Chương 1 giới thiệu những vấn đề cần nghiên cứu của luận án bao gồm: Lý do nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, sơ lược các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu, đóng góp mới và bố cục của luận án. LÝ DO NGHIÊN CỨU Nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển đổi từ năm 1986, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, quá trình tiền tệ hoá nền kinh tế diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn đầu chuyển đổi. Cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng chuyển từ hệ thống một cấp sang hệ thống hai cấp. Cuối những năm 1980, TTKT Việt Nam được thúc đẩy bởi sự phát triển của hệ thống ngân hàng với kênh dẫn vốn chủ đạo cho các hoạt động trong nền kinh tế là kênh tín dụng.
TTKT tại Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng sau khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997 cũng như khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 (Goldstein và Xie, 2009). Giai đoạn 2004-2020, với chính sách điều hành linh hoạt của các cơ quan quản lý, kinh tế Việt Nam có nhiều khởi sắc, tốc độ tăng trưởng GDP tăng liên tục từ mức 4,8% năm 1999 lên mức 8,5% năm 2007, cao nhất kể từ năm 1997 và cho cả giai đoạn 2004-2020. Có thể thấy tăng trưởng GDP giai đoạn 2004-2020 tại Việt Nam đã trải qua các pha trong chu kỳ tăng trưởng bao gồm: (i) tiền tăng trưởng (GDP năm 2004: 7,7%, năm 2005: 7,5%); (ii) đỉnh tăng trưởng (GDP năm 2006: 8,2%, năm 2007: 8,5%); (iii) suy giảm (GDP năm 2008: 6,2%, năm 2009: 5,3%); (iv) tạo đáy (GDP năm 2010: 6,8%, năm 2011: 6,3%, năm 2012: 5,3%, năm 2013: 5,4%, năm 2014: 6%, năm 2015: 6,7%, năm 2016: 6,2%). Tốc độ tăng trưởng GDP cao đi liền với tỷ lệ lạm phát cũng tăng lên mức hai con số (cao nhất năm 2008 là 19,9%).
Các yếu tố hỗ trợ TTKT trong đó đáng chú ý là vốn TDNH và FDI có tốc độ tăng trưởng cao, đạt đỉnh 53,9% năm 2007 đối với TTTD, lượng vốn FDI đăng ký và giải ngân tăng mạnh trong năm 2008 (71,7 tỷ USD và 11,5 tỷ USD) do từ tháng 01/2007 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, khung pháp luật về đầu tư ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế. Nhằm kích thích tăng trưởng sau khủng hoảng năm 2007-2008 cũng như tạo tiền đề tăng trưởng cho những năm sau, Chính phủ đã tung ra hai gói kích thích kinh tế quy mô lớn: Gói đầu tiên khoảng 1 tỷ USD hỗ trợ lãi suất; Gói thứ 2 trị giá 8 tỷ USD để bổ sung vốn đầu tư phát triển, tăng chi an Mau.van: TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat Mau.van: 2 sinh xã hội, cắt giảm thuế. Lợi ích của gói kích cầu này là kinh tế tăng trưởng nhưng đi cùng là rủi ro bong bóng tài sản, lạm phát tăng cao, thâm hụt ngân sách…tác động tiêu cực tới các yếu tố vĩ mô (Phạm Văn Hà, 2010). 60 53,9 50 41,5 37,7 40 30,0 29,9 30 19,2 21,4 18,3 18,2 17,3 20 12,5 14,2 13,9 13,65 10,9 12,2 7,7 7,5 8,2 8,5 8,9 7,1 6,2 6,8 5,4 6 6,7 6,2 6,8 7 10 5,3 6,3 5,3 2,9 0,5 0,2 -0,4 1,3 0,5 0,4 -1,9 0,9 -2,1 -2,5 -2,4 4,4 -1,8 3,7 00 2,6 3,9 1,2 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 -10 TTTD Việt Nam (%) GDP - Bình quân KV ASEAN (%) GDP - Việt Nam (%) Nguồn: Tác giả tổng hợp Hình 1.
TTTD, TTKT bình quân khu vực ASEAN và Việt Nam giai đoạn 2004 – 2020 Hình 1.1 cho thấy tốc độ TTTD tại Việt Nam giai đoạn 2007–2009 ở mức cao trên 30% thậm chí đạt 53,9% vào năm 2007, nhưng mức tăng GDP không tương xứng, TTKT chạm đáy ở mức 5,3% vào năm 2009. Xu hướng tăng trưởng giữa hai yếu tố này trở nên ổn định hơn trong giai đoạn 2012–2020. Việt Nam là nước có mức TTKT cao và ổn định hơn so với bình quân các nước trong khu vực ASEAN giai đoạn 2004-2020. Đi cùng với tốc độ tăng trưởng thì chất lượng tăng trưởng dần được cải thiện, tỷ trọng đóng góp của khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ vào GDP đều trên 40% trong giai đoạn 2004-2020, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng thấp hơn, nhưng có xu hướng chuyển dịch sang nông nghiệp xanh và công nghệ cao cho ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Theo nhiều đánh giá của các chuyên gia kinh tế trong nước và quốc tế, kết quả tăng trưởng của Việt Nam tập trung về chiều rộng chứ chưa có sức bật để tăng trưởng về chiều sâu. CIEM (2012) đánh giá TTKT ở Việt Nam chủ yếu theo chiều rộng, chưa bảo đảm tính hợp lý và hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố tăng trưởng. Cụ thể: (i) Tăng trưởng phụ thuộc nhiều hơn vào tăng vốn; (ii) Ổn định kinh tế vĩ mô chưa chắc; (iii) Hiệu quả đầu tư thấp; (iv) Năng suất lao động thấp và tăng chậm; (v) Sự cạnh tranh quốc gia chậm cải thiện; (vi) Các mục tiêu của cải cách thể chế chưa được chú ý đúng mức.van: TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat Mau.van: 3 Trần Thọ Đạt (2019) nhận định nước ta cần tăng trưởng nhanh nhưng phải bền vững, các động lực tăng trưởng hiện tại cần được duy trì và gia tăng cùng với khai thác các động lực mới. Hiện tại nền kinh tế vẫn đang có nhiều thách thức và tồn tại kéo dài, TTKT ngày càng phụ thuộc vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, yếu tố mang tính đột phá để tạo ra một quỹ đạo tăng trưởng mới chưa rõ nét.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng và đồng bộ của hệ thống ngân hàng thì TDNH ngày càng phát huy thế mạnh trong việc luân chuyển vốn, thúc đẩy đầu tư đối với các hoạt động kinh tế. TTTD toàn hệ thống ngân hàng (sau đây gọi tắt là TTTD) ở Việt Nam giai đoạn 2004–2020 là bức tranh nhiều màu sắc, TTTD luôn đạt mức hai con số chỉ riêng năm 2012 tốc độ TTTD ở mức 8,9%. Theo báo cáo của NHNN (2020) trong giai đoạn 2001-2010, TTTD bình quân khoảng 30% nhưng tốc độ TTKT bình quân chỉ 6,82%. Như vậy, tỷ lệ giữa TTTD và TTKT bằng 4,1 lần trong giai đoạn này và thậm chí năm 2007 bằng khoảng 5,3 lần, tức là 5 điểm phần trăm tăng tín dụng mới đạt được 1 điểm phần trăm tăng GDP.
Trong giai đoạn 2016- 2019, tỷ lệ tín dụng/GDP (ở đây tỷ lệ này được hiểu là quy mô TDNH so với quy mô GDP) đã giảm còn dưới 3 lần, đặc biệt trong năm 2018, 2019, tỷ lệ này giảm xuống dưới 2 lần. Năm 2019, TTTD đạt 13,7% theo đó dư nợ tín dụng toàn ngành tính đến cuối năm 2019 xấp xỉ 8,2 triệu tỷ đồng, gấp 2,1 lần so với cách đây 5 năm, trong khi GDP tính theo giá hiện hành năm 2019 là 6,04 triệu tỷ đồng, chỉ tăng 1,2 lần so với năm 2015. Thực tế cho thấy, nền kinh tế ngày càng vay mượn nhiều hơn so với tổng giá trị sản phẩm được tạo ra. ĐVT: Triệu tỷ đồng 18,000 160% 146% 16,000 136% 140% 130%133% 14,000 127% 122% 117% 111% 120% 110% 12,000 96% 95% 97% 101% 95% 100% 10,000 75% 80% 70% 8,000 62% 60% 6,000 40% 4,000 2,000 20% - 0% 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 GDP Tín dụng Tín dụng/GDP (%) Nguồn: TCTK, NHNN (2020) Hình 1.
Quy mô TDNH, GDP và tỷ lệ tín dụng/GDP tại Việt Nam giai đoạn 2004–2020 Mau.van: TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat Mau.van: 4 Hệ thống tài chính Việt Nam có thể được xem là lớn đối với các nước có nền kinh tế phát triển có mức thu nhập trung bình thấp nếu xét theo quy mô tài sản, trong đó phần lớn giá trị tài sản thuộc khu vực ngân hàng (IMF, 2017). Tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP trên Hình 1.2 cho thấy, tại Việt Nam giai đoạn 2004-2020 tỷ lệ này đều ở mức cao (trên 60%) thậm chí tăng vượt mức trên 100% GDP giai đoạn 2014–2020. Tính đến cuối năm 2020, dư nợ TDNH xấp xỉ 9,2 triệu tỷ đồng, trong khi tổng GDP cả nước là 6,3 triệu tỷ đồng theo đó tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức 1,46 lần, cao hơn mức 1,3 lần được khuyến cáo đối với các nước đang phát triển và các quốc gia trong khối ASEAN. TDNH đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của các quốc gia và Việt Nam cũng không ngoại lệ, nhưng liệu rằng việc tăng cung tín dụng nhiều hơn vào nền kinh tế mà biểu hiện là diễn biến tỷ lệ tín dụng trên GDP luôn ở mức cao thì dòng vốn tín dụng có thực sự mang lại hiệu quả đối với sự phát triển của kinh tế tại Việt Nam như kỳ vọng.
Nguồn: NHNN (2020) Hình 1. Tỷ trọng dư nợ tín dụng ngân hàng theo nhóm ngành kinh tế Tỷ trọng dư nợ TDNH giai đoạn từ quý 2 năm 2012 tới quý 4 năm 2020 đối với từng nhóm ngành kinh tế trên Hình 1.3 thể hiện xu hướng dòng vốn tín dụng do ngân hàng cung cấp chảy nhiều nhất vào nhóm ngành công nghiệp và xây dựng dao động trong khoảng 35%-40%, tiếp theo sau đó là các hoạt động dịch vụ khác chiếm 25%-30% tổng dư nợ, nhóm ngành vận tải, Mau.van: TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat Mau.van: 5 thương mại, viễn thông với tỷ trọng từ 15% đến 20%, TDNH phục vụ cho các hoạt động nông, lâm nghiệp và thủy sản có tỷ trọng thấp nhất dao động từ 8% đến 10%. Cơ cấu TDNH giai đoạn 2012-2020 chuyển dịch theo hướng tập trung vốn vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư cơ sở hạ tầng nền kinh tế là chủ yếu, bên cạnh đó lượng vốn tín dụng phục vụ hoạt động thương mại, vận tải, viễn thông và các hoạt động dịch vụ khác có xu hướng tăng dần, đảm bảo tài trợ kịp thời, đáp ứng nhu cầu đa dạng về vốn giúp các chủ thể trong nền kinh tế mở rộng hoạt động kinh doanh. Cơ cấu tín dụng cho nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản ổn định, nhưng chuyển dần vào các hoạt động nông nghiệp xanh, có giá trị cao.
Tóm lại, dòng vốn tín dụng có xu hướng chuyển dịch phù hợp với cơ cấu chuyển dịch nền kinh tế, nói cách khác, cơ cấu TDNH tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên theo định hướng của Chính phủ trong từng giai đoạn phát triển nhằm thúc đẩy TTKT bền vững.