Chương 1: Xu hướng tự do hóa các giao dịch vốn, giống như tự do hóa thương mại, đang trở thành xu hướng tất yếu của kinh tế toàn cầu và mang lại rất nhiều lợi ích cho các quốc gia. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, tự do hóa các giao dịch vốn cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và thách thức. Mối quan hệ giữa tự do hoá tài khoản vốn và tăng trưởng được khá nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu, có nhiều ý kiến trái chiều nhau. Một số học giả ủng hộ quan điểm tự do hoá tài khoản vốn và một số học giả không tìm thấy mối quan hệ giữa tự do hoá tài khoản vốn và tăng trưởng.
Đề tài đã hệ thống lại các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tự do hoá tài khoản vốn và tăng trưởng ở chương 2. 123doc 18 CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG TỰ DO HÓA TÀI KHOẢN VỐN LÊN TĂNG TRƯỞNG 2.1 HỆ THỐNG CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ DO HÓA TÀI KHOẢN VỐN VÀ TĂNG TRƯỞNG 2.1 Những nghiên cứu ủng hộ Tự do hóa tài khoản vốn ảnh hưởng tăng trưởng Quinn (1997) là một trong những nghiên cứu đầu tiên xác định tự do hóa tài khoản vốn kích thích tăng trưởng. Quinn đã thực hiện phân tích hồi qui đa biến sử dụng phương pháp đo lường định lượng nội quy giao dịch tài chính quốc tế. Phương pháp được sáng lập bằng cách mã hóa luật của 64 nước.
Các giao dịch tài khoản vốn vào và ra được đo lường bằng Capital, được ghi nhận thang đo từ 0-4. Những giao tài khoản vãng lai vào và ra được đặt là Current,có thang đo từ 0-8. Kết hợp Capital và Current tạo ra một thang đo từ 0-12, phân loại từ đóng cửa nhất (0) đến mở cửa nhất(12). Quinn đã thêm vào nhân tố thứ 7 là những thoả ước pháp định quốc tế (Agree) ràng buộc khả năng của 1 nước có hạn chế những luồng vốn và trao đổi, nó có các giá trị 0, 0.5, 2 phân loại từ không kìm chế đến kìm chế hoàn toàn.
Những ước lượng thực nghiệm của Quinn cho thấy sự thay đổi tự do hóa tài khoản vốn có ảnh hưởng đáng kể lên sự gia tăng GDP thực trên đầu người với dữ liệu 64 nước (1960-1989). 1 Klein và Olivei (1999) tìm thấy ảnh hưởng tích cực của tự do hóa tài khoản vốn lên tăng trưởng ở các nước công nghiệp, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy tự do hóa tài khoản vốn thúc đẩy tăng trưởng ở các nước không phải công nghiệp. Nghiên cứu này hơi khác so các nghiên cứu khác vì tập trung vào vai trò của tự do hóa tài khoản vốn lên phát triển tài chính và sau đó mới xem xét tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng. Klein và Olivei dùng chỉ số Share trong giai đoạn 1986 -1995 và tìm thấy ảnh hưởng đáng kể của tự do hóa tài khoản vốn lên độ sâu tài chính thông qua 1 Theo "The Correlates of Change in International Financial Regulation" – Tác giả Dennis Quinn 123doc 19 mẫu 82 nước phát triển và đang phát triển.
Kết quả này bị chi phối bởi sự có mặt các nước OECD trong mẫu. Klein và Olivei cho thấy ảnh hưởng đáng kể của tự do hóa tài khoản vốn lên độ sâu tài chính ở mẫu gồm 20 nước OECD nhưng không có ảnh hưởng ở các nước non-OECD, hay mẫu 18 nước Mỹ Latinh non-OECD. Klein và Olivei cũng ước lượng mô hình tăng trưởng với biến hồi quy là sự thay đổi độ sâu tài chính và phát hiện rằng phát triển tài chính là yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng tính trên đầu người. Klein và Olivei kết luận rằng lợi ích mang lại từ tự do hóa tài khoản vốn, với mong muốn cải tiến chiều sâu tài chính chỉ có thể đạt được khi các thể chế ủng hộ các luồng vốn tự do.
Edwards (2001), ảnh hưởng tự do hóa và tăng trưởng phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế. Edwards sử dụng hồi quy ước lượng bình phương tối thiểu có trọng số, với trọng số là đại diện thu nhập quốc gia trong 1985. Ước lượng của ông cho thấy 1 hệ số âm lên mở cửa tài khoản vốn và 1 hệ số dương lên tương tác giữa mở cửa - thu nhập. Điều này cho thấy mở cửa tài khoản vốn làm giảm tăng trưởng đối với những nước có mức thu nhập thấp nhưng sẽ kích thích tăng trưởng ở những nước công nghiệp và những nước giàu hơn trong thị trường mới nổi.
Phương pháp của Edward được nghiên cứu kỹ bởi Arteta, Eichengreen, và Wyplosz (2001). Những ước lượng của Arteta, Eichengreen, và Wyplosz cho thấy kết quả của Edwards có lẽ dễ bị ảnh hưởng đối với sự đa dạng các nhân tố, vì thế Arteta, Eichengreen, và Wyplosz kết luận rằng có ít bằng chứng cho thấy tự do hóa tài khoản vốn có nhiều ảnh hưởng thuận lợi lên những nước có thu nhập cao và trung bình hơn là những nước đang phát triển nghèo hơn. Giải thích cho kết quả của mình Arteta, Eichengreen, và Wyplosz cho rằng phương pháp của Quinn, đại diện cho mở cửa tài khoản vốn trong 1973 và 1988, phù hợp giai đoạn mà Edwards nghiên cứu, do Edwards sử dụng những quan sát có trọng số trong năm 1985 về GDP trên đầu người có nghĩa những nước giàu có ảnh hưởng nhiều hơn những nước nghèo nên kết quả bị ảnh hưởng theo ý định chủ quan này. Đồng thời Arteta, Eichengreen, và Wyplosz cho 123doc 20 rằng Edwards sử dụng biến công cụ để cố định tác động các nhân tố nên loại trừ những tác động tiềm năng khác như mở cửa tài khoản vãng lai mà có thể tương quan với mở cửa tài khoản vốn.
Nhưng Arteta, Eichengreen, và Wyplosz tìm thấy bằng chứng ủng hộ cho sự ảnh hưởng khác nhau của tự do hóa tài khoản vốn qua các nước, phụ thuộc vào mức độ ổn định kinh tế vĩ mô. Arteta, Eichengreen, và Wyplosz kết hợp phương pháp Quinn với phương pháp của Sachs-Warner (1995) và chênh lệch giữa giá chính thức và giá thị trường chợ đen (black market premium) cho thấy những nước mở cửa tài khoản vốn tăng trưởng nhanh hơn chỉ khi loại trừ chênh lệch giá so với thị trường chợ đen. Bekaert, Harvey và Lundblad (2001) (BHL) kiểm tra tác động của tự do hóa thị trường chứng khoán lên tăng trưởng kinh tế. Như những nhà nghiên cứu trước làm, Bekaert, Harvey và Lundblad bắt đầu phân tích bằng cách tăng biến đại diện cho tự do hóa thị trường chứng khoán.
Nhìn chung BHL phát hiện rằng tự do hóa tài chính dẫn đến 1% tăng GDP trên đầu người hàng năm trong giai đoạn 5 năm và ảnh hưởng này có ý nghĩa thống kê. Những kết quả này cùng với kết quả Quinn là bằng chứng mạnh nhất ủng hộ giả thiết trong những nghiên cứu đã xuất bản rằng tự do hóa tài khoản vốn kích thích tăng trưởng ở các nước đang phát triển. Nhưng nghiên cứu gần đây của Klein (2003) cung cấp bằng chứng rằng mở cửa tài khoản vốn đóng góp đáng kể cho tăng trưởng của các nước có thu nhập trung bình chứ không phải các nước nghèo hay giàu nhất. Klein cho tương tác bậc 2 giữa thu nhập ban đầu và chỉ số mở cửa tài khoản vốn cũng như tương tác bậc 2 giữa chỉ số chất lượng chính phủ (có tương quan cao với thu nhập) và chỉ số mở cửa tài khoản vốn.
Phát hiện rằng những nước có thu nhập trung bình hưởng lợi từ luồng vốn vào, điều này phù hợp với quan điểm của Rodrik (1999) rằng những nước quy định thể chế, chính sách lập quy, và cơ quan giám sát thích đáng thì được hưởng lợi từ những luồng vốn. 123doc 21 O'Donnell (2001) và Chanda (2001) phân biệt ảnh hưởng tự do hóa tài khoản vốn giữa các nước. O'Donnell sử dụng phương pháp dựa trên quy luật nền tảng IMF và một phương pháp định lượng. Dùng một kết cấu khá chuẩn, O'Donnell phát hiện rằng phương pháp dựa trên các quy luật IMF có khuynh hướng quá kém vì không đưa ra bản chất sự khác nhau các loại kiểm soát.
Tuy nhiên, sử dụng phương pháp định lượng, ông phát hiện rằng lợi ích của các nước là không như nhau. Chanda (2001) đề xuất rằng tác động của mở cửa tài khoản vốn có thể khác cùng với mức độ đa dạng của ngôn ngữ và sắc tộc trong xã hội, một đại diện cho nhóm có chung lợi ích. Đặc biệt, ông phát hiện kiểm soát vốn dẫn đến sự không hiệu quả và tăng trưởng thấp hơn ở những nước có mức độ đa dạng của ngôn ngữ và sắc tộc.1: Tổng hợp các phương pháp đo lường chỉ số tự do hóa TKV STT Nghiên cứu Số lượng Phương Kết quả chính cho tăng trưởng GDP quốc gia pháp Các nghiên cứu ủng hộ tự do hoá tà khoản vốn 1 Alesina, Grilli, 20 Binary Không có tác động của kiểm soát vốn lên tăng Milesi-Ferretti (1950- trưởng ở các nước OECD (1994) 1989) 2 Quinn (1997) 64 ΔQuinn, Mở cửa tài khoản vốn làm gia tăng đáng kể (1960- thu nhập trên đầu người, mặc dù không hồi 1989) quy ΔCapital Control và Δopenness 3 Bailliu (2000) 40 Volume Vốn vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao hơn (1975 - nhưng chỉ áp dụng cho nền kinh tế có hệ thống 1995) ngân hàng đạt đến trình độ phát triển nhất định 4 Edwards 62 Share, Mở cửa tài khoản vốn tác động dương với tăng (2001) (1980 - Quinn trưởng chỉ sau khi một nước đạt được một 1989) ΔQuinn mức độ phát triển kinh tế và tài chính 123doc 22 5 Arteta, 61 Quinn Tài khoản vốn tương quan mạnh mẽ hơn với Eichengreen, (1973 – ΔQuinn tăng trưởng khi mở cửa tài khoản vốn tương và 1992) tác với mở cửa thương mại và hệ thống luật Wyplosz(2001) 6 Quinn, Inclan 76 Quinn Tự do hóa tài khoản vốn có tác động tích cực và Toyoda (1960- ΔQuinn lên tăng trưởng ở hầu hết các nước. 10 Edison Levine, 73 Share Tự do hóa tài khoản vốn có tác động tích cực Ricci và Slok (1976- Quinn lên tăng trưởng ở những nước có thu nhập (2004) 1995) trung bình 11 Klein (2005) 71 Share Mở cửa tài khoản vốn tác động có ý nghĩa (1976- thống kê lên tăng trưởng ở các nước có định 123doc 23 1995) chế tốt hơn 12 Klein và Olivei 70 Share Những nước phát triển có mở cửa tài khoản (2006) (1976- vốn càng tăng trưởng nhiều hơn và chiều sâu 1995) tài chính mặc dù kết quả nhờ vào những nước OECD trong mẫu.