Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ tỷ giá và cán cân thương mại Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 6 CHƢƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ TỶ GIÁ VÀ CÁN CÂN THƢƠNG MẠI 2. Tỷ giá hối đoái Theo Nguyễn Văn Tiến (2011) tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị ngoại tệ được tính bằng một số đơn vị nội tệ. Theo đó, ngoại tệ đóng vai trò là đồng yết giá, nội tệ đóng vai trò là đồng định giá.
Tủy theo mức độ tiếp cận nghiên cứu về tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại cũng như phản ánh của tỷ giá hối đoái về tương quan sức mua của đồng tiền các nước, người ta chia ra làm 4 loại tỷ giá: tỷ giá danh nghĩa song phương (NER), tỷ giá thực song phương (RER), tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER), tỷ giá thực đa phương (REER). Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn đề cập đến hai đối tác thương mại là Việt Nam và Trung Quốc, vì vậy luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu tỷ giá ở tỷ giá danh nghĩa song phương và tỷ giá thực song phương. Tỷ giá danh nghĩa Tỷ giá danh nghĩa song phương (Nominal Bilateral Exchange Rate – NER) là giá cả của một đồng tiền được biểu thị qua một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng. Tỷ giá danh nghĩa song phương là tỷ giá được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, phục vụ cho các giao dịch chuyển đổi, mua bán ngoại tệ.
Tỷ giá này chỉ đơn thuần là giá cả một đơn vị ngoại tệ bằng bao nhiêu đơn vị nội tệ. Ví dụ: 1 CNY = 3250 VND, cho biết thông tin là một nhân dân tệ đổi được 3250 Việt Nam đồng, nhưng chưa biết được là tại Trung Quốc 1 CNY có mua được lượng hàng hóa bằng lượng hàng hóa mà 3250 VND mua được tại Việt Nam hay không? Do tỷ giá danh nghĩa song phương chưa đề cập đến tương quan sức mua giữa hai loại đồng tiền, tức chưa đề cập đến yếu tố lạm phát của hai nền kinh tế. Khi tỷ giá danh nghĩa song phương thay đổi chưa cho biết hướng tác động của tỷ giá đến thương mại giữa hai quốc gia sẽ diễn tiến như thế nào vì còn phụ thuộc vào giá cả hàng hóa của hai 7 nước thay đổi như thế nào trong tương quan với mức thay đổi của tỷ giá danh nghĩa song phương. Do vậy, tỷ giá thực sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề này.
Tỷ giá thực Tỷ giá thực song phương (Real Bilateral Exchange Rate – RER) là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát giữa trong nước với nước ngoài. Tỷ giá thực là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. Tỷ giá thực trạng thái tĩnh Tỷ giá thực trạng thái tĩnh xem xét giá cả tại một thời điểm của hai rổ hàng hóa giống nhau ở trong nước và nước ngoài khi quy về nội tệ. Ví dụ: Tỷ giá này cho chúng ta biết được một đơn vị ngoại tệ (CNY) khi đổi ra nội tệ (VND) theo tỷ giá E có mua được số lượng hàng hóa ở Việt Nam bằng với mua ở Trung Quốc hay không và ngược lại.
Tỷ giá thực trạng thái tĩnh được xác định theo công thức: (2.1) Trong đó, er là tỷ giá thực, E là tỷ giá danh nghĩa, P* là giá cả ở nước ngoài tính bằng ngoại tệ, P là giá cả ở trong nước tính bằng nội tệ. Các trạng thái của tỷ giá thực trạng thái tĩnh er có thể xảy ra là er = 1, er > 1 và er < 1. Khi er bằng 1 tức là hai đồng tiền ngang giá sức mua. Khi đó chuyển đổi mỗi đơn vị nội tệ ra ngoại tệ theo tỷ giá E thì mua được số lượng hàng hóa là như nhau ở trong nước và nước ngoài.
Khi er lớn hơn 1, tức là nội tệ được định giá thực thấp. Do E > , trong đó là ngang giá sức mua giữa hai đồng tiền. Tỷ giá danh nghĩa E lớn hơn tỷ lệ trao đổi thực của hàng hóa giữa hai nước. Do đó trong tỷ giá danh nghĩa E, ngoại tệ được định giá cao và nội tệ được định giá thấp hơn giá trị thực của nó.
Điều này làm tăng khối lượng xuất khẩu (do P* > ) và giảm khối lượng nhập khẩu (do E.P* > P), nâng cao vị thế cạnh tranh thương mại của quốc gia có đồng tiền được định giá thực thấp. Khi er < 1 tức là nội tệ được định giá thực 8 cao. Do E < , tỷ giá danh nghĩa E nhỏ hơn tỷ lệ trao đổi thực của hàng hóa giữa hai nước, do đó trong tỷ giá danh nghĩa E, ngoại tệ được định giá thấp và nội tệ được định giá cao hơn giá trị thực của nó. Điều này làm giảm khối lượng xuất khẩu và tăng khối lượng nhập khẩu, giảm vị thế cạnh tranh thương mại của quốc gia có đồng tiền được định giá thực cao.
Tỷ giá thực song phương được xem xét tại một thời điểm là tỷ giá thực song phương trạng thái tĩnh, còn được xem xét trong một giai đoạn là tỷ giá thực song phương trạng thái động. Việc tính toán và sử dụng tỷ giá thực song phương trạng thái tĩnh chỉ có ý nghĩa trong lý thuyết. Để việc tính toán và quan sát sự diễn biến của tỷ giá thực trong một giai đoạn tác động như thế nào đến thương mại giữa hai quốc gia, chúng ta sử dụng tỷ giá thực trạng thái động. Tỷ giá thực trạng thái động Tỷ giá thực trạng thái động sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính toán thay cho giá của một rổ hàng hóa tiêu chuẩn như ở công thức tỷ giá thực trạng thái tĩnh (Nguyễn Văn Tiến, 2011).2) Trong công thức 2.2, là chỉ số tỷ giá thực tại thời điểm t so với thời điểm 0 được xác định bởi các yếu tố: là chỉ số tỷ giá danh nghĩa tại thời điểm t so với thời điểm 0 được tính bằng công thức với là tỷ giá danh nghĩa thời điểm t, là tỷ giá danh nghĩa thời điểm 0.
là chỉ số giá ở nước ngoài tại thời điểm t so với thời điểm 0 được tính bằng công thức = với là giá hàng hóa ở nước ngoài thời điểm t, là giá hàng hóa ở nước ngoài thời điểm 0. là chỉ số giá trong nước tại thời điểm t so với thời điểm 0, = , là giá hàng hóa trong nước thời điểm t, là giá hàng hóa trong nước thời điểm 0. Các trạng thái của tỷ giá thực trạng thái động bao gồm: =1, >1 và <1. Trong khi sự thay đổi tỷ giá thực trạng thái tĩnh cho biết về vị thế cạnh tranh 9 thương mại của một quốc gia thì sự thay đổi của tỷ giá thực trạng thái tĩnh cho biết về sức cạnh tranh thương mại của một quốc gia theo thời gian được cải thiện hay xấu đi.
Khi = 1, tỷ giá thực không đổi trong giai đoạn từ thời điểm 0 đến t có nghĩa là sức cạnh tranh thương mại được duy trì. Khi > 1, tỷ giá thực tăng làm sức mua đối ngoại của nội tệ giảm tương đối (giảm nhanh hơn hoặc tăng chậm hơn) so với ngoại tệ trong giai đoạn từ thời điểm 0 đến t nên ta nói nội tệ giảm giá thực. Đồng tiền giảm giá thực có tác dụng làm tăng sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia này. Khi < 1, tỷ giá thực giảm làm sức mua đối ngoại của nội tệ tăng tương đối so với ngoại tệ.
Đồng tiền lên giá thực có tác dụng làm xói mòn sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia này. Cán cân thƣơng mại 2. Khái niệm cán cân thương mại Cán cân thương mại (CCTM) là bộ phận lớn nhất thuộc cán cân vãng lai của cán cân thanh toán thanh toán quốc tế (BOP). CCTM phản ánh chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khẩu hàng hóa và các khoản chi cho nhập khẩu hàng hóa, mà các hàng hóa này là hữu hình, có thể quan sát được khi di chuyển qua lãnh thổ hải quan (Nguyễn Văn Tiến, 2011).
Các trạng thái của CCTM phụ thuộc vào mối tương quan giữa giá trị xuất khẩu và giá trị nhập khẩu hàng hóa. Xuất khẩu hàng hóa làm xuất hiện khoản thu và được ghi có trong BOP, nhập khẩu hàng hóa làm xuất hiện khoản chi và được ghi nợ trong BOP. Khi một quốc gia có khoản thu từ xuất khẩu lớn hơn khoản chi cho nhập khẩu thì CCTM của quốc gia đó là một số dương và được gọi là thặng dư thương mại. Ngược lại, khi chi cho nhập khẩu lớn hơn thu từ xuất khẩu thì CCTM của quốc gia đó là một số âm và gọi là thâm hụt thương mại.
Nhân tố tác động đến cán cân thương mại Tỷ giá Với các nhân tố khác không thay đổi (giá hàng hóa trong nước P và giá hàng hóa nước ngoài P* không đổi), khi tỷ giá danh nghĩa E tăng làm cho giá hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ giảm, làm tăng tính cạnh tranh về giá của hàng hóa 10 xuất khẩu với hàng hóa nội địa của nước nhập khẩu, từ đó kích thích tăng khối lượng xuất khẩu. Đồng thời, giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng nội tệ trở nên đắt hơn, làm giảm nhu cầu tiêu dùng đối với hàng hóa nhập khẩu từ đó làm giảm khối lượng nhập khẩu. Tuy nhiên, khối lượng xuất khẩu tăng và khối lượng nhập khẩu giảm chưa hẳn tác động làm cán cân thương mại được cải thiện. Vì cán cân thương mại (Trade Balance – TB) bằng ngoại tệ được tính bằng: (2.3) Khi tỷ giá E tăng sẽ làm giá hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ giảm, khối lượng xuất khẩu tăng, do đó giá trị xuất khẩu tính bằng ngoại tệ có thể tăng, giảm hoặc không thay đổi.
Giá trị nhập khẩu tính bằng ngoại tệ sẽ giảm do khối lượng nhập khẩu giảm trong khi giá P* không đổi. Tỷ giá danh nghĩa E tăng sẽ làm tăng giá trị xuất khẩu tính bằng ngoại tệ nếu tỷ lệ tăng khối lượng xuất khẩu lớn hơn tỷ lệ tăng tỷ giá E. Trường hợp này ta nói giá trị xuất khẩu bằng ngoại tệ co dãn với tỷ giá. Ngược lại, nếu tỷ lệ tăng khối lượng xuất khẩu thấp hơn tỷ lệ tăng tỷ giá E sẽ làm giảm giá trị xuất khẩu bằng ngoại tệ và được gọi là giá trị xuất khẩu bằng ngoại tệ không co dãn với tỷ giá.