Chương 1, trình bày lý do nghiên cứu của đề tài thông qua việc phân tích bối cảnh lý thuyết và bối cảnh thực tiễn ngành dệt may tại Việt Nam. Qua đó, khái quát các nghiên cứu liên quan về vốn xã hội và kết quả kinh doanh nhằm tìm ra khe hổng nghiên cứu. Kế tiếp, trình bày mục tiêu, câu hỏi, phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Sau cùng, tác giả trình bày ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của luận án.
Lý do nghiên cứu của đề tài 1.1 Bối cảnh lý thuyết nghiên cứu Lịch sử phát triển nhân loại của mỗi quốc gia nói riêng và thế giới nói chung, các loại hình vốn khác nhau luôn tồn tại, tích lũy và phát triển. Trong đó, bên cạnh các loại hình vốn khác nhau như vốn kinh tế, vốn con người, vốn tài nguyên, riêng vốn xã hội luôn hiện diện và đóng góp vào đời sống tinh thần cũng như vật chất trong cuộc sống mỗi con người. Thật ra, các nhà khoa học bắt đầu quan tâm đến khái niệm vốn xã hội khi lý giải hiện tượng hai cộng đồng dân cư có tài sản (vốn kinh tế), các nguồn lực (vốn con người, vốn công nghệ) và môi trường (vốn tài nguyên) tương đương nhau nhưng một bên phát triển và một bên suy tàn. Chính điều này, các nhà khoa học đã đúc kết và tiến hành làm hoàn thiện khái niệm vốn xã hội (VXH), từ đó, xem xét mối quan hệ giữa VXH với các loại hình vốn khác.
Có thể nói, VXH đóng vai trò như một chất keo kết dính các nguồn vốn khác lại với nhau, phối hợp nhau để tăng cường hiệu quả sử dụng của các nguồn vốn, đóng góp vào việc tăng trưởng kinh tế (Lins và cộng sự, 2017; Dasgupta, 2005). Vốn xã hội đã có lịch sử phát triển lâu đời tại các quốc gia có kinh tế phát triển. Thành quả kinh doanh của doanh nghiệp (DN) được tăng lên đáng kể khi vận dụng vốn xã hội. Đặc biệt, các DN hoạt động trong ngành dệt may cần đầu tư nhiều vốn, kỹ thuật, công nghệ và con người để đảm nhiệm cho nhiều công đoạn sản xuất khác nhau cũng như luôn sử dụng nhiều nguồn lực để đổi mới sản phẩm, thích ứng theo 2 xu hướng mới của người tiêu dùng.
Do đó, DN trong ngành dệt may luôn cần sử dụng VXH như làm chất xúc tác kết nối hệ thống các DN từ khâu kéo sợi, dệt, nhuộm, may đến việc tiêu thụ sản phẩm. Chính VXH hỗ trợ doanh nhân có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận các nguồn lực cần thiết phục vụ cho hoạt động kinh doanh (Dai và cộng sự, 2015). Các nguồn lực mà các doanh nhân có được thông qua mạng lưới quan hệ cá nhân của họ và các kết nối xã hội cho phép họ xác định các cơ hội kinh doanh (Bhagavatula và cộng sự, 2010), từ đó, đóng góp chung vào kết quả kinh doanh (Akintimehin và cộng sự, 2019; Nasip và cộng sự, 2017). Lý thuyết là cơ sở nền tảng để vận dụng vào trong thực tiễn.
Trong đó, hai nền tảng lý thuyết quan trọng về phân tích các yếu tố của lợi thế cạnh tranh liên quan đến kết quả hay hiệu quả kinh doanh của DN, đó là mô hình tổ chức công nghiệp - IO (Industrial Organization) và mô hình dựa trên nguồn lực - RBV (Resource - Based View). Tổ chức Công nghiệp phân tích các yếu tố về hoạt động hoặc những bộ phận khác nhau góp phần xây dựng chiến lược tổng thể DN, mục tiêu là sản phẩm/dịch vụ của DN chinh phục được thị trường. Mô hình tổ chức công nghiệp cho rằng lợi thế cạnh tranh có thể đạt được khi các DN thực hiện các chiến lược áp đặt bởi các đặc điểm của các yếu tố bên ngoài (Porter, 1985). Trong khi đó, quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV) cho rằng các yếu tố tạo nên thành công phụ thuộc vào nguồn lực và khả năng của từng DN.
Theo quan điểm này, các DN được xem như là nơi tập hợp rất nhiều nguồn lực. Các lựa chọn của DN không được quyết định bởi những hạn chế về môi trường, mà bằng cách đánh giá khả năng DN trong việc khai thác tốt nhất các nguồn lực của mình liên quan đến các cơ hội cũng như thách thức từ môi trường bên ngoài như thế nào. Điều này có nghĩa là chiến lược của DN được thảo luận trên phương diện cân đối nguồn lực DN hiện có để sử dụng chúng theo hướng tạo ra lợi thế (Barney, 1991). Dựa trên hai nền tảng của lý thuyết trên, hàng loạt các nghiên cứu về sự tác động của các yếu tố hữu hình và vô hình lên kết quả kinh doanh trong các lĩnh vực xã hội, 3 giáo dục, kinh tế và văn hóa.
Gần đây, các nghiên cứu ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của DN không chỉ là các yếu tố bên ngoài hay bên trong mà còn kết hợp cả hai như nghiên cứu về các yếu tố giá thành, phi giá thành, các yếu tố bên trong và bên ngoài DN (Keegan và cộng sự,1989). Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, các tổ chức và DN gặp khó khăn trong việc làm cho mức độ thay đổi trong cơ cấu chính thức của họ đáp ứng với mức độ thay đổi từ môi trường kinh doanh. Do đó, các nghiên cứu tập trung chú ý về tầm quan trọng cũng như vai trò của cấu trúc quản lý không chính thức. Scott (1998) chỉ ra tầm quan trọng của môi trường và nhấn mạnh vào các cấu trúc không chính thức, các cấu trúc tổ chức không chính thức được xem là biểu hiện về giá trị, tính linh hoạt và tính năng động mà nó có thể bổ sung cho các cấu trúc tổ chức chính thức.
Một loại cấu trúc không chính thức, có được sự chú ý ngày càng cao gần đây, là mạng lưới xã hội (social networks). Các nhà nghiên cứu cho rằng mạng lưới xã hội có khả năng cung cấp cho nhà quản trị các nguồn lực có giá trị qua đó có ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả của cá nhân và tổ chức (Adler & Kwon, 2002; Nahapiet & Ghoshal, 1998). Các nguồn lực có được từ mạng lưới xã hội được gọi chung là vốn xã hội (social capital). Thật ra, khái niệm vốn xã hội (VXH) được cho là xuất hiện đầu tiên vào năm 1916 của Lyda Judson Hanifan, nhà giáo dục Mỹ, đã thảo luận về cách những người hàng xóm có thể làm việc cùng nhau để giám sát trường học.
Hanifan (1916) sử dụng định nghĩa vốn xã hội để chỉ các mối quan hệ trong xã hội như tình bạn hữu, thông cảm lẫn nhau và giao tiếp giữa các cá nhân hay gia đình. Từ đó, VXH được các học giả quan tâm nghiên cứu cũng như sử dụng trong nhiều lĩnh vực như tâm lý, giáo dục, kinh tế và xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Nếu như vốn vật chất (physical capital) nói đến các tài sản hữu hình, ví dụ như máy móc, thiết bị, công cụ, nhà xưởng; vốn con người (human capital) nói đến các tài sản cá nhân như năng lực cá nhân, kinh nghiệm làm việc, trình độ, kiến thức và kỹ năng (McCallum và O’Connell, 2009) thì VXH đề cập đến các năng lực quan hệ xã hội (relational competencies) của các cá nhân và tổ chức dựa vào nhận thức xã hội, 4 tự quản trị, cam kết, thúc đẩy hợp tác, phối hợp, mạng lưới thông tin phản hồi được thiết lập theo niềm tin, thiện chí và có qua có lại (McCallum và O’Connell, 2009). Như vậy, VXH không chỉ là sự tổng hợp các của cải vật chất, các tài sản xã hội mà còn là chất xúc tác làm kết dính các tài sản xã hội này lại với nhau.
Trong thời gian qua, VXH đã được nghiên cứu ở ba cấp độ: Cộng đồng; tổ chức/Doanh nghiệp và quốc gia. Ba cấp độ này liên quan đến: (1) cá nhân, (2) các tổ chức, doanh nghiệp và (3) xã hội, quốc gia và toàn cầu. Theo đó, vốn xã hội được định nghĩa như là chất lượng mối liên kết giữa các cá nhân, các mạng lưới quan hệ, các chuẩn mực, niềm tin nhằm chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Các tác giả cho rằng VXH của DN chính là chất lượng mạng lưới mối quan hệ giữa các cá nhân, các bộ phận bên trong DN và chất lượng mạng lưới mối quan hệ của DN với các đối tác bên ngoài.
(3) Cấp độ quốc gia có các nghiên cứu của Sabatini (2005) nghiên cứu VXH của nước Ý cung cấp một khung đo lường mới về khái niệm đa chiều VXH đồng thời cũng cung cấp cách thức đo lường các đóng góp tích cực của VXH với các kết quả kinh tế. Một nghiên cứu khác về VXH của nước Úc, theo đó, sau khi tham vấn sâu rộng, Cục Thống kê Úc (ABS, 2004) đã phát triển một khung khái niệm đa chiều về vốn xã hội, cũng như một bộ chỉ số khả thi để đo lường các khía cạnh của vốn xã hội. Các nghiên cứu về VXH ở nhiều cấp độ khác nhau sẽ giúp cho các cá nhân, các tổ chức, doanh nghiệp và các quốc gia thuận lợi hơn trong vấn đề tiếp cận, tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng VXH trong cuộc sống, trong công việc cũng như phát triển mối quan hệ trong xã hội phục vụ cho lợi ích của cá nhân, doanh nghiệp và quốc gia. 5 Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu về VXH ở cấp độ DN mà cụ thể là tác động của vốn xã hội đến kết quả kinh doanh.
Các nghiên cứu trước đây, khi nghiên cứu về VXH trong DN, các nhà nghiên cứu tập trung vào ba yếu tố chính gồm Vốn xã hội lãnh đạo (VXLD), Vốn xã hội bên ngoài (VXBN) và Vốn xã hội bên trong (VXBT) (Nguyen và Huỳnh, 2012; McCallum và O’Connell, 2009). Tuy nhiên, chưa tìm thấy các nhà nghiên cứu xem xét mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố này. Hơn nữa, có nhiều tác giả đã chỉ ra rằng VXH tác động tích cực đến kết quả kinh doanh (Akintimehin và cộng sự, 2019); Nasip và cộng sự, 2017) nhưng chưa tìm thấy nghiên cứu nào đồng thời có xem xét mối quan hệ của VXH đối với kết quả kinh doanh thông qua hai yếu tố trung gian là tiếp thu kiến thức (TTKT) và đổi mới sản phẩm (DMSP). Hơn nữa, nghiên cứu về VXH trong bối cảnh hội nhập, mở rộng quan hệ kinh tế theo mô hình kinh tế đặc thù của Việt Nam đang chuyển đổi và phát triển mạnh mẽ.
Việc thực hiện nghiên cứu này có nhiều ý nghĩa vì các nghiên cứu thực nghiệm trước về VXH được thực hiện nhiều ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Hơn nữa, tại Việt Nam, chưa tìm thấy các nghiên cứu có liên quan về VXH trong ngành dệt may.