Kết quả của biện pháp vận động sớm đến khả năng phục hồi ở bệnh nhân tai biến mạch máu não

Nghiên cứu tác động của biện pháp vận động sớm đến khả năng phục hồi bệnh nhân tai biến mạch máu não tại bệnh viện đa khoa Bắc Giang.

Trường đại học

Đại Học Y Dược Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nội Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Bác Sĩ Chuyên Khoa Cấp II

2014

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Dịch tễ học tai biến mạch máu não

1.2. Đại cương về tai biến mạch máu não

1.3. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của tai biến mạch máu não

1.4. Các yếu tố nguy cơ gây tai biến mạch máu não

1.5. Chẩn đoán tai biến mạch máu não

1.6. Phác đồ xử trí tai biến mạch máu não

1.7. Dự phòng tai biến mạch máu não

1.8. Lợi ích của vận động sớm trong tai biến mạch máu não

1.9. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả vận động sớm

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian nghiên cứu

2.3. Địa điểm nghiên cứu

2.4. Thiết kế nghiên cứu

2.5. Chỉ tiêu nghiên cứu

2.6. Các tiêu chuẩn và chỉ số đánh giá

2.7. Các bước tiến hành

2.8. Vật liệu nghiên cứu

2.9. Xử lý số liệu

2.10. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung

3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm nghiên cứu

3.3. Kết quả can thiệp vận động sớm

3.4. Một số yếu tố liên quan đến kết quả vận động sớm

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung

4.2. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân TBMMN

4.3. Kết quả phục hồi vận động ở bệnh nhân TBMMN

4.4. Một số yếu tố liên quan đến kết quả vận động sớm

4.5. Về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả can thiệp vận động sớm bằng phương pháp Bobath của bệnh nhân TBMMN

4.6. Một số yếu tố liên quan đến kết quả vận động sớm

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của vận động sớm đến phục hồi bệnh nhân tai biến mạch máu não

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế và tử vong trên toàn cầu. Việc áp dụng vận động sớm cho bệnh nhân TBMMN đã trở thành một phương pháp điều trị quan trọng nhằm cải thiện khả năng phục hồi chức năng. Nghiên cứu cho thấy, vận động sớm không chỉ giúp giảm thiểu các biến chứng mà còn thúc đẩy quá trình hồi phục nhanh chóng hơn. Theo tài liệu nghiên cứu, việc bắt đầu vận động sớm trong vòng 24 giờ sau khi xảy ra tai biến có thể mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân.

1.1. Tình trạng sức khỏe sau tai biến mạch máu não

Sau khi bị tai biến, bệnh nhân thường gặp phải nhiều vấn đề về sức khỏe như liệt nửa người, rối loạn ngôn ngữ và khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. Những triệu chứng này có thể kéo dài và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

1.2. Lợi ích của vận động sớm trong phục hồi chức năng

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng vận động sớm giúp cải thiện khả năng vận động, giảm nguy cơ huyết khối và tăng cường sức mạnh cơ bắp. Bệnh nhân tham gia vào các chương trình tập luyện phục hồi sớm có xu hướng hồi phục nhanh hơn và đạt được kết quả tốt hơn trong việc phục hồi chức năng.

II. Vấn đề và thách thức trong việc áp dụng vận động sớm

Mặc dù vận động sớm mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc triển khai phương pháp này vẫn gặp phải nhiều thách thức. Một trong những vấn đề chính là sự thiếu hiểu biết của cả bệnh nhân và gia đình về tầm quan trọng của vận động sớm. Ngoài ra, sự phối hợp giữa các chuyên khoa và chi phí điều trị cũng là những yếu tố cần được xem xét.

2.1. Thiếu sự phối hợp giữa các chuyên khoa

Việc áp dụng vận động sớm đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bác sĩ, điều dưỡng và chuyên gia phục hồi chức năng. Tuy nhiên, trong thực tế, sự thiếu đồng bộ trong quy trình điều trị có thể dẫn đến việc bệnh nhân không được hưởng lợi từ phương pháp này.

2.2. Chi phí điều trị và sự hợp tác của gia đình

Chi phí cho các chương trình tập luyện phục hồi có thể là một rào cản lớn đối với nhiều bệnh nhân. Hơn nữa, sự hợp tác của gia đình trong việc khuyến khích bệnh nhân tham gia vào các hoạt động vận động sớm cũng rất quan trọng để đạt được kết quả tốt.

III. Phương pháp vận động sớm hiệu quả cho bệnh nhân tai biến

Có nhiều phương pháp vận động sớm được áp dụng cho bệnh nhân TBMMN, trong đó phương pháp Bobath được coi là một trong những phương pháp hiệu quả nhất. Phương pháp này tập trung vào việc cải thiện khả năng vận động thông qua các bài tập cụ thể và kỹ thuật hỗ trợ.

3.1. Phương pháp Bobath trong phục hồi chức năng

Phương pháp Bobath giúp bệnh nhân cải thiện khả năng vận động thông qua việc kích thích các phản xạ tự nhiên của cơ thể. Bằng cách này, bệnh nhân có thể hồi phục nhanh chóng hơn và đạt được kết quả tốt hơn trong việc phục hồi chức năng.

3.2. Các bài tập vận động sớm cho bệnh nhân

Các bài tập vận động sớm bao gồm các động tác đơn giản như co duỗi tay chân, tập ngồi và đứng. Những bài tập này không chỉ giúp cải thiện sức mạnh cơ bắp mà còn tăng cường khả năng phối hợp và thăng bằng cho bệnh nhân.

IV. Kết quả nghiên cứu về tác động của vận động sớm

Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang cho thấy rằng bệnh nhân tham gia vào chương trình vận động sớm có tỷ lệ phục hồi chức năng cao hơn so với những bệnh nhân không tham gia. Kết quả này khẳng định vai trò quan trọng của vận động sớm trong quá trình phục hồi sau tai biến.

4.1. Tỷ lệ phục hồi chức năng sau vận động sớm

Theo nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân phục hồi khả năng đi lại sau khi tham gia vận động sớm đạt 75%, trong khi tỷ lệ này chỉ là 30% ở nhóm không tham gia. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc áp dụng phương pháp này trong điều trị.

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phục hồi

Một số yếu tố như độ tuổi, mức độ nặng nhẹ của tai biến và thời gian bắt đầu vận động sớm đều có ảnh hưởng lớn đến kết quả phục hồi chức năng của bệnh nhân. Việc nắm rõ các yếu tố này sẽ giúp các bác sĩ xây dựng kế hoạch điều trị hiệu quả hơn.

V. Kết luận và tương lai của vận động sớm trong phục hồi bệnh nhân tai biến

Tương lai của vận động sớm trong phục hồi bệnh nhân TBMMN rất hứa hẹn. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc tối ưu hóa các phương pháp vận động sớm và nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của phương pháp này.

5.1. Tầm quan trọng của giáo dục cộng đồng

Giáo dục cộng đồng về lợi ích của vận động sớm là rất cần thiết. Các chương trình truyền thông có thể giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích bệnh nhân tham gia vào các hoạt động phục hồi chức năng.

5.2. Nghiên cứu và phát triển các phương pháp mới

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp vận động sớm mới nhằm cải thiện hiệu quả phục hồi chức năng cho bệnh nhân TBMMN. Việc áp dụng công nghệ mới trong điều trị cũng có thể mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân.

15/07/2025
Luận văn kết quả của biện pháp vận động sớm đến khả năng phục hồi ở bệnh nhân tai biến mạch máu não tại bệnh viện đa khoa tỉnh bắc giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một vấn đề thời sự cấp thiết của Y học đối với tất cả các nƣớc trên thế giới. TBMMN để lại nhiều hậu quả nặng nề và là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ ba sau các bệnh lý tim mạch, ung thƣ. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi và tăng tỷ lệ thuận theo tuổi. Bệnh có xu hƣớng tăng nhanh ở các quốc gia (đặc biệt là những nƣớc phát triển và đang phát triển) [1], [6], [14].

Tại Hoa Kỳ mỗi năm có khoảng 750 ngàn ngƣời hiện mắc, trong đó mắc mới là 400- 500 ngàn, tỷ lệ phát hiện mới hàng năm vào khoảng 30 - 110 trên 100.000 dân, tỷ lệ tàn tật chiếm 1/4. Ở Trung Quốc, tỷ lệ phát hiện mới hàng năm vào khoảng 329/100.000 dân, tỷ lệ hiện mắc là 1. Ở Việt Nam, TBMMN tăng nhanh đột biến trong những năm gần đây và trở thành vần đề thời sự đƣợc nhiều ngƣời quan tâm. Theo tác giả Lê Văn Thành và cộng sự năm 1995 tỷ lệ mắc trung là 416/100.000 dân, số mới mắc trung bình năm là 152/ 100.

Trƣớc đây có một số quan điểm cho rằng vận động đối với bệnh nhân TBMMN chỉ đƣợc thực hiện ở giai đoạn di chứng vì lo ngại vận động sớm (VĐS) gây tụt HA tƣ thế làm bệnh tiến triển nặng lên, tụt kẹt hạnh nhân tiểu não. Hiện nay, phác đồ điều trị cho bệnh nhân TBMMN có nhiều điểm mới đặc biệt là việc cho vận động sớm dƣới 03 ngày sau tai biến (mục tiêu là sau 24 giờ). Một số nghiên đã chứng minh cho thấy vận động sớm cải thiện đƣợc nhiều chức năng trong cơ thể. Đặc biệt vận động sớm sẽ giảm đƣợc nguy cơ huyết khối tĩnh mạch, nhồi máu phổi, nhiễm trùng, co rút cơ, loét do tì đè.

VĐS thực sự là cuộc cách mạng trong điều trị phục hồi sau tai biến mạch não. Tuy nhiên việc triển khai những vấn đề mới cập nhật này 2 cũng gặp phải nhiều khó khăn. Vì muốn VĐS cho bệnh nhân TBMMN cần phải có sự phối hợp của nhiều chuyên khoa, chi phí y tế, sự hợp tác của gia đình bệnh nhân [5], 19], [48], [50],[51]. Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, những năm gần đây bệnh nhân TBMMN vào điều trị nội trú có xu hƣớng tăng nhanh, tỷ lệ tử vong và di chứng nặng của bệnh nhân còn cao.

Ƣớc tính mỗi năm có khoảng trên 150 ca nhập viện vào điều trị tại khoa hồi sức cấp cứu, khoa HSTC và khoa Nội tim mạch (chƣa kể những trƣờng hợp nhẹ vào điều trị ở một số khoa khác). Để giảm tỷ lệ tử vong cũng nhƣ di chứng nặng cho bệnh nhân TBMMN, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả can thiệp vận động sớm ở bệnh nhân TBMMN bằng phương pháp Bobath tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả hồi phục ở bệnh nhân tai biến mạch máu não.

3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Dịch tễ học tai biến mạch máu não 1. Trên thế giới Nghiên cứu dịch tễ học tai biến mạch máu não đã đƣợc tiến hành từ những năm giữa thế kỷ XX, nhƣng quá trình hoạt động chƣa có tính chất hệ thống. Đến năm 1971, Tổ chức Y tế Thế giới đã triển khai thành lập 17 trung tâm nghiên cứu dịch tễ học ở 12 quốc gia, trong số đó có 8 trung tâm ở châu Á.

Hoạt động của các trung tâm này đƣợc thống nhất về phƣơng pháp nghiên cứu và mục đích là tìm hiểu các chỉ số chính về dịch tễ học: tỷ lệ mới mắc, tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ tử vong do tai biến mạch máu não, đồng thời tìm hiểu vai trò của các yếu tố nguy cơ gây bệnh và đề ra biện pháp dự phòng có hiệu quả [38], [78]. Từ sau đó, các trung tâm nghiên cứu về tai biến mạch máu não đƣợc phát triển thêm ở một số nƣớc khác. Tổ chức Y tế Thế giới nhận định tỷ lệ mắc tai biến mạch máu não hàng năm dao động từ 127 đến 740/100.000 dân và có sự chênh lệch giữa các nƣớc và các khu vực khác nhau [31],[57],[64]. - Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ mới mắc hàng năm từ 73 - 195/100.000 dân, tỷ lệ hiện mắc đối với mọi lứa tuổi là 743/100.000 dân, trong số những ngƣời trên 45 tuổi tỷ lệ tử vong chiếm 7% [38], [63],[75].

- Tại Pháp, theo các tác giả nghiên cứu tại vùng Djion trong 3 năm từ 1985 đến 1988 với số dân trên 140.000, cho thấy tỷ lệ mới mắc hàng năm là 145/100. Khu vực châu Á, nghiên cứu về tai biến mạch máu não chƣa đƣợc tiến hành đồng đều, tuy đã có một số trung tâm nghiên cứu nhƣng số liệu vẫn chƣa đƣợc đầy đủ, tỷ lệ mắc bệnh trung bình hàng năm còn có sự khác biệt nhiều giữa các nƣớc [31], [64]. 4 - Theo Bonita R, tại Nhật Bản trƣớc năm 1973 tỷ lệ tử vong là 196,7/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc dao động từ 91- 317/100.000 dân, Nhật Bản là nƣớc triển khai chiến dịch dự phòng tai biến mạch máu não khá tốt, nhờ đó mà tỷ lệ tử vong giảm xuống còn 7% mỗi năm. Tại Nhật Bản đã có 5 trung tâm nghiên cứu về dịch tễ học tai biến mạch máu não, những kết quả đạt đƣợc cho thấy tỷ lệ tử vong còn khác nhau nhiều giữa các vùng nghiên cứu [78].

- Tại Trung Quốc, theo số liệu điều tra của Richard Kay ở 6 thành phố trong năm 1983 cho thấy tỷ lệ hiện mắc bệnh tai biến mạch máu não trung bình là 219/100. - Trong các nƣớc Đông Nam Á, tai biến mạch máu não chiếm tỷ lệ khá cao, theo điều tra của Venketasubramarian ở 6 quốc gia đã đƣa ra tỷ lệ hiện mắc từ 500- 690/100.000 dân cao hơn ở Hoa Kỳ và Pháp [31], [72], [77]. Số liệu dịch tễ học tai biến mạch não đƣợc công bố ở châu Á Tên nƣớc Tỷ lệ mới mắc Tỷ lệ hiện mắc Tỷ lệ tử vong Nhật Bản 196,7 Hirosima- 324 3540 Nagasaki 230 398 Hisayama 523 2093 Jaboji 317 Akha 245 Saku 117 Osaka 91 Fukaoka 340 20 thành phố khác Đài Loan 620 69,7 Israel 140 1642 95,7 5 Tên nƣớc Tỷ lệ mới mắc Tỷ lệ hiện mắc Tỷ lệ tử vong Hawaii Hồng Kông 45,8 Malaysia 15,9 Singapore 35 Ấn Độ 13 569 Thái Lan (Băng Kok) 690 11,8 Philippine 35,8 Mông cổ 68 Sirilanka 29 - Thực trạng của tai biến mạch máu não hiện nay ở các nƣớc trên thế giới vẫn còn nhiều nét khác biệt, muốn đánh giá đƣợc cụ thể phải dựa vào các nghiên cứu toàn diện về các chỉ số dịch tễ học nhƣ: tỷ lệ mới mắc, tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ tử vong hàng năm. Tại Việt Nam Trƣớc năm 1990, các công trình nghiên cứu dịch tễ học tai biến mạch máu não tại cộng đồng còn rất ít.

Năm 1989 Nguyễn Văn Đăng tiến hành đề tài nghiên cứu dịch tễ học tai biến mạch máu não ở nhiều trung tâm (Hà Nội, Thanh Hoá, Thái Bình, Hà Tây, Sơn Tây) [22]. Lê Văn Thành và cộng sự, nghiên cứu dịch tễ học tai biến mạch máu não các tỉnh phía nam với số dân trên 52.640 ngƣời, cho biết tỷ lệ mới mắc trung bình hàng năm là 152/100.000 dân, tỷ lệ hiện mắc trung bình là 415/100.000 dân, tỷ lệ tử vong trong số bệnh nhân bị tai biến mạch máu não là 37% [33]. Các tác giả còn cho thấy tai biến mạch máu não gặp chủ yếu ở lứa tuổi trên 50, còn lứa tuổi dƣới 50 chiếm tỷ lệ rất ít. Các yếu tố nguy cơ tuy chƣa xác định đƣợc đầy đủ, nhƣng cũng nhận thấy rằng tăng huyết là yếu tố nguy cơ đứng hàng đầu trong số các bệnh nhân mắc bệnh TBMMN [10], [16], [29].

Đại cƣơng về tai biến mạch máu não 1. Định nghĩa Theo Tổ chức Y tế Thế giới 1989 “ Tai biến mạch máu não là sự xảy ra đột ngột các thiếu sót chức năng thần kinh thƣờng khu trú hơn là lan toả, tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trong vòng 24 giờ. Các khám xét loại trừ nguyên nhân chấn thƣơng” [3]. Phân loại Năm 1992 theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ X, phần chảy máu não và thiếu máu não cục bộ đƣợc xếp ở hai chƣơng ký hiệu là I và G [3], [24], [69].

Ởphần tim mạch + I. Chảy máu dƣới màng nhện. Chảy máu trong sọ khác không do chấn thƣơng. Đột quị không xác định chảy máu, nhồi máu não.

Tắc và hẹp động mạch trƣớc não không gây nhồi máu. Tắc và hẹp động mạch não không gây nhồi máu. Các bệnh mạch máu khác. Các rối loạn tuần hoàn não trong các bệnh phân loại ở phần khác.

Di chứng của các bệnh mạch máu não. * Ở phần thần kinh + G. Thiếu máu não cục bộ tạm thời và hội chứng liên quan. Các hội chứng bệnh lý trong bệnh mạch máu não.

Giải phẫu- sinh lý - Não đƣợc tƣới máu bởi 2 cặp cuống mạch máu lớn: các nhánh của 2 động mạch cảnh trong 2 bên để cấp máu cho mỗi bên bán cầu. 2 động mạch 7 đốt sống khi vào sọ hợp lại tạo thành mạch thân nền tƣới máu cho tiểu não, thân não. Điều này giải thích các TBMMN thuộc hệ động mạch cảnh cho triệu chứng thần kinh 1 bên, còn tổn thƣơng hệ động mạch sống nền cho triệu chứng lan toả 2 bên [7], [9], [13],[81]. - Cung lƣợng máu lên não không đổi nhờ hiệu ứng Bayliss: khi có HA cao máu lên não nhiều thì các cơ trơn thành mạch nhỏ lại để hạn chế máu lên não và ngƣợc lại.

HA trung bình đƣợc coi là HA để đẩy máu lên não, khi HA trung bình < 60 mmHg hoặc > 150 mmHg thì sẽ mất hiệu ứng Bayliss. Vì vậy điều trị duy trì HA ở mức hợp lý là rất quan trọng. Ngoài ra cung lƣợng máu lên não còn chịu ảnh hƣởng của nồng độ C02 trong máu động mạch [34], [55]. - Vùng tranh tối sáng hay còn gọi là vùng điều trị: vùng xung quanh ổ tụ máu hay xung quanh vùng hoại tử, các tế bào thần kinh ở trạng thái nghỉ hoạt động.

Vùng này có lƣu lƣợng máu não 10 – 25ml/ 100 gam não/ phút. Rối loạn tế bào vùng tranh tối sáng là chuyển hoá yếm khí, tăng axit lăctic, tăng gốc tự do. Việc điều trị là ngăn chặn chuyển thành vùng hoại tử, làm hồi phục các tế bào thần kinh bị rối loạn [35],[55],[56]. Sinh bệnh học Các triệu chứng thần kinh khu trú liên quan đến tổn thƣơng vùng não chi phối: ví dụ liệt nửa ngƣời, mất thị trƣờng, khó nuốt.

Các triệu chứng toàn thể do di lệch tổ chức não gây tăng áp lực nội sọ: - Đau đầu, nôn hoặc buồn nôn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu với tiêu đề Tác động của vận động sớm đến phục hồi bệnh nhân tai biến mạch máu não khám phá vai trò quan trọng của việc vận động sớm trong quá trình phục hồi của bệnh nhân sau tai biến mạch máu não. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc khởi động vận động sớm không chỉ giúp cải thiện khả năng vận động mà còn giảm thiểu các biến chứng và tăng cường chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Những lợi ích này không chỉ mang lại hy vọng cho bệnh nhân mà còn cung cấp thông tin quý giá cho các chuyên gia y tế trong việc xây dựng kế hoạch phục hồi hiệu quả.

Để mở rộng thêm kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến tai biến mạch máu não, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng một số yếu tố tiên lượng của chảy máu não bán cầu tại bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố nguy cơ và đặc điểm lâm sàng liên quan đến tai biến, từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về bối cảnh và các yếu tố cần xem xét trong quá trình điều trị và phục hồi.