Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các nhtm việt nam Chương 3: Thực trạng các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các NHTM Việt Nam Chương 4: Mô hình nghiên cứu- kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ LỆ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về Ngân hàng Thương mại 2.1 Khái niệm, chức năng và vai trò của Ngân hàng Thương mại 2.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại Theo Ngân hàng thế giới – World Bank: Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm). Tiêu đề “các ngân hàng” gồm có: NHTM chỉ tham gia vào các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn, …Tại một số nước trên thế giới còn có ngân hàng tổng hợp, kết hợp giữa hoạt động ngân hàng thương mại với hoạt động ngân hàng đầu tư và đôi khi thực hiện các dịch vụ bảo hiểm. Tại Việt Nam khái niệm về NHTM được định nghĩa, Theo điều 4, Luật các Tổ chức Tín dụng 2015, Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tóm lại, NHTM là một định chế tài chính trung gian, là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên đó là nhận tiền gửi với nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích xây dựng nguồn vốn nhàn rỗi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng hoặc cung ứng các dịch vụ đáp ứng như cầu về thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế nhằm mục đích đảm bảo về mục tiêu lợi nhuận cho ngân hàng.
Hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM bao gồm: - Huy động vốn là hoạt động nhận tiền gửi của các chủ thể trong nền kinh tế là tổ chức, cá nhân dưới hình thức không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với thông báo ngắn hạn, phát hành chứng từ có giá, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi,… theo nguyên tắc hoàn gốc lẫn lãi cho khách hàng theo đúng với thỏa thuận ban đầu. - Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một tài khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một tài sản theo nguyên tắc có hoàn trả và lãi 6 bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. - Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản ngân hàng là việc cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện lệnh chi, thanh toán séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác thông qua tài khoản tiền gửi của ngân hàng. - Các hoạt động kinh doanh khác của NHTM: Dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ ủy thác, dịch vụ mô giới tiền tệ, dịch vụ kinh doanh ngoại hối, ….2 Chức năng của ngân hàng thương mại Trung gian tài chính Trung gian tài chính được cho là chức năng quan trọng nhất của NHTM.
Trong chức năng này NHTM đóng vai trò là một định chế tài chính trung gian, huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế nhằm cung ứng cho các chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn, góp phần đẩy mạnh tốc độ luân chuyển vốn của nên kinh tế, góp phần điều tiết nguồn vốn cho nền kinh tế và đem lại lợi nhuận cho NHTM. Về khía cạnh đem lại lợi nhuận cho NHTM thì NHTM cũng là một chủ thể tham gia trên thị trường tài chính bằng các hoạt động đầu tư nhằm mục tiêu lợi nhuận, cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu cho các chủ thể trong nền kinh tế, đóng vai trò là một trong những chủ thể tham gia vào việc phân phối tài chính cho nền kinh tế. Trung gian thanh toán Khách hàng có nhu cầu sử dụng và mở thẻ thanh toán tại NHTM, khi khách hàng gửi một khoản tiền vào tài khoản sử dụng phục vụ nhu cầu cho cá nhân, NHTM là người quản lý tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng do đó NHTM thực hiện được chức năng trung gian thanh toán cho khách hàng. NHTM với vai trò là tổ chức trung gian thanh toán, đáp ứng các nhu cầu mong muốn của khách hàng cho việc chi trả thay cho những khách hàng có nhu cầu thanh toán qua ngân hàng theo sự ủy nhiệm của khách hàng.
Có thể thấy việc thực hiện trung gian thanh toán của NHTM mang lại sự tiện lợi cho khách hàng, tiết 7 kiệm được thời gian sử dụng dịch vụ của khách hàng, đáp ứng được nhu cầu khách hàng nhanh nhất. Tuy nhiên để thực hiện được chức năng này, NHTM phải tổ chức mở tài khoản thanh toán cho khách hàng, phát hành cung cấp các dịch vụ, phương tiện thanh toán và quản lý để việc thực hiện thanh toán khi nhận được lệnh một cách nhanh nhất cho khách hàng, đồng thời đây cũng là phương tiện góp phần thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế hiệu quả, nâng cao giá trị niềm tin của khách hàng, uy tín thương hiệu ngân hàng trên thị trường. Tạo tiền NHTM chỉ có chức năng tạo tiền. Tuy nhiên, trong việc thực hiện được chức năng này thì đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều ngân hàng và nhiều khách hàng.
Song với việc đó là cùng thực hiện kết hơp 2 chức năng quan trọng đó là trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, từ việc đó thì ngân hàng có thể tạo ra được một lượng tiền gấp hơn nhiều lần so với lượng tiền mà khách hàng đã gửi ban đầu có trong tài khoản. Lượng tiền ghi sổ này do NHTM tạo ra phụ thuộc vào số tiền gửi ban đầu của khách hàng, số lượng ngân hàng tham gia vào quá trình tạo tiền và tỷ lệ dự trữ bắt buộc.Samuelson đã đưa ra công thức xác định khả năng tạo tiền của NHTM như sau: 𝑀𝑜 × (1 − 𝑞 ) 𝑀𝑛 = (1 − 𝑞) Trong đó: Mn: Tổng khối lượng tiền ghi sổ tạo ra Mo: Lượng tiền gửi ban đầu N: Số ngân hàng tham gia vào quá trình tạo tiền q: Tỷ lệ cho vay tối đa (1 – q) : Tỷ lệ dự trữ bắt buộc Tuy nhiên chức năng tạo tiền theo công thức trên của NHTM cần phải đầy đủ những điều kiện cần và đủ. Thứ nhất, sự tham gia của các ngân hàng phải có hệ 8 thống tổ chức theo mô hình ngân hàng 2 cấp. Thứ hai, thấy cả mọi giao dịch đều được thực hiện bằng hình thức thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng và các NHTM phải đạt được mức khả năng cho vay tối đa.
Nhưng theo tổng quan đánh giá thì rất khó để có thể xác định được một tỷ lệ tạo tiền chính xác ở mức tối đa. Trên thực tế có thể thấy được tiền tệ luôn bị nhiều yếu tố trong nền kinh tế tác động, tỷ lệ thuận với sự tác động đó là hoạt động của NHTM luôn chịu ảnh hưởng khi môi trường kinh tế có sự biến chuyển bất ngờ hoặc trước những điều chỉnh của việc điều hành quản lý chính sách tiền tệ của NHTW gây tác động không ít đến tình hình cho vay của các ngân hàng và hoạt động huy động vốn của NHTM, điều này sẽ làm thay đổi khả năng tạo tiền của NHTM.3 Vai trò của ngân hàng thương mại - Điều tiết nguồn vốn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho nền kinh tế. Nhờ hoạt động này của NHTM giúp cho việc tập hợp những nguồn vốn nhàn rỗi và sử dụng nguồn vốn nhà rỗi đó trong nền kinh tế được thực hiện một cách hiệu quả. Tập hợp những nguồn vốn lớn trong nên kinh tế để cung ứng phục vụ đơi sống xã hội nhằm mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, NHTM đứng ra phân phối nguồn vốn một cách phù hợp thực hiện đẩy mạnh phát triển nền kinh tế.
- Tạo điều kiện thúc đẩy thị trường tài chính phát triển, hoạt động của NHTM về mục đích lợi nhuận vì vậy mang tính cạnh tranh trên thị trường tài chính rất cao, không chỉ như vậy mà còn tác động đến các hoạt động khác trong lĩnh vực tài chính: thị trường chứng khoán, các công ty hoạt động bảo hiểm… Khi ngân hàng được phát triển vững mạnh thì lại càng có nhiều sản phẩm dịch vụ giúp cho sự phát triển của các hoạt động trên. Ngược lại nếu như sự phát triển phong phú và đa dạng của các sản phẩm trên thị trường tài chính sẽ tác động đến sự phát triển của các sản phẩm kinh doanh của NHTM ngày càng phát triển, cuất hiện nhiều sự kết hợp, bán chéo sản phẩm của mô hình tài chính với các định chế tài chính khác. Điều này góp phần tăng doanh số giao dịch lên thị trường tài chính.2 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại 2.1 Nghiệp vụ nguồn vốn Nghiệp vụ nguồn vốn là nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn hoạt động của NHTM bao gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn vay, vốn khác. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là quyền sở hữu tài sản có thể có các khoản nợ hoặc nghĩa vụ tài sản khác gắn liền với chúng.
Thuộc quyền sở hữu của ngân hàng, đây là vốn do chủ sở hữu của ngân hàng góp vào khi thành lập ngân hàng, nguồn vốn này được tăng dần bằng việc bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng từ việc đem lại lợi nhuận hoặc có thể là nguồn vốn cá nhân của chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với mọi mô hình kinh doanh không riêng gì NHTM, hoạt động kinh doanh của ngân hàng phát triển hay không thì nguồn vốn nội sinh được cho là tác động rất mạnh, tuy chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng là yếu tố quyết định năng lực tài chính, khả năng thanh khoản và sức cạnh tranh của NHTM. Vốn chủ sở hữu được cho là nguồn vốn sử dụng cho mục đích dài hạn, không mang yếu tố hoàn trả trong quá trình hoạt động của NHTM, vì vậy vốn chủ sở hữu mang tính ổn định cao.