao cho thị trường nội địa sau quá trình làm việc tại FIEs.
- Tương tác mua bán hàng hóa trung gian thông qua liên kết xuôi và ngược.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án triển khai các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp thống kê mô tả: Thu thập, tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê, báo cáo của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Công Thương.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đánh giá các khía cạnh tích cực, hạn chế và nguyên nhân thực trạng thu hút, phân bổ vốn FDI trong ngành chế tác.
  • Phương pháp mô hình hóa: Sử dụng hệ thống biểu đồ, sơ đồ trực quan để phân tích xu hướng tăng trưởng và cơ cấu giá trị sản xuất.
  • Phương pháp phân tích kinh tế lượng:
    • Thiết kế cấu trúc dữ liệu mảng (Panel Data).
    • Ước lượng thông qua Mô hình tác động cố định (FEM - Fixed Effects Model) và Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM - Random Effects Model).
    • Sử dụng phần mềm kinh tế lượng Stata và Eviews để xử lý các mô hình hồi quy.
    • Xây dựng biến số phản ánh mối liên kết ngang (Horizontal) và liên kết dọc (bao gồm liên kết ngược - Backward và liên kết xuôi - Forward) bằng cách tích hợp hệ số kỹ thuật từ Bảng cân đối liên ngành (Input-Output Table - I-O).
  • Phương pháp tham vấn chuyên gia: Lấy ý kiến các chuyên gia và nhà quản lý thuộc Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp thường niên của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2003 – 2009 làm cơ sở cho mô hình hồi quy mảng cấp ngành cấp 2 và ngành cấp 3.
  • Bảng cân đối liên ngành (I-O) của Việt Nam phục vụ tính toán các biến liên kết kinh tế giữa các phân ngành.
  • Chuỗi số liệu vĩ mô và ngành về vốn đầu tư, kim ngạch xuất nhập khẩu phân loại theo SITC, cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 1988 – 2013.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình khoa học liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về sự tác động của vốn FDI tới nền kinh tế nói chung và các ngành công nghiệp chế tác nói riêng. Tác giả phân tích chi tiết các kết quả nghiên cứu thực nghiệm quốc tế trên 6 khía cạnh: công nghệ nhập khẩu và R&D nội địa; hiệu ứng tràn về năng suất; liên kết cung ứng dọc; hoạt động xuất khẩu; lựa chọn công nghệ thâm dụng lao động hay thâm dụng tư bản; tác động tới cơ cấu tiền lương.

Tại Việt Nam, chương này điểm lại các nghiên cứu từ sau năm 1988, nhận định phần lớn các công trình dừng lại ở góc độ toàn bộ nền kinh tế hoặc nghiên cứu định lượng riêng rẽ mà chưa gắn kết với khung phân tích định tính toàn diện theo ngành. Kết luận chương khẳng định rõ khoảng trống khoa học và sự cần thiết phải thực hiện đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và mô hình đánh giá tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới ngành công nghiệp chế tác

Chương 2 làm rõ các vấn đề lý luận về FDI, bản chất của nguồn vốn FDI, và hệ thống ba lý thuyết giải thích động cơ dòng vốn: lý thuyết quyền lực thị trường, mô hình OLI của Dunning và lý thuyết năng suất biên của vốn. Luận án xây dựng khung phân tích tác động trực tiếp gồm 7 chỉ tiêu (vốn, sản lượng, cơ cấu, xuất khẩu, ngân sách, việc làm, ngành mới, công nghiệp hỗ trợ) và tác động gián tiếp qua 4 kênh truyền dẫn (cạnh tranh, chuyển giao công nghệ, nguồn nhân lực, liên kết ngang và dọc).

Trên cơ sở đó, tác giả thiết lập mô hình kinh tế lượng sử dụng dữ liệu mảng (áp dụng FEM và REM, xử lý trên Eviews và Stata) có bổ sung các biến liên kết tính từ bảng I-O. Chương này cũng phân tích 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả tác động của FDI: môi trường đầu tư, chiến lược phát triển ngành, đặc điểm ngành chế tác, đặc điểm chủ đầu tư quốc tế và đặc điểm vận động của dòng vốn FDI.

Chương 3: Thực trạng tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các ngành công nghiệp chế tác ở Việt Nam

Chương 3 là chương nội dung thực chứng trung tâm của luận án, được triển khai qua các nội dung và dữ liệu cụ thể:

  • Khái quát ngành chế tác: Phân tích vị trí chủ chốt của ngành chế tác qua hệ thống bảng thống kê: Danh mục ngành chế tác (Bảng 3.1); Tỷ trọng lao động và số doanh nghiệp giai đoạn 2008 – 2013 (Bảng 3.2); Năng suất ngành chế tác giai đoạn 2008 – 2013 (Bảng 3.3); Cơ cấu giá trị sản xuất (GTSX) ngành công nghiệp giai đoạn 2008 – 2013 (Bảng 3.4); Đóng góp của chế tác vào GDP giai đoạn 2008 – 2013 (Bảng 3.5); Cơ cấu xuất khẩu các ngành và phân loại theo SITC giai đoạn 2008 – 2013 (Bảng 3.6, 3.7, 3.8); Tốc độ tăng trưởng GTSX chế tác 1996 – 2013 (Hình 3.1).
  • Tình hình thu hút FDI: Thống kê dòng vốn FDI vào Việt Nam và vào ngành chế tác giai đoạn 1988 – 2013 (Bảng 3.9, 3.10, 3.11); Cơ cấu FDI theo hình thức đầu tư và địa phương tiếp nhận giai đoạn 1988 – 2013 (Bảng 3.12, 3.13); Tỷ trọng vốn FDI đăng ký vào các ngành chế tác trình độ công nghệ thấp, trung bình và công nghệ cao giai đoạn 2000 – 2012 (Bảng 3.14, 3.15, 3.16).
  • Thực trạng tác động trực tiếp: Tác giả phân tích dữ liệu GTSX khu vực FDI trong ngành chế tác giai đoạn 2000 – 2013 (Hình 3.2, 3.3); Tỷ trọng GTSX của ngành chế tác khu vực FDI phân theo trình độ và phân ngành giai đoạn 2005 – 2011 (Bảng 3.17, 3.18); Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI ngành chế tác giai đoạn 2000 – 2009 và số liệu năm 2013 (Bảng 3.19, 3.20).
  • Thực trạng tác động gián tiếp và kết quả kinh tế lượng: Mô tả số liệu thống kê ngành cấp 2 (Bảng 3.21) và ngành cấp 3 (Bảng 3.22). Kết quả hồi quy kinh tế lượng cho toàn bộ ngành cấp 2 (Bảng 3.23) và ngành cấp 3 (Bảng 3.24) xác định:
    • Nguồn vốn FDI đóng góp tích cực vào tăng trưởng sản lượng toàn ngành và thúc đẩy xuất khẩu.
    • Tuy nhiên, khi xét chi tiết ở cấp ngành cấp 2, ngành cấp 3, cũng như các ngành cấp 3 có trình độ công nghệ thấp và trình độ công nghệ trung bình, các biến liên kết xuôi và liên kết ngược giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước đều mang hệ số âm, biểu thị tác động làm suy giảm sản lượng của các doanh nghiệp nội địa.
    • Riêng đối với nhóm ngành công nghiệp chế tác cấp 3 có trình độ công nghệ cao, mối liên kết với khu vực FDI không gây ra tác động tiêu cực tới sản lượng của doanh nghiệp trong nước. Tác giả lý giải nguyên nhân là do các doanh nghiệp nội địa hoạt động trong nhóm ngành công nghệ cao sở hữu tiềm lực nội tại, quy mô vốn và năng lực hấp thụ công nghệ tốt hơn.
  • Đánh giá tổng quát: Luận án chỉ rõ các kết quả tích cực (bổ sung vốn, mở rộng quy mô, nâng cao kim ngạch xuất khẩu), đồng thời nhận diện các mặt hạn chế (FDI tập trung nhiều vào các phân ngành công nghệ thấp nhằm khai thác lao động giá rẻ, giá trị gia tăng nội địa thấp, hiệu ứng lấn át doanh nghiệp nội địa, ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển tương xứng) và phân tích các nguyên nhân cốt lõi.

Chương 4: Quan điểm, giải pháp tận dụng tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các ngành công nghiệp chế tác ở Việt Nam

Chương 4 phân tích bối cảnh kinh tế quốc tế và trong nước giai đoạn mới, từ đó xây dựng định hướng chiến lược. Tác giả đề xuất 8 quan điểm có tính định hướng cho giai đoạn tiếp theo:

  1. Xác định nguồn vốn FDI là nguồn vốn chiến lược và quan trọng của ngành công nghiệp chế tác.
  2. Ngành công nghiệp chế tác cần coi việc được chuyển giao công nghệ hiện đại là một trong các lợi ích căn bản.
  3. Nguồn vốn FDI trong ngành chế tác phải đóng vai trò quan trọng vào việc đào tạo đội ngũ nhân lực.
  4. Thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
  5. Đặc biệt coi trọng mối liên kết hợp tác giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
  6. Xác định việc phát triển cụm công nghiệp hỗ trợ ngành chế tác giữ vai trò quan trọng để tận dụng tác động tích cực của vốn FDI.
  7. Cần coi trọng đồng bộ cả khâu thu hút và khâu sử dụng nguồn vốn FDI trong ngành chế tác.
  8. Chiến lược về FDI của ngành chế tác phải đặt trong mối quan hệ gắn kết với các chính sách kinh tế - xã hội tổng thể.

Dựa trên các quan điểm đó, luận án đề xuất hệ thống 2 nhóm giải pháp chính:

  • Nhóm giải pháp tận dụng tác động tích cực: Tăng cường tính hiệu quả của các mối liên doanh, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI; Quy hoạch và phát triển các cụm công nghiệp hỗ trợ chuyên sâu cho ngành chế tác; Gia tăng nguồn lực cho công tác nghiên cứu và triển khai (R&D).
  • Nhóm giải pháp hạn chế tác động tiêu cực: Điều chỉnh chính sách thu hút FDI theo hướng sàng lọc, hạn chế tối đa các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, giá trị gia tăng thấp; Tăng cường cơ chế giám sát và nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ thực chất; Thiết lập các chính sách hỗ trợ hợp lý của Nhà nước đối với các ngành công nghiệp non trẻ trong nước nhằm giảm thiểu tổn thương từ áp lực cạnh tranh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận

  • Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý luận phân tích tác động của dòng vốn FDI đối với riêng ngành công nghiệp chế tác theo hai chiều kích: tác động trực tiếp (bao gồm 7 phương diện: tổng vốn đầu tư, tăng trưởng sản lượng, chuyển dịch cơ cấu ngành, xuất khẩu, thu nộp ngân sách và giải quyết việc làm, thiết lập ngành công nghiệp mới, hình thành ngành công nghiệp hỗ trợ) và tác động gián tiếp (bao gồm 4 kênh: áp lực cạnh tranh, chuyển giao công nghệ và R&D, đào tạo nhân lực, các liên kết kinh tế ngang và dọc).
  • Bổ sung phương pháp lượng hóa mối liên kết kinh tế dọc (liên kết ngược và liên kết xuôi) bằng cách tích hợp ma trận hệ số kỹ thuật từ Bảng cân đối liên ngành (I-O) vào mô hình hồi quy dữ liệu mảng của ngành chế tác.

Những phát hiện mới rút ra từ nghiên cứu thực nghiệm

  • Về tác động tổng thể: Nguồn vốn FDI có tác động tích cực rõ rệt trong việc mở rộng sản lượng, thúc đẩy quy mô xuất khẩu và hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu ngành chế tác theo hướng công nghiệp hóa.
  • Về tác động liên kết theo phân ngành và trình độ công nghệ: Kết quả ước lượng mô hình cho thấy tại các ngành chế tác cấp 2, ngành chế tác cấp 3, và đặc biệt là nhóm ngành cấp 3 có trình độ công nghệ thấp và trung bình, mối liên kết xuôi và liên kết ngược giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước tạo ra tác động tiêu cực, làm suy giảm sản lượng của các doanh nghiệp nội địa. Ngược lại, nhóm ngành chế tác cấp 3 có trình độ công nghệ cao không phải chịu tác động tiêu cực này, do các doanh nghiệp nội địa trong nhóm ngành này có năng lực cạnh tranh và khả năng hấp thụ tốt hơn.
  • Về mặt giải pháp chính sách: Luận án xác lập hệ thống 8 quan điểm tiếp cận và đề xuất 2 nhóm giải pháp đồng bộ (tận dụng tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực), tập trung vào các mắt xích: phát triển cụm công nghiệp hỗ trợ, tăng cường liên kết chuỗi cung ứng, hạn chế thu hút dự án FDI công nghệ thấp và bảo hộ có chọn lọc ngành công nghiệp non trẻ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Do điều kiện tiếp cận nguồn dữ liệu thống kê mảng doanh nghiệp tại thời điểm nghiên cứu, bộ số liệu mảng phục vụ phân tích kinh tế lượng chỉ bao gồm giai đoạn 2003 – 2009. Dữ liệu thống kê vĩ mô phản ánh thực trạng dừng ở mốc thời gian năm 2013, do đó chưa bao quát được các biến động của dòng vốn FDI và ngành chế tác trong các giai đoạn sau. Ngoài ra, luận án tập trung chủ yếu vào khía cạnh kinh tế và kỹ thuật công nghệ, chưa đi sâu đánh giá các tác động xã hội và môi trường của FDI trong ngành chế tác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng chuỗi số liệu mảng doanh nghiệp cho các giai đoạn tiếp sau; đi sâu kiểm định thực nghiệm tác động của FDI theo từng phân ngành sản phẩm hẹp; phân tích tác động tràn của FDI gắn với các yếu tố thể chế địa phương và các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường sinh thái trong sản xuất công nghiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên ngành Kinh tế quốc tế, Quản lý kinh tế: Luận án là tài liệu tham khảo về khung lý thuyết OLI, quyền lực thị trường và năng suất biên của vốn, cũng như quy trình xây dựng biến liên kết dọc từ bảng I-O để xử lý dữ liệu mảng trên Stata và Eviews.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Cục Đầu tư nước ngoài): Chương 3 và Chương 4 cung cấp cơ sở thực chứng để đánh giá các khía cạnh hạn chế của việc thu hút FDI công nghệ thấp; từ đó điều chỉnh chính sách ưu đãi đầu tư, tập trung phát triển mạng lưới cụm công nghiệp hỗ trợ và gia tăng giá trị nội địa trong chuỗi sản xuất chế tác.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia tác động gián tiếp của vốn FDI tới ngành công nghiệp chế tác qua những kênh truyền dẫn nào?

Luận án xác định 4 kênh truyền dẫn gián tiếp gồm:

  • Kênh cạnh tranh (tạo áp lực cạnh tranh về thị trường tiêu thụ, chi phí và nguồn lực đầu vào đối với doanh nghiệp trong nước).
  • Kênh chuyển giao công nghệ và hoạt động nghiên cứu triển khai (R&D).
  • Kênh đào tạo và dịch chuyển nguồn nhân lực.
  • Kênh liên kết giữa các doanh nghiệp theo chiều ngang và chiều dọc.

2. Mô hình kinh tế lượng của luận án chỉ ra phát hiện thực nghiệm gì về mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa?

Kết quả hồi quy mô hình dữ liệu mảng cho thấy: Tại các ngành cấp 2, ngành cấp 3, và các ngành cấp 3 có trình độ công nghệ thấp hoặc trung bình, các mối liên kết xuôi và liên kết ngược với khu vực FDI đều có tác động tiêu cực làm sụt giảm sản lượng của doanh nghiệp nội địa. Riêng đối với nhóm ngành chế tác cấp 3 có trình độ công nghệ cao, mối liên kết này không mang lại tác động tiêu cực, do doanh nghiệp trong nước ở nhóm này có nội lực và năng lực liên kết tốt hơn.

3. Tác giả sử dụng những mô hình kinh tế lượng và phần mềm nào để xử lý số liệu?

Luận án sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu mảng (Panel Data) với hai mô hình ước lượng là Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) và Mô hình tác động cố định (FEM). Các mô hình được tính toán và kiểm định thông qua hai phần mềm kinh tế lượng là Stata và Eviews.

4. Dữ liệu phân tích thực nghiệm của luận án được lấy từ nguồn nào và trong giai đoạn nào?

Dữ liệu phân tích thực trạng vĩ mô của ngành chế tác và dòng vốn FDI được thu thập trong giai đoạn 1988 – 2013 từ Tổng cục Thống kê và Cục Đầu tư nước ngoài. Dữ liệu thứ cấp phục vụ mô hình kinh tế lượng mảng được khai thác từ cuộc điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2003 – 2009. Các biến liên kết ngang và dọc được tính toán dựa trên Bảng cân đối liên ngành (I-O).

5. Tác giả đề xuất những giải pháp trọng tâm nào để hạn chế tác động tiêu cực của dòng vốn FDI?

Luận án đề xuất ba giải pháp trọng tâm nhằm hạn chế tác động tiêu cực:

  • Điều chỉnh chính sách nhằm hạn chế tối đa việc thu hút FDI vào các phân ngành công nghiệp có trình độ công nghệ thấp và tạo ra ít giá trị gia tăng.
  • Tăng cường kiểm soát và nâng cao hiệu quả thực chất của hoạt động chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp nước ngoài.
  • Thực hiện các chính sách hỗ trợ phù hợp từ phía Nhà nước đối với các ngành công nghiệp non trẻ trong nước trước áp lực cạnh tranh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Qúy Dương đã cung cấp một bức tranh toàn diện và có hệ thống về thực trạng tác động của dòng vốn FDI đối với ngành công nghiệp chế tác tại Việt Nam giai đoạn 1988 – 2013. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích định tính về tác động trực tiếp và mô hình kinh tế lượng dữ liệu mảng về tác động gián tiếp (tích hợp bảng cân đối liên ngành I-O), công trình đã chứng minh được sự phân hóa tác động của mối liên kết kinh tế theo từng nhóm trình độ công nghệ. Các kết quả nghiên cứu, cùng với hệ thống 8 quan điểm và 2 nhóm giải pháp đề xuất, là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị cho công tác nghiên cứu học thuật và hoạch định chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp chế tác tại Việt Nam.