Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VAN HOA ĐỌC VÀ SỨC KHỎE TINH THAN CUA HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Những vấn đề chung về văn hóa đọc 1. Khái niệm văn hóa đọc Trong cuốn Phương pháp đọc sách hiệu quả, tác giả Mortiner J.Adler và Charles Van Doren đã diễn giải thuật ngữ “đọc” (reading) với nghĩa (1) đọc dé giải trí (2) đọc dé lay thông tin (3) doc để hiểu biết.
Đồng thời chỉ ra sự tương phản giữa đọc tích cực và đọc thụ động đến việc đọc sách hiệu quả. Đọc sách được coi là một cách dé nắm vững các giá tri của văn hóa thế gidi, là phương tiện tiếp thu năng lực văn hóa của cá nhân và chuẩn bị cho cuộc sống trong hiện thực xã hội xung quanh. Hoạt động đọc thường được hiểu là quá trình giải mã các ký tự và hiểu ý nghĩa của chúng. Là quá trình tinh thần mà người đọc thông qua văn bản tiếp thu thông tin, sử dụng thị giác đề đọc và hiểu ý nghĩa của câu chữ.
Văn hóa đọc là một hiện tượng văn hóa xã hội, cơ sở của nó là quá trình nhận thức tích cực quyết định trình độ phát triển trí tuệ, tinh thần của xã hội. Văn hóa đọc là một quá trình phát triển năng động, phản ánh nhu cầu, đòi hỏi về tri thức, thông tin của xã hội. Từ quan điểm của cách tiếp cận hiện sinh, đọc được coi là một phương thức tồn tai của con người, là một phương tiện tự phat triển, tự xây dựng thiết kế lên trí tuệ va cảm xúc - tinh thần của thế giới cá nhân [36, p. Khái niệm văn hóa đọc được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau.
Theo Mariam (1991) con đường chính của việc học là thông qua việc đọc. Nếu chúng ta không hiểu những gì đang đọc, chúng ta không thê học hoặc nhớ nó. Theo Ariffin (1992) định nghĩa đọc sách là một hoạt động mang tính cá nhân cao mà chủ yếu được thực hiện một minh trong im lặng. Là hoạt động thu nhận thông tin và được thực hiện băng cách đọc trong im lặng hay đọc to thành tiếng.
Đối với Joyce Carol Oates (2004) đọc là dé rèn luyện trí não. Theo Howley (2015) coi hành động đọc là một quá trình sáng tạo, trong đó người đọc xây dựng 18 việc đọc băng cách tương tác với văn bản. Theo Nyam (2015) Văn hóa đọc là một hoạt động thường xuyên, do đó trau dồi thái độ và sở hữu các kỹ năng làm cho việc đọc sách trở thành một hoạt động thú vi, thường xuyên và liên tục. Van hoá đọc: tập hợp các kỹ năng trong cuốn sách, bao gồm sự lựa chọn có chủ ý về các chủ đề, đọc có trình tự và hệ thống, cũng như khả năng tìm kiếm các tài liệu cần thiết thông qua sự trợ giúp của các bản thư mục, sử dụng bộ máy tra cứu thư mục, áp dụng các phương pháp hợp lý dé thắm thấu tài liệu một cách tối đa, lĩnh hội sâu sắc những gì đã đọc (ghi chú, chú thích, xem xét.), gìn giữ, bảo quản tốt các công trình in ấn.
Trong Ailakhu và Unegbu (2017) văn hóa đọc là thói quen đọc trong cả cuộc đời, không chỉ cho mục đích học tập ở trường học. Tuy nhiên, theo thời gian, việc đọc sẽ không còn là nhiệm vụ khó khăn dé vượt qua các kỳ thi thay vi mang giá trị nội tại, đọc vì lợi ích của việc đọc và phát triển văn hóa đọc. Bản chất của văn hóa đọc là khuyến khích học sinh đọc như một phần của cuộc sống hàng ngày và thiết lập việc đọc sách như một thói quen cần thiết và hứng thú trong suốt cuộc đời một người. Milena Tsvetkova trong bài báo “The way computers rehabilitate the culture of reading - Sử dụng máy tinh phục hồi văn hoá đọc đã khang định”: Ở cấp độ cá nhân văn hóa đọc phản ánh năng lực nhận thức và khuynh hướng tỉnh thần giúp cho việc nhận dạng các biểu tượng chữ in bằng võng mạc tạo nên các cảm xúc tinh thần.
Trong bối cảnh hiện nay, “văn hóa đọc” đang thay đổi dưới tác động của công nghệ điện tử, văn hoá đọc không chỉ đề cập đến phương thức đọc truyền thống trên sách in mà còn bao gồm phương thức đọc hiện đại, trên các thiết bị điện tử máy tính, điện thoại, ipad. Tiếp cận từ góc độ Triết học [29, p. 164]: Văn hóa đọc được hiểu như “một không gian nhất định, như là một môi trường hoàn hảo được tạo ra bởi hiện tượng đọc nhân danh của sự hài hoà về đạo đức và trí tuệ của cá nhân.” Văn hoá đọc dưới góc nhìn của các nhà chuyên môn ở Việt Nam: Tác giả Lê Văn Viết cho rằng: đọc ở một mức độ, trình độ nhất định nào đó thì mới được coi là văn hóa doc. 19 Theo Nguyễn Hữu Viêm thì văn hóa đọc là một khái niệm có hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của cộng đồng xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước và các nhà quản lý, các thành viên trong xã hội. Ứng xử đọc, giá trị đọc, chuẩn mực đọc của các nhà quản lý và các cơ quan quản lý nhà nước là chính sách, đường lối, kế hoạch, biện pháp cụ thé nhăm phát triển nền văn hóa đọc quốc gia. Các hoạt động này đều nhằm tạo ra hành lang pháp lý, thúc đây, phát triển tài liệu đọc có giá trị, chất lượng, phong phú, đa dạng và lành mạnh, đồng thời tuyên truyền, hướng dẫn đọc chúng cho mọi người đọc khác nhau, không phân biệt giàu nghẻo, trình độ cao thấp, ở đô thị hay vùng nông thôn hẻo lánh đều có khả năng ngang nhau tiếp cận chúng. Với quan điểm của Chu Hảo “Ba yếu tố: thói quen đọc, khả năng lựa chọn, và cách đọc - hợp thành cốt lõi của cái mà chúng ta gọi là văn hóa đọc”.
Còn tác giả Trần Thị Minh Nguyệt cho rằng: “Văn hóa đọc là tổng thể các năng lực của chủ thé hướng tới việc tiếp nhận và sử dụng thông tin trong tài liệu, văn hóa đọc xem xét ở cấp độ cá nhân bao hàm khía cạnh định hướng của chủ thé tới đối tượng đọc (nhu cầu đọc), khả năng, trình độ lĩnh hội thông tin (kỹ năng đọc), cả ở phản ứng với đối tượng đọc (ứng xử văn hóa). Theo quan điểm cá nhân tác giả luận văn cho rằng: Văn hóa đọc trước tiên phải xuất phát từ sở thích, hứng thú, thái độ tích cực của cá nhân đối với hoạt động đọc. Tiếp đó, người đọc cần xây dựng được thói quen, kỹ năng, phương pháp đọc hiệu quả đề thu thập, trích xuất thông tin trong tài liệu. Biết vận dụng hiệu quả những thông tin đó trong cuộc sống hàng ngày, qua đó phát triển bản thân, xây dựng lối sống lành mạnh, có ích và đóng góp cho xã hội.
Các yếu tô cau thành văn hóa đọc Theo Trần Thị Minh Nguyệt các yếu tố cau thành văn hóa đọc có thé được hiểu gồm năng lực định hướng của chủ thể đối tượng, năng lực lĩnh hội tài liệu (kỹ năng và phương pháp đọc) và thái độ ứng xử của chủ thể với tài liệu. Năng lực định hướng của chủ thé doi tượng Năng lực định hướng của chủ thể đối tượng có thê hiểu là: nhu cầu, thị hiếu và thói quen đọc. 20 Theo Từ điển Oxford: thói quen là một việc thường làm và hầu như không cần suy nghĩ, một việc khi đã trở thành thói quen sẽ được duy trì đều đặn và khó dé dừng làm việc đó trong một khoảng thời gian ngắn. Thói quen là một hành vi lặp đi lặp lại trở thành hành động tự động mà không suy nghĩ có mục đích dé làm và không có ý thức (Nilsen, 2012).
Điều này có nghĩa thói quen là hoạt động được thực hiện bởi ai đó tự động mà không cần suy nghĩ và không tạo gánh nặng cho người làm việc đó. Trong khi đó, thói quen đến từ hoạt động thể chất lặp đi lặp lại của một người nào đó và có sự cải tiến. Thói quen đọc được biểu hiện bởi tính tích cực đọc, thể hiện ở lần đọc, lượt đọc, thường xuyên hay không thường xuyên, thường sử dụng loại tài liệu nào. Thị hiếu đọc làm cho tính tích cực đọc ngay cảng tăng lên dẫn đến sự say mê đọc, làm cho việc đọc trở thành một hoạt động tự thân, một thú vui, một sự hưởng thụ.
Billington (2015) người đọc sách vì hứng thú có khả năng ứng phó với các tình huống khó khăn và nâng cao lòng tự tôn hơn so với những đối tượng khác. Đồng thời chỉ ra, đọc sách có liên hệ với giấc ngủ ngon. Và người đọc sách 30 phút một tuần thì có chỉ số hạnh phúc, hài lòng với cuộc sông cao hơn người bình thường 20%. Đọc sách, giống như âm nhạc, thể thao.
đòi hỏi thực hành và luyện tập. Người đọc sách giỏi có thể hiểu đơn giản là người yêu thích việc đọc và đọc nhiều nhất có thé. Cách tốt nhất dé yêu thích việc đọc sách là đọc những gì mình thích (reading for pleasure). Đọc vì yêu thích khác với đọc đề phục vụ việc học tập, tăng cường kiến thức.
Điều quan trọng nhất khi đọc vì yêu thích là người đọc có cơ hội được tự chọn tài liệu mình muốn đọc. Người đọc không bị yêu cầu kiểm tra về những gì đã đọc, không cần thiết phải nhớ từng chỉ tiết nhỏ trong đó, điều duy nhất cần đảm bảo là cảm thấy vui khi đọc. Các nghiên cứu trước đó đã chỉ ra những lợi ích của hoạt động đọc theo hứng thú như giúp: tăng vốn từ vựng, cải thiện tốc độ đọc, tăng khả năng đọc hiểu, cải thiện kỹ năng viết, học thêm nhiều kiến thức mới. 21 Mỗi quan hệ giữa sự lo lắng về khả năng đọc, khả năng đọc trôi chảy, động lực đọc và kha năng đọc hiểu của học sinh lớp 4.
Yamac, Ahmet & Sezgin, Zuhal (2018). Nghiên cứu của tác giả Ahmet Yamac và Zuhal Sezgin về mối liên hệ giữa đọc lo âu, đọc trôi chảy, đọc có động lực (bên trong, bên ngoài và đọc hiểu). Có thé xem xét mối tương quan giữa những yếu tố này như sau: Đọc xuất phát từ động lực bên trong, nghĩa là cá nhân người đọc yêu thích, hứng thú với việc đọc thì đem đến lợi ích: đọc hiểu, đọc trôi chảy. Mặt khác, hoạt động đọc trở nên nhẹ nhàng, thư giãn, không có liên hệ với trạng thái lo âu, căng thắng khi đọc.
Đọc xuất phát từ động lực bên ngoài (bi yêu cầu từ cha mẹ, thầy cô) dẫn đến trạng thái đọc lo âu, và không mang lại lợi ích, hiệu quả đọc hiểu hay đọc trôi chảy.