chương 1, tác giả đã giới thiệu tổng quan về lý do chọn đề tài và các vấn đề nghiên cứu trong luận văn. Sau khi xác định được vấn đề nghiên cứu tác giả chỉ ra mục tiêu nghiên cứu. Từ những mục tiêu đó tác giả tiến hành thu thập các kết quả của các nghiên cứu trước đây liên quan đến chủ đề về tác động của đa dạng hoá thu nhập, trong điều kiện thực hiện tiêu chuẩn Basel II đến rủi ro các ngân hàng thương mại Việt Nam. Nghiên cứu đưa ra bằng chứng thực nghiệm Việt Nam về mối quan hệ giữa đa dạng hoá thu nhập, trong điều kiện thực hiện tiêu chuẩn Basel II, đến rủi ro các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Từ đó cho thấy tầm quan trọng của việc tuân thủ các tiêu chuẩn Basel II và việc phòng tránh rủi ro từ đa dạng hoá thu nhập. Đề tài còn cho thấy đa dạng hoá thu nhập làm tăng rủi ro ngân hàng và ngân hang có áp dụng tiêu chuẩn Basel II sẽ làm giảm rủi ro ngân hàng. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP NGÂN HÀNG 2.1 Thu nhập ngân hàng Thu nhập ngân hàng, theo Rose & Hudgins (2006), là số tiền nhận được từ các dịch vụ đầu ra của ngân hàng, bao gồm thu nhập từ việc sử dụng vốn và các hoạt động khác. Thu nhập của ngân hàng thương mại là thu nhập từ sản phẩm, dịch vụ và hoạt động của ngân hàng thương mại; Tuy nhiên, do cấu trúc của thị trường, nó có thể được chia thành hai loại: thu nhập từ tiền lãi và thu nhập từ tiền lãi.
Các nguồn thu chính của ngân hàng như sau: Lãi từ các khoản cho vay khách hàng, thu nhập bổ sung từ hoạt động tín dụng và thu nhập từ kinh doanh chứng khoán nợ đều là những ví dụ về thu nhập từ hoạt động cho vay. Thu nhập từ hoạt động kinh doanh (mua, bán) chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư, thu nhập từ góp vốn mua cổ phần, hoạt động kinh doanh ngoại hối đều là những ví dụ về thu nhập từ hoạt động đầu tư. Các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, chi trả kiều hối, bảo lãnh, bảo quản tài sản và các hoạt động dịch vụ khác tạo ra doanh thu. Các nguồn thu nhập khác 2.2 Đa dạng hóa thu nhập ngân hàng Markowitz (1952), đa dạng hóa danh mục đầu tư là sự kết hợp các tài sản không có tương quan nhiều.
Một nhà đầu tư chọn đầu tư vào hai tài sản có cùng rủi ro và lợi tức, thì tỷ suất sinh lợi trên danh mục đầu tư của anh ta thu được thông qua cả hai tài sản là tỷ suất sinh lợi của tài sản đó (nghĩa là không thay đổi). Tuy nhiên, nếu các tài sản không tương quan hoàn toàn, rủi ro của danh mục đầu tư sẽ thấp hơn rủi ro của từng tài sản riêng lẻ. 8 Đa dạng hóa là cách phòng vệ để chống lại rủi ro vỡ nợ và giảm sự xuất hiện của cuộc khủng hoảng (Froot và Stein, 1998). Đa dạng hóa là cơ chế để tăng lợi nhuận và hiệu quả hoạt động, nhất là quy mô và phạm vi hoạt động gia tăng (Landskronce và các cộng sự, 2005).
Đa dạng hóa là một chiến lược đầu tư được thiết kế nhằm giảm bớt rủi ro bằng cách kết hợp một loạt các khoản đầu tư khác nhau. Việc kết hợp này tạo ra một danh mục đầu tư theo nhiều hướng và không có khả năng tất cả các khoản đầu tư di chuyển theo cùng một hướng. Có thể thấy xu hướng hoạt động hiện nay của hệ thống NHTM trên thế giới là đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn thu nhập. Ngoài nguồn thu nhập từ các hoạt động truyền thống như: Hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư… Các NHTM còn có nguồn lợi từ nhuận từ hoạt động phi truyền thống như: Phí dịch vụ, hoa hồng, bảo hiểm, chứng khoán… Rose & Hudgins (2006), hoạt động đa dạng hóa thu nhập ngân hàng được giải thích thông qua sự thay đổi giữa thu nhập ngoài lãi và thu nhập từ lãi và bằng sự thay đổi nội tại của hai loại thu nhập được phân tích.
Nếu như nguồn thu nhập của ngân hàng có được chỉ duy nhất từ thu nhập lãi ròng thì được gọi là tập trung, nhưng nếu nguồn thu này có được phân chia giữa thu nhập ngoài lãi và thu nhập từ lãi thì được gọi là đa dạng hóa. Hoạt động đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh doanh thương mại và các hoạt động tạo phí và hoa hồng. Với việc đa dạng hóa thu nhập, ngân hàng không còn tập trung vào các lĩnh vực truyền thống mà dần chuyển dịch sang kinh doanh buôn bán khác, tạo thêm nguồn thu nhập cho ngân hàng. Thu nhập từ lãi: Là phần thu nhập lãi thuần được tính bằng thu nhập từ lãi trừ chi phí lãi.
Thu nhập ngoài lãi: Là khoản lãi thu được từ hoạt động dịch vụ, kinh doanh ngoại hối, chứng khoán kinh doanh, góp vốn cổ phần và các hoạt động khác… 9 2.3 Lý thuyết đa dạng hóa thu nhập Theo lý thuyết Jaffar, Dewandaru và Masih (2018) về đa dạng hóa thu nhập ngân hàng thì có hai quan điểm cơ bản trái ngược nhau: Quan điểm thứ nhất: Đa dạng hóa thu nhập mang lại hiệu quả cho hoạt động của ngân hàng thể hiện ở việc tăng thu nhập và giảm rủi ro. Đa dạng hóa nguồn thu nhập tạo ra nhiều lợi thế cho ngân hàng, làm giảm tổng rủi ro, làm ổn định thu nhập hoạt động của ngân hàng. Thay vì tập trung vào các lĩnh vực tài chính truyền thống, ngân hàng chủ động đa dạng tập danh mục thu nhập, tạo ra nhiều nguồn thu khác nhau. Bằng việc mở rộng hoạt động kinh doanh, các ngân hàng có cơ hội tìm kiếm các đối tượng khách hàng mới, phân khúc thị trường rộng lớn hơn.
Nguồn khách hàng của lĩnh vực này sẽ bổ sung cho lĩnh vực khác tạo ra khối lượng khách hàng lớn cho ngân hàng. Thêm vào đó, khách hàng tiếp nhận được nhiều sản phẩm dịch vụ của từng hoạt động kinh doanh sẽ cảm thấy tiện lợi khi giao dịch với ngân hàng. Điều này tạo cho khách hàng sự tin tưởng đối với ngân hàng, nâng cao uy tín trên thị trường cho ngân hàng. Stiroh (2004), đa dạng hóa thu nhập củng cố vai trò của ngân hàng do các ngân hàng có thể hạn chế thông tin bất cân xứng bằng cách sử dụng các thông tin cần thiết từ các mối quan hệ ngân hàng cho vay và làm gia tăng các dịch vụ tài chính khác.
Elsas và cộng sự (2010), cho rằng các nhà giao dịch thường xuyên chuyển từ hoạt động truyền thống sang hoạt động dịch vụ tạo ra phí và hoa hồng, dẫn đến đa dạng hóa thu nhập. Các ngân hàng sẽ có nhiều thu nhập từ hoạt động kinh doanh thuần do họ có nhiều hoạt động phi truyền thống, giúp đa dạng hóa thu nhập. Nguyen, Skully và Perera (2012), cho rằng đa dạng hóa thu nhập giúp ngân hàng phân tán rủi ro và giảm thiểu thiệt hại. Vì lãi suất và sự biến động kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tín dụng.
Mặt khác, các hoạt động phi tín dụng ít rủi ro hơn các hoạt động tín dụng và mang lại cho ngân hàng doanh thu nhất quán. 10 Jones (2018), Các ngân hàng có thể giảm thiểu rủi ro và tăng lợi nhuận bằng cách đa dạng hóa các dòng thu nhập của họ. Khi ngân hàng hoạt động trơn tru và ổn định, nó sẽ có ảnh hưởng rộng rãi đến nền kinh tế, bao gồm cả công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ. Khi ngân hàng đa dạng hóa thu nhập, ngân hàng có thêm hàng hóa và dịch vụ để thu hút và mở rộng đối tượng khách hàng, dẫn đến thu nhập ngoài lãi.
Khi có nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng thì hoạt động thương mại của ngân hàng sẽ được cải thiện. Đồng thời, các hàng hóa và dịch vụ hiện đại và kỹ thuật cần các ngân hàng hình thành các kết nối hợp tác với các tổ chức trong nước và quốc tế. Khi hàng hoá và dịch vụ của ngân hàng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì uy tín của ngân hàng được nâng cao. Thương hiệu và vị thế của ngân hàng trên thị trường trong nước và quốc tế (Dedehouanou và McPeak, 2020).
Quan điểm thứ hai: Đa dạng hóa thu nhập hạn chế hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thể hiện ở việc tăng rủi ro và giảm lợi nhuận. Trong khi nhiều công ty tài chính trên thế giới tập trung vào lĩnh vực kinh doanh thì nhiều công ty dịch vụ tài chính và đặc biệt là ngân hàng đi theo hướng ngược lại, hoạt động đa dạng hóa thu nhập tăng lên đáng kể. Hoạt động đa dạng hóa tạo cơ hội cho các ngân hàng kinh doanh trên các lĩnh vực, phương diện mới. Với những mảng hoạt động mới, ngân hàng có nhiều điều kiện để thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác mang lại lợi nhuận.
Tuy nhiên, mở rộng sang những lĩnh vực khác cũng đi kèm với những rủi ro. Một khi tiềm lực chưa đủ để thực hiện đa dạng hóa, các ngân hàng sẽ gặp khó khăn với những thay đổi, đồng thời sự chuyển biến sang những hoạt động mới cũng sẽ tiềm ẩn nhiều bất ổn vì là hoạt động mới ngân hàng chưa lường trước được hết những ảnh hưởng của thị trường cũng như những thay đổi trong chính hoạt động kinh doanh mới. Khi ngân hàng tăng các hoạt động dịch vụ, thương mại đòi hỏi các kiến thức hiểu biết sâu, cũng như kinh nghiệm giải quyết với những khó khăn của một bộ phận các nhân viên. Tuy nhiên, với một lĩnh vực hoạt động mới, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ chưa bắt kịp với các hoạt động này.
Lượng kiến thức hiện tại chưa đầy đủ để có 11 thể đáp ứng chất lượng quản lý phù hợp với sự thay đổi, phát triển do các hoạt động mới tạo ra. Điều này thể hiện sự tiềm ẩn rủi ro cho hoạt động ngân hàng trong đa dạng hóa. Acharya và cộng sự (2006) cho rằng đa dạng hóa ngân hàng không bảo đảm được lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng sẽ tăng cao. Các ngân hàng thực hiện chiến lược đa dạng hóa có xu hướng tăng chi phí trong quá trình thực hiện như chi phí nhân viên, chi phí đầu tư máy móc thiết bị phục vụ hoạt động mới, chi phí hệ thống công nghệ.
Stiroh, (2004) cho rằng sự gia tăng các hoạt động thu phí ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng.