Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Đô thị hóa là quá trình phát triển kinh tế - xã hội mang tính quy luật trên phạm vi toàn cầu. Theo số liệu của Liên hợp quốc (2019), hơn một nửa dân số thế giới (khoảng 4,2 tỷ người) sống tại các khu vực đô thị và con số này dự kiến đạt 6 tỷ người vào năm 2041. Tại Việt Nam, sau thời kỳ Đổi mới, tiến trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, nâng tỷ lệ đô thị hóa từ khoảng 18% với 500 đô thị năm 1990 (Đào Đức Hưởng & cs.) lên 39,3% với 833 đô thị vào tháng 6 năm 2020. Các khu vực đô thị đóng góp khoảng 70% tổng thu ngân sách quốc gia và duy trì mức tăng trưởng kinh tế bình quân 10 - 12%/năm (Bích Ngọc, 2020).
Tuy nhiên, quá trình này cũng phát sinh nhiều bất cập: quy hoạch thiếu đồng bộ, hạ tầng kỹ thuật và xã hội quá tải, công tác quản lý đất đai nảy sinh nhiều vướng mắc, khiếu nại gia tăng và sinh kế của bộ phận nông dân bị thu hồi đất gặp nhiều biến động.
Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An là trung tâm kinh tế, văn hóa của vùng Bắc Trung Bộ (Thủ tướng Chính phủ, 2015) và giữ vị trí đầu mối kết nối hành lang kinh tế Đông - Tây giữa Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanmar. Từ khi được công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh năm 2008 (Thủ tướng Chính phủ, 2008), thành phố Vinh có tốc độ đô thị hóa nhanh, đóng góp từ 33,52% đến 37,16% tổng thu ngân sách của tỉnh Nghệ An, với thu nội địa năm 2019 đạt 2.327,8 tỷ đồng.
Quá trình mở rộng không gian đô thị dẫn đến việc thu hồi khối lượng lớn đất nông nghiệp, làm biến động sâu sắc cơ cấu sử dụng đất, đẩy giá đất ở tăng cao, làm phức tạp công tác giải quyết khiếu nại, đồng thời tác động trực tiếp đến việc làm và đời sống của các hộ nông dân ven đô. Xuất phát từ thực tế đó, luận án tập trung giải quyết khoảng trống nghiên cứu về việc định lượng mức độ tác động của các nhân tố đô thị hóa đến công tác quản lý đất đai (giá đất, khiếu nại), cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và các tiêu chí sinh kế, việc làm của người dân tại địa bàn nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa đến quản lý, sử dụng đất, đời sống và việc làm của người dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý, sử dụng đất và đảm bảo đời sống, việc làm của người dân sau khi bị thu hồi đất tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong quá trình đô thị hóa.
Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng đô thị hóa của thành phố Vinh và tác động của đô thị hóa đến quản lý, sử dụng đất đai như thế nào?
- Tác động của đô thị hóa ảnh hưởng như thế nào đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp?
- Cần có những giải pháp gì để quản lý, sử dụng đất đai được hiệu quả hơn?
- Cần có những giải pháp gì để đảm bảo đời sống, giải quyết việc làm cho người dân và thúc đẩy quá trình đô thị hóa được diễn ra nhanh hơn?
Đối tượng nghiên cứu
- Giá đất, giải quyết khiếu nại đất đai và tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong quá trình đô thị hóa.
- Đời sống và việc làm của người nông dân bị thu hồi đất tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong quá trình đô thị hóa.
Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đánh giá mức độ tác động của quá trình đô thị hóa đến các nội dung trọng điểm của quản lý nhà nước về đất đai (biến động giá đất ở, giải quyết khiếu nại đất đai), biến động sử dụng đất nông nghiệp; phân tích định lượng mức độ tác động của đô thị hóa đến các chỉ tiêu đời sống và việc làm của hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, từ đó xác lập hệ thống giải pháp can thiệp.
- Về không gian: Địa bàn các phường và xã thuộc thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (gồm 25 đơn vị hành chính cấp xã: 16 phường và 9 xã).
- Về thời gian: Số liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập, phân tích trong giai đoạn từ năm 2008 (thời điểm thành phố Vinh được công nhận là đô thị loại I) đến hết năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trên thế giới xoay quanh mối quan hệ giữa mở rộng đô thị, biến động đất đai và an sinh xã hội:
- Tác động đến đất đai và an ninh lương thực: Christopher & cs. (2017) dự báo mở rộng đô thị toàn cầu đến năm 2030 làm suy giảm 1,8 - 2,4% diện tích đất canh tác, trong đó 80% diện tích bị mất tập trung tại châu Á và châu Phi với năng suất đất cao gấp đôi mức bình quân. Tại Trung Quốc, nghiên cứu của Gao & cs. (2010), Li (2011), Long & cs., Yang & Li (2000), Bao & Wu (2002), Lin & Ho (2003), Lu & cs. (2013), Tan & cs. (2005) và Jiang & cs. (2013) chỉ rõ sự chuyển đổi ồ ạt đất nông nghiệp sang đất công nghiệp, thương mại và hạ tầng gây sức ép nghiêm trọng lên an ninh lương thực, đồng thời làm tăng giá đất đô thị từ 310% đến 530% trong giai đoạn 2000 - 2010 (DRC, 2013; World Bank, 2014).
- Tác động đến môi trường và quản trị sinh thái: Burak Guneralp & cs. (2017) phân tích áp lực của phát triển đô thị lên hệ sinh thái tại châu Phi; Rahman (2007) cùng Netzband & Rahman (2007) khảo cứu sự suy giảm đất nông nghiệp (giảm hơn 11.000 ha từ 1992 đến 2004) và suy thoái sườn núi Delhi tại Ấn Độ do bùng nổ dân số và di cư cơ học.
- Kinh nghiệm ứng phó chính sách: Vương Diện Phương & Lưu Chị Kiệt (2014) cùng Nguyễn Đình Bồng (2008) điểm lại 127 kế hoạch tái quy hoạch và sử dụng đất công tại New York (Hoa Kỳ). Tại Hàn Quốc, các nghiên cứu của Vũ Tuyết Loan (2007), Choi & Wang (2017), Kim & Han (2012), Gelézeau (2007), Hannah & cs. (1993), Hyung & Sun (2012), Diệu Linh (2011) và Hye (2011) tổng kết việc thành lập Công ty Nhà ở Quốc gia (1962), Ngân hàng Nhà ở (1967), Quỹ Nhà ở Quốc gia (1981) và chính sách phân định nghiêm ngặt "diện tích đất trồng trọt tuyệt đối" nhằm bảo vệ quỹ đất lúa trong điều kiện tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 24,4% (1955) lên 81,8% (2020).
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
- Quản lý và cơ cấu đất đai: Đào Thị Thanh Lam & cs. (2013), Nguyễn Thị Hải & Huỳnh Văn Chương (2015), Đỗ Thị Thanh Huyền (2020) và Phạm Sỹ Liêm (2009, 2013) phân tích áp lực đô thị hóa lên công tác thu hồi, giao đất, cho thuê đất, định giá và giải quyết tranh chấp. Nguyễn Hữu Ngữ & cs. (2015), Nguyễn Thị Hoài Phương (2017), Vũ Vân Anh & Nguyễn Thị Thu Trang (2020), Trần Trọng Phương & cs. chứng minh mối tương quan nghịch giữa tốc độ mở rộng đô thị và diện tích đất nông nghiệp.
- Xã hội và sinh kế ven đô: Phạm Thị Nhâm & Phan Thị Vân Anh (2020) chỉ ra các mâu thuẫn xã hội và sự phân hóa giàu nghèo khu vực ngoại vi khi đất đai bị chuyển đổi mục đích. Báo cáo của Tổng cục Thống kê (2009, 2019) và Bộ Xây dựng (2021) ghi nhận sự dịch chuyển cơ cấu lao động từ nông nghiệp (giảm từ 53,9% năm 2009 xuống 35,3% năm 2019) sang công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
Khoảng trống nghiên cứu của luận án
Phần lớn các công trình trong nước tiếp cận định tính hoặc chỉ phân tích thống kê mô tả biến động đất đai chung. Luận án của tác giả Trần Thái Yên lựa chọn giải quyết khoảng trống: kết hợp phương pháp mô hình hóa kinh tế lượng để đo lường cụ thể trọng số và tỷ lệ phần trăm tác động của quá trình đô thị hóa (bên cạnh các nhóm nhân tố về chính sách, thị trường, hạ tầng, đặc tính hộ) tới 4 khía cạnh cụ thể tại thành phố Vinh: (1) giá đất ở, (2) tình hình khiếu nại đất đai, (3) đời sống hộ gia đình nông thôn và (4) cơ cấu việc làm của lao động bị thu hồi đất.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm đất đai và đất đô thị: Luận án tiếp thu quan điểm của William, Dokuchaev (dẫn theo Vũ Ngọc Tuyên, 1994), Hoàng Phê & cs. (2020), FAO (1990, 1995b), Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), William Petty ("Lao động là cha, đất đai là mẹ của của cải") và Phan Huy Chú (dẫn theo Nguyễn Dũng Tiến, 2009). Đất đô thị được phân chia theo 3 khu vực: trung tâm đô thị, quy hoạch phát triển và vùng quản lý hành chính (Phạm Sỹ Liêm, 2009; Đỗ Hậu & Nguyễn Đình Bồng, 2012).
- Khái niệm và đặc điểm đô thị hóa: Tiếp cận theo các góc độ nhân khẩu học, địa lý kinh tế, hành chính pháp lý và xã hội học (Nguyễn Thế Bá, 1999, 2004; Luật Đô thị, 2020; Friedmann, 2006; Xu & cs., 2020; Davis K, 1965; Alan & cs.; Kamete, 1999; Angel & cs.; United Nations, 2018; Đàm Trung Phường, 2005; Phạm Kim Giao & cs.; Nguyễn Văn Chính, 1997; Trần Thị Bích Huyền, 2011). Luận án phân biệt 3 hình thái: đô thị hóa nông thôn, đô thị hóa ngoại vi và đô thị hóa giả tạo.
- Quản lý và sử dụng đất đai: Dựa trên định nghĩa của Liên hợp quốc (United Nations, 1996), Engelke & Vancutsem (2012), Georgia (2001), Đỗ Nguyên Hải (2000), Vương Quang Viễn (2002), Nhan Ái Tĩnh (2002). Đánh giá hiệu quả sử dụng đất dựa trên hệ thống chỉ tiêu của FAO (1990) và TCVN 8409:2012. Bốn công cụ quản lý nhà nước gồm: công cụ pháp luật, công cụ quy hoạch - kế hoạch (Quốc hội, 2013; Phan Thị Thanh Huyền & cs.; Trần Khải, 2007; Lê Thái Bạt, 2010; Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2009), công cụ tài chính (Phan Thị Thanh Huyền & cs., 2021) và công cụ hành chính. Hệ thống đánh giá dựa trên 15 nội dung quản lý nhà nước theo Luật Đất đai năm 2013.
- Đời sống và việc làm: Khung lý thuyết phân loại đời sống vật chất và tinh thần (Cao Xuân Sáng & Bùi Văn Hà, 2016; Lê Ngọc Hùng, 2009; Trần Đức Ngôn, 2017) và khái niệm việc làm theo Đại từ điển Kinh tế thị trường (Nguyễn Hữu Quỳnh, 1998).
Phương pháp thu thập dữ liệu
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo kinh tế - xã hội, hồ sơ địa chính, niên giám thống kê, báo cáo quản lý sử dụng đất, dữ liệu giá đất và hồ sơ xử lý đơn thư khiếu nại của UBND thành phố Vinh, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An giai đoạn 2008 - 2019.
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: Khảo sát trực tiếp bằng phiếu điều tra theo bảng hỏi cấu trúc sử dụng thang đo Likert 5 mức độ:
| Nhóm đối tượng và mục đích khảo sát |
Số lượng phiếu điều tra |
| Cán bộ, công chức quản lý đất đai (đánh giá tác động đến công tác quản lý nhà nước) |
67 phiếu |
| Cơ quan, tổ chức, chuyên viên định giá (xác định các yếu tố tác động đến giá đất ở) |
181 phiếu |
| Đối tượng phát sinh khiếu nại và cán bộ tiếp công dân (yếu tố tác động đến khiếu nại đất đai) |
103 phiếu |
| Hộ gia đình nông thôn bị thu hồi đất nông nghiệp (đánh giá tác động đến đời sống) |
384 phiếu |
| Người lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp (xác định yếu tố tác động đến việc làm) |
100 phiếu |
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Phân tích định tính: Phương pháp so sánh, tổng hợp thống kê, phương pháp phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT).
- Phân tích định lượng: Sử dụng phần mềm SPSS 20.0/24.0 và AMOS 24.0:
- Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha.
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định tính thích hợp của mẫu bằng chỉ số Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) và kiểm định Bartlett's Test of Sphericity, trích ma trận xoay nhân tố.
- Xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến nhằm xác định trọng số và tỷ lệ giải thích của các nhóm nhân tố độc lập đối với các biến phụ thuộc (giá đất, khiếu nại, đời sống, việc làm).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đất đai, đô thị hóa, quản lý nhà nước về đất đai, đời sống và việc làm; tổng thuật tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước; phân tích kinh nghiệm thực tiễn từ Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Trung Quốc và các địa phương tại Việt Nam; xác định cơ sở khoa học và định hướng nghiên cứu cho luận án.
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Vinh; thiết kế phương pháp điều tra sơ cấp (5 nhóm mẫu điều tra); quy trình xử lý số liệu bằng thang đo Likert, kiểm định Cronbach's Alpha, EFA, phân tích hồi quy trên phần mềm SPSS 24.0 và AMOS 24.0; khung phân tích ma trận SWOT đối với sử dụng đất nông nghiệp.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng đô thị hóa tại thành phố Vinh
- Không gian và dân số: Thành phố Vinh có 25 đơn vị hành chính (16 phường, 9 xã). Diện tích tự nhiên mở rộng từ 67,53 km² (năm 2008) lên 104,96 km² (năm 2019), tăng gấp 1,6 lần. Dân số năm 2019 đạt 318.936 người (dân số đô thị là 216.965 người, chiếm 68,03%; dân số nông thôn là 101.971 người, chiếm 31,97%). Mức tăng dân số đô thị giai đoạn 2008 - 2019 chủ yếu do tăng cơ học (chiếm 66,85%), tăng tự nhiên chiếm 33,15%.
- Tốc độ đô thị hóa: Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 37,21% (năm 2008) lên 68,30% (năm 2019), tốc độ đô thị hóa đạt 102,94%.
- Kinh tế: Tốc độ tăng trưởng năm 2019 so với năm 2008 đạt 17,48%; giá trị sản xuất công nghiệp năm 2019 đạt 12.452,63 tỷ đồng; thu nội địa năm 2019 đạt 2.436 tỷ đồng (hoặc 2.327,8 tỷ đồng tùy nguồn tính toán), đóng góp 37,16% tổng thu ngân sách tỉnh Nghệ An.
- Biến động đất đai giai đoạn 2008 - 2019:
- Diện tích đất nông nghiệp giảm 474,66 ha (chủ yếu là đất trồng cây hàng năm và lâu năm).
- Diện tích đất phi nông nghiệp tăng 611,23 ha.
- Diện tích đất chưa sử dụng giảm 138,46 ha do chuyển sang các mục đích xây dựng hạ tầng và phát triển đô thị.
2. Tác động của đô thị hóa đến quản lý đất đai
- Biến động và các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất ở:
- Giá đất ở quy định tại thành phố Vinh giai đoạn 2008 - 2019 tăng từ 2,0 đến 3,75 lần.
- Phân tích hồi quy xác định 28 yếu tố thuộc 9 nhóm yếu tố tác động đến giá đất ở với mức độ giải thích từ 4,43% đến 17,23%.
- Ba nhóm yếu tố có tỷ lệ tác động cao nhất gồm:
- Nhóm cung cầu quyền sử dụng đất: tác động 17,23%.
- Nhóm vị trí thửa đất: tác động 14,86%.
- Nhóm đô thị hóa: tác động 13,66%.
| Nhóm yếu tố tác động đến giá đất ở |
Tỷ lệ tác động (%) |
| Nhóm cung cầu quyền sử dụng đất |
17,23% |
| Nhóm vị trí thửa đất |
14,86% |
| Nhóm đô thị hóa |
13,66% |
| 6 nhóm yếu tố còn lại |
54,25% (tổng cộng) |
- Tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến khiếu nại đất đai:
- Số lượng đơn khiếu nại có xu hướng gia tăng. Trong đó, khiếu nại về bồi thường, giải phóng mặt bằng chiếm số lượng lớn nhất với 775 vụ; khiếu nại về cấp và thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng thứ hai với 421 vụ.
- Phân loại tính chất đơn thư: 80,85% tổng số đơn khiếu nại có nội dung sai; chỉ có 19,15% số đơn khiếu nại đúng hoặc đúng một phần.
- Thời hạn giải quyết: 77,79% tổng số vụ được giải quyết đúng hạn, 22,21% giải quyết quá hạn.
- Mô hình hồi quy chỉ ra 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng, trong đó nhóm yếu tố đô thị hóa đứng vị trí thứ 3 với tỷ lệ tác động đạt 17,91%.
3. Tác động của đô thị hóa đến đời sống của hộ gia đình bị thu hồi đất
- Nghiên cứu xác định 21 yếu tố thuộc 5 nhóm yếu tố tác động đến đời sống hộ nông dân. Điểm số chỉ số tác động của các yếu tố dao động từ 3,08 đến 4,67; chỉ số tác động của các nhóm yếu tố dao động từ 3,63 đến 4,55 (thang đo 5 mức độ).
- Yếu tố đơn lẻ có tác động mạnh nhất là "Thu nhập bình quân đầu người/tháng".
- Tỷ lệ phần trăm tác động của 5 nhóm yếu tố đến đời sống hộ gia đình:
| Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến đời sống |
Tỷ lệ phần trăm tác động (%) |
| 1. Nhóm yếu tố đặc điểm hộ gia đình |
29,79% |
| 2. Nhóm yếu tố chính sách, pháp luật |
24,38% |
| 3. Nhóm yếu tố đô thị hóa |
17,87% |
| 4. Nhóm yếu tố cơ sở hạ tầng kỹ thuật |
15,01% |
| 5. Nhóm yếu tố cơ sở hạ tầng xã hội |
12,95% |
| Tổng cộng |
100,00% |
4. Tác động của đô thị hóa đến việc làm của người dân
- Chuyển dịch cơ cấu lao động: Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 19,11% (năm 2008) xuống 13,03% (năm 2019). Lao động trong khối thương mại - dịch vụ luôn chiếm ưu thế, duy trì tỷ trọng trên 51%.
- Mức độ tác động của các nhóm yếu tố: Mô hình phân tích 18 yếu tố thuộc 4 nhóm yếu tố:
- Nhóm yếu tố thu hồi đất giữ tỷ trọng tác động lớn nhất.
- Nhóm yếu tố đô thị hóa đứng thứ hai với tỷ lệ tác động từ 21,56% đến 21,63% (bình quân 21,60%).
- Tiếp theo là nhóm yếu tố lao động và chính sách hỗ trợ.
- Nhóm yếu tố bồi thường có tỷ lệ tác động thấp nhất (từ 12,63% đến 12,84%).
5. Hệ thống giải pháp đề xuất
- Tăng cường quản lý, sử dụng đất:
- Hoàn thiện công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gắn kết với tiến trình đô thị hóa thực tế.
- Xác định bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất bám sát quan hệ cung cầu và vị trí thửa đất trong từng giai đoạn đô thị hóa.
- Cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Nâng cao hiệu quả hòa giải và giải quyết khiếu nại, hạn chế khiếu nại vượt cấp và quá hạn.
- Đảm bảo đời sống và việc làm:
- Hoàn thiện cơ chế bồi thường, hỗ trợ tái định cư; xác định chuẩn xác diện tích đất thu hồi và nhân khẩu bị ảnh hưởng.
- Bố trí đủ nguồn vốn ngân sách đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tại các khu tái định cư.
- Thiết kế chính sách đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp phù hợp với trình độ lao động nông thôn ven đô.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Hệ thống hóa và bổ sung khung lý luận về mối quan hệ tương tác đa chiều giữa quá trình đô thị hóa với công tác quản lý nhà nước về đất đai (đặc biệt là giá đất và khiếu nại đất đai), cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và chuyển dịch sinh kế, việc làm của người dân ngoại vi.
- Xây dựng thành công mô hình định lượng tích hợp kiểm định thang đo (Cronbach's Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy đa biến để lượng hóa mức độ tác động của đô thị hóa trong cấu trúc các nhóm nhân tố kinh tế - xã hội.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Lượng hóa chính xác tỷ lệ tác động của nhân tố đô thị hóa đối với 4 lĩnh vực then chốt tại thành phố Vinh giai đoạn 2008 - 2019:
- Đóng góp 13,66% vào sự biến động giá đất ở (đứng thứ 3/9 nhóm nhân tố).
- Đóng góp 17,91% vào biến động khiếu nại đất đai (đứng thứ 3/6 nhóm nhân tố).
- Đóng góp 17,87% vào sự thay đổi điều kiện đời sống của hộ nông dân bị thu hồi đất (đứng thứ 3/5 nhóm nhân tố).
- Đóng góp 21,60% vào sự chuyển dịch việc làm của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp (đứng thứ 2/4 nhóm nhân tố).
- Cung cấp luận cứ thực chứng và hệ thống giải pháp đồng bộ phục vụ công tác điều chỉnh quy hoạch, xác lập bảng giá đất, giải quyết khiếu nại và xây dựng chính sách an sinh xã hội cho thành phố Vinh nói riêng và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh nói chung.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi nội dung: Luận án tập trung phân tích sâu vào 2 nội dung quản lý nhà nước chịu tác động mạnh nhất (giá đất và khiếu nại đất đai) cùng việc sử dụng đất nông nghiệp; chưa mở rộng đánh giá định lượng đồng loạt tất cả 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai theo quy định của Luật Đất đai 2013.
- Hạn chế về phạm vi thời gian và không gian: Cơ sở dữ liệu phân tích giới hạn trong giai đoạn 2008 - 2019 tại ranh giới hành chính thành phố Vinh; các biến động chính sách và thị trường sau năm 2019 chưa được cập nhật trong mô hình.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh mức độ tác động của đô thị hóa đến quản lý đất đai và chuyển đổi sinh kế tại các đô thị khác có cùng quy mô trong khu vực Bắc Trung Bộ; cập nhật các mô hình lượng hóa theo khung chính sách của Luật Đất đai sửa đổi.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học cho UBND tỉnh Nghệ An, UBND thành phố Vinh, Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường trong việc xây dựng khung giá đất, thẩm định dự án thu hồi đất, quy hoạch khu tái định cư và giải quyết đơn thư khiếu nại đất đai.
- Đối với công tác hoạch định chính sách an sinh: Cung cấp dữ liệu thực chứng cho ngành Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc xây dựng chương trình đào tạo nghề, định hướng chuyển đổi việc làm phi nông nghiệp cho người dân vùng thu hồi đất.
- Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Quản lý đất đai, Kinh tế phát triển, Quy hoạch đô thị tại các trường đại học, học viện khối Nông - Lâm nghiệp và Tài nguyên Môi trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng cỡ mẫu điều tra sơ cấp như thế nào để phục vụ các mô hình phân tích định lượng?
Luận án thực hiện điều tra sơ cấp trên 5 nhóm đối tượng với tổng quy mô mẫu gồm: 67 phiếu khảo sát cán bộ quản lý đất đai; 181 phiếu điều tra cơ quan, tổ chức về giá đất; 103 phiếu khảo sát liên quan đến khiếu nại đất đai; 384 phiếu điều tra đời sống hộ nông dân bị thu hồi đất; và 100 phiếu điều tra người lao động về việc làm. Dữ liệu được xử lý bằng thang đo Likert 5 mức độ trên phần mềm SPSS 20.0/24.0 và AMOS 24.0.
2. Tốc độ và tỷ lệ đô thị hóa tại thành phố Vinh trong giai đoạn 2008 - 2019 biến động ra sao?
Trong giai đoạn 2008 - 2019, tỷ lệ đô thị hóa của thành phố Vinh tăng từ 37,21% lên 68,30%, đạt tốc độ đô thị hóa 102,94%. Diện tích tự nhiên toàn thành phố tăng từ 67,53 km² lên 104,96 km² (tăng 1,6 lần). Dân số đô thị tăng từ mức chiếm đa số thấp lên 216.965 người (chiếm 68,03% tổng dân số năm 2019), trong đó 66,85% mức tăng dân số là tăng cơ học.
3. Đô thị hóa có mức độ tác động cụ thể như thế nào đến giá đất ở tại thành phố Vinh?
Kết quả phân tích hồi quy chỉ ra có 28 yếu tố thuộc 9 nhóm yếu tố tác động đến giá đất ở (làm giá đất tăng từ 2,0 đến 3,75 lần trong giai đoạn 2008 - 2019). Trong đó, nhóm yếu tố đô thị hóa chiếm tỷ lệ tác động 13,66%, xếp thứ ba sau nhóm cung cầu quyền sử dụng đất (17,23%) và nhóm vị trí thửa đất (14,86%).
4. Tình hình khiếu nại đất đai tại thành phố Vinh có đặc điểm gì nổi bật dưới tác động của đô thị hóa?
Trong giai đoạn nghiên cứu, khiếu nại về bồi thường, giải phóng mặt bằng chiếm số lượng lớn nhất với 775 vụ, tiếp theo là khiếu nại về cấp/thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với 421 vụ. Đáng chú ý, 80,85% số vụ khiếu nại có nội dung sai, chỉ 19,15% là khiếu nại đúng hoặc có phần đúng. Tỷ lệ giải quyết đúng hạn đạt 77,79%, còn lại 22,21% quá hạn. Nhóm yếu tố đô thị hóa đóng góp 17,91% vào biến động khiếu nại đất đai.
5. Những nhóm yếu tố nào tác động mạnh nhất đến đời sống và việc làm của hộ bị thu hồi đất?
Đối với đời sống hộ gia đình, nhóm yếu tố đặc điểm hộ gia đình có tỷ lệ tác động lớn nhất (29,79%), tiếp đến là chính sách pháp luật (24,38%), đô thị hóa (17,87%), hạ tầng kỹ thuật (15,01%) và hạ tầng xã hội (12,95%). Đối với việc làm, nhóm yếu tố đô thị hóa giữ vai trò tác động lớn thứ hai (21,60%) sau nhóm yếu tố thu hồi đất, trong khi nhóm yếu tố bồi thường có mức độ tác động thấp nhất (12,63% - 12,84%).
Kết luận
Luận án của tác giả Trần Thái Yên đã đánh giá toàn diện và định lượng hóa các tác động đa chiều của quá trình đô thị hóa đến công tác quản lý đất đai (giá đất, khiếu nại), biến động đất nông nghiệp, cũng như đời sống và việc làm của người dân thành phố Vinh giai đoạn 2008 - 2019. Thông qua việc kết hợp các kỹ thuật kinh tế lượng trên phần mềm SPSS và AMOS với dữ liệu điều tra thực địa, công trình đã xác lập các trọng số tác động khoa học của yếu tố đô thị hóa đối với từng lĩnh vực cụ thể. Hệ thống giải pháp đề xuất trong luận án có tính ứng dụng thực tiễn cao, hỗ trợ tích cực cho công tác quy hoạch, quản lý tài nguyên đất và hoạch định chính sách an sinh xã hội tại thành phố Vinh và các đô thị tương đồng.