đặt vấn đề về lý do chọn đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu đề tài, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu của đề tài.5 Kết cấu của đề tài nghiên cứu: 123doc 7 Chương 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ YÊU CẦU VỐN TỐI THIỂU Chương này nhằm hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm liên quan đến đề tài luân văn, cụ thể là tổng quan việc nghiên cứu ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam về vốn tối thiểu và nghiên cứu tác động của vốn yêu cầu tối thiểu đến chi phí trung gian và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Cuối chương, đề tài đưa ra các giả thiết nghiên cứu nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu liên quan đến luận văn này 2.1 Các lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu 2.1 Chi phí trung gian của ngân hàng Hoạt động huy động vốn và cho vay được xem xét là hai hoạt động quan trọng trong đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng do đó luôn được cân nhắc nhiều yếu tố khi ra quyết định lãi suất cho vay và lãi suất huy động của ngân hàng, vì vậy chi phí trung gian chính là yếu tố cốt lõi trong hoạt động của ngân hàng thương mại theo nghiên cứu của rock & Rojas Suaez (2000). Với nền kinh tế, biên lãi vay ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vì lãi suất cho vay là chi phí vốn của doanh nghiệp theo Hubbard (1997) và Stulz (1999). Tỷ lệ biên lãi vay là một trong những phép đo quan trọng nhất để định lượng hiệu quả tài chính trong một tổ chức trung gian (Golin, 2001).
Chi phí trung gian hay còn gọi là tỷ lệ thu nhập lãi thuần hoặc biên lãi vay (Net Interest Margin _NIM) của các ngân hàng được định nghĩa là mức lãi suất ròng của ngân hàng và được tính toán bằng chênh lệch giữa doanh thu từ lãi mà ngân hàng nhận được và chi phí lãi mà ngân hàng phải trả, chia cho tổng tài sản sinh lợi của ngân hàng (Büyükşalvarcı and Abdioğlu, 2011); (Demirguc-Kunt và cộng sự, 1999); (Hamadi, H.,2012); (Golin, 2001) NIM = Thu nhập từ lãi ròng/ trung bình tổng tài sản sinh lợi của ngân hàng 123doc 8 2.2 Quy định về vốn yêu cầu tối thiểu Theo nghiên cứu của Al-Sabbagh (2004), an toàn vốn được mô tả như một chỉ báo về rủi ro của ngân hàng. Rủi ro của các ngân hàng được phân thành các loại rủi ro khác nhau, bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động được tính trong tỷ lệ an toàn vốn (CAR). Do đó, các cơ quan quản lý ngân hàng đã sử dụng CAR như là một chỉ số quan trọng cho tính an toàn và giám sát rủi ro đối với các ngân vì họ coi vốn như một tấm đệm hoặc để hấp thụ các tổn thất (Abdel-Karim, 1964). Quy định vốn tối thiểu được đặt ra nhằm mục đích chính yếu là kiểm soát rủi ro bảo vệ cho người gửi tiền do một số ngân hàng có thể giữ mức vốn ít hơn tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định.
Theo Keeley và Furlong (1990), một ngân hàng không được kiểm soát chặt chẽ về hoạt động kinh doanh sẽ có danh mục đầu tư và cho vay rủi ro hơn với đòn bẫy có thể vượt quá mức an toàn nhằm để tối đa hóa lợi nhuận cho ngân hàng đó. Do đó, yêu cầu về vốn yêu cầu tối thiểu có thể hạn chế những rủi ro đạo đức bằng cách bắt buộc các cổ đông của ngân hàng phải gánh chịu một phần các khoản lỗ để bảo vệ cho người gửi tiền trước rủi ro. Chính vì vậy, bằng việc các ngân hàng được quy định có nhiều vốn hơn để kinh doanh và sẽ gặp ít rủi ro hơn, khi đó các ngân hàng sẽ có thể giảm xác suất vỡ nợ trong hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, không đồng quan điểm ấy, theo Kim và Santomero (1988); và Rochet (1992) thì cho rằng chi phí từ việc gia tăng vốn sẽ làm giảm đi lợi nhuận kỳ vọng của các ngân hàng.
Vì vậy, các ngân hàng vẫn có thể lựa chọn phương án là chuyển vào các khoản vay hoặc các khoản đầu tư với một lợi nhuận cao hơn và chấp nhận có rủi ro cao hơn. Do đó, trong một số trường hợp, sự gia tăng rủi ro của ngân hàng vượt quá sức chịu đựng của việc tăng vốn sẽ có thể dẫn đến một xác suất vỡ nợ cao hơn. Dựa trên lập luận này, việc xác định vốn tối thiểu dựa trên rủi ro của từng ngân hàng có thể giúp loại bỏ những hạn chế từ việc áp đặt vốn một cách chủ quan cho các ngân hàng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các yêu cầu vốn tối thiểu hiện nay lại không phản ánh được chính xác mức độ rủi ro của các ngân hàng.
Theo Avery và Berger (1991), nếu có những sai sót trong việc tính toán vốn tối thiểu, sẽ có thể gây ra bất ổn cho ngân hàng, các ngân hàng bị bắt buộc phải nâng vốn theo mức quy định vốn tối thiểu 123doc 9 để làm giảm bớt rủi ro, tuy nhiên thực tế rủi ro kinh doanh của các ngân hàng lại có thể tăng theo như lập luận bên trên. Năm 1988, ủy ban Basel quy định đối với việc quản lý và giám sát an toàn hoạt động các ngân hàng, cụ thể yêu cầu các ngân hàng phải duy trì nguồn vốn chủ sở hữu và vốn chủ sở hữu tương đương với tài sản có rủi ro. Hiệp định vốn Basel ra đời yêu cầu các ngân hàng phải đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio- CAR), đây là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được tính theo công thức: 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒗ố𝒏 𝒕ự 𝒄ó (𝑪) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) = 𝒙 𝟏𝟎𝟎% 𝑻à𝒊 𝒔ả𝒏 𝒄ó 𝒓ủ𝒊 𝒓𝒐 (𝑹𝑾𝑨) Hiệp ước vốn theo Basel về tỷ lệ an toàn vốn tối thiếu đã trải qua ba (03) phiên bản có sự điều chỉnh về quy định vốn cũng như tài sản có rủi ro.
Bằng tỉ lệ CAR này người ta có thể xác định được khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường. Hàm ý của quy định này là khi ngân hàng đảm bảo được tỉ lệ CAR này tức là ngân hàng đó đã tự tạo ra cho minh một tấm đệm dự phòng nhằm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi tiền. Chính vì vậy, các nhà quản lý ngành ngân hàng các nước trên thế giới luôn luôn xác định rõ và giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu trong hoạt động kinh doanh với nhiều biến động như hiện nay. Mặc dù cách tiếp cận Basel cung cấp một khung cơ bản về tiêu chuẩn vốn tối thiểu, các cơ quan quản lý ở các quốc gia khác nhau theo kinh nghiệm đã bổ sung cho nó một loạt các yêu cầu khác để phù hợp thực tế quốc gia đó.
Theo yêu cầu của Basel 1, các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ vốn bắt buộc tính trên tài sản có điều chỉnh hệ số rủi ro theo CAR ở mức tối thiểu là 8%. Basel 1 đã đưa ra định nghĩa vốn tự có của ngân hàng và phân loại thành vốn 123doc 10 cấp 1, vốn cấp 2 và vốn cấp 3 (hay còn gọi là vốn cấp 2 bổ sung). Bên cạnh đó, Basel I cũng quy định phân loại tài sản có rủi ro thành 4 cấp độ 0%, 20%, 50%, 100% (chi tiết phụ lục 1). - Do hạn chế của Basel 1 chỉ mới tập trung vào tài sản bảo đảm và nhóm khách hàng mà không quan tâm đến độ tín nhiệm của từng khách hàng vay, cũng như tài sản chỉ mới tập trung vào nhóm tài sản rủi ro tín dụng nên năm 2004 ủy ban Basel giới thiệu phiên bản Basel II có hiệu lực năm 2007.
Nội dung Basel II gồm: - Nội dung Basel II gồm 3 trụ cột: (i) trụ cột thứ nhất quy định CAR tối thiểu bằng 8%, tuy nhiên, rủi ro được tính không chỉ riêng rủi ro tín dụng mà xét đến 03 yếu tố cấu thành đó là rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường; (ii) Trụ cột 2: quy trình kiểm tra giám sát nhằm đánh giá mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn và yêu cầu công bố thông tin tối thiểu đối với ngân hàng khi ngân hàng sử dụng phương pháp tiên tiến ở trụ cột 1; (iii) Trụ cột 3: kỷ luật thị trường, mục đích khuyến khích các ngân hàng công bố thông tin cho phép các thành phần tham gia thị trường đánh giá về các thông tin như: phạm vi ứng dụng, rủi ro, nguồn vốn, quy trình đánh giá rủi ro, mức an toàn vốn của ngân hàng. - Việc tính toán CAR, các định nghĩa về vốn ở phần tử số bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2 như Basel I. Phần mẫu số có sự thay đổi đáng kể, hệ số rủi ro của tài sản còn xét đến độ hệ số rủi ro trong mỗi loại tài sản và hệ số tín nhiệm của từng loại khách hàng. Hệ số rủi ro được quy định từ 0% đến 150%.
Ngoài ra, phần mẫu số không chỉ có tổng tài sản có điều chỉnh theo hệ số rủi ro mà còn bao gồm 12,5 lần tổng vốn quy định cho rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Do đó yêu cầu vốn theo Basel II càng chặt chẽ hơn. Có lẽ không may cho Basel II là ngày thực hiện của nó trùng hợp với sự khởi đầu của cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất mà các thị trường tài chính đã trải qua kể từ năm 1930. Mặc dù một số cải tiến của Basel II đáng kể so với Basel 1, nhưng tiêu chuẩn của Basel II được cho là vẫn chưa đủ mạnh mẽ để giúp các ngân hàng có thể chống đỡ 123doc 11 trước hàng loạt các rủi ro đã xảy ra.
Vì vậy, vào ngày 12/9/2010, ủy ban Basel đã đưa ra bộ tiêu chuẩn về an toàn vốn tối thiểu với tên gọi Basel III. Bộ tiêu chuẩn này có hiệu lực từ năm 2013 và sẽ kết thúc thời gian chuyển đổi vào đầu năm 2019. Do đó, Basel III ra đời quy định chặt chẽ hơn về định nghĩa vốn (chi tiết phụ lục 1).