phần mở đầu và kết luận, luận án được cấu trúc thành 05 chương, gồm: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu Chƣơng 2. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về tác động của tăng trƣởng kinh tế theo ngành đến giảm nghèo Chƣơng 3. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4. Thực trạng tác động của tăng trƣởng kinh tế theo ngành đến giảm nghèo ở Viêt Nam Chƣơng 5.
Giải pháp gắn kết tăng trƣởng kinh tế theo ngành với giảm nghèo ở Việt Nam 7. Những đóng góp của luận án a. Những đóng góp về mặt lý luận Luận án đã xây dựng khung lý thuyết về tác động của tăng trưởng kinh tế theo ngành tới giảm nghèo. Khung lý thuyết đã chỉ rõ tăng trưởng kinh tế theo ngành có tác động tới giảm nghèo thông qua ba kênh chính gồm: tạo việc làm, tiếp cận nguồn lực và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Luận án đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tác động của tăng trưởng kinh tế theo ngành đến giảm nghèo, bao gồm mô hình tăng trưởng kinh tế, cấu trúc tăng 6 trưởng theo ngành, chính sách gắn kết tăng trưởng và giảm nghèo và nhận thức của người nghèo. Luận án nghiên cứu kinh nghiệm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với giảm nghèo của Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia và rút ra một số bài học tham khảo cho Việt Nam. Những đóng góp về mặt thực tiễn Tăng trưởng kinh tế theo ngành tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và góp phần giảm nghèo ở Việt Nam. Trong cơ cấu tăng trưởng theo ngành, tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ có tác động tích cực đến giảm nghèo, tuy nhiên tăng trưởng nông nghiệp lại khiến tỷ lệ nghèo tăng lên.
Tăng trưởng kinh tế theo ngành có tác động đến giảm nghèo qua tạo việc làm và gia tăng thu nhập. Tăng trưởng của ngành nông nghiệp và dịch vụ tạo việc làm góp phần giảm nghèo. Người nghèo thụ hưởng lợi ích từ tăng trưởng qua tiếp cận nguồn lực từ chính phủ. Tuy nhiên, hỗ trợ thu nhập cho người nghèo có tác động giảm nghèo lớn hơn so với hỗ trợ nguồn lực sản xuất.
Luận án cũng chỉ ra các nguyên nhân của những hạn chế trong gắn kết tăng trưởng và giảm nghèo ở Việt Nam: bất cập trong mô hình tăng trưởng kinh tế; cấu trúc tăng trưởng kinh tế theo ngành chưa hợp lý; chính sách giảm nghèo chưa đầy đủ, đồng bộ và việc thực hiện còn nhiều bất cập; nguồn lực của người nghèo còn rất hạn chế; nhận thức và nỗ lực của bản thân người nghèo về giảm nghèo bền vững còn thấp. Từ các kết quả nghiên cứu định tính và định lượng về tác động của tăng trưởng kinh tế theo ngành đến giảm nghèo giai đoạn 2010-2016, luận án đề xuất một số định hướng về giải pháp cơ bản cho Việt Nam như sau: (i) đổi mới mô hình tăng trưởng cần gắn kết với mục tiêu giảm nghèo; (ii) hoàn thiện chính sách gắn kết tăng trưởng với giảm nghèo và tăng cường hiệu quả nhóm chính sách giảm nghèo; (iii) nhóm chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành và phát triển các ngành kinh tế; (iv) nâng cao nhận thức và sự tham gia của người nghèo vào quá trình tăng trưởng và giảm nghèo. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu lý thuyết Mối quan hệ giữa nghèo đói và tăng trưởng kinh tế từ lâu đã được nghiên cứu và thừa nhận qua các nghiên cứu lý thuyết.
Lewis (1954) là người đầu tiên đưa ra mô hình hai khu vực dựa trên giả định rằng các nước đang phát triển tồn tại hai khu vực kinh tế bao gồm khu vực nông nghiệp truyền thống và khu vực công nghiệp hiện đại. Mô hình lý thuyết này đưa ra kết luận cho rằng tăng trưởng kinh tế chung của nền kinh tế sẽ phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tăng trưởng của khu vực công nghiệp, mặt khác, mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu nâng cao phúc lợi cho người nghèo nhằm làm giảm bất bình đẳng không thể thực hiện được đồng thời mà nền kinh tế luôn phải đánh đổi giữa hai mục tiêu này. Cụ thể, trong mô hình này, khu vực nông nghiệp bị coi là một khu vực trì trệ do có lao động dư thừa và người lao động bị trả lương rất thấp do năng suất lao động thấp. Lewis đồng thời cũng đưa ra quan điểm chỉ nên duy trì mức thu nhập thấp cho lao động nghèo để tạo động lực lao động liên tục cho họ.
Khu vực sản xuất công nghiệp được nhận định là khu vực có tiềm năng tăng trưởng cao hơn và cầu lao động gia tăng trong khu vực công nghiệp. Lewis khẳng định rằng vì mọi của cải xã hội đều được tạo ra từ khu vực công nghiệp, do vậy, không nên có chính sách đầu tư vào khu vực nông nghiệp vì khu vực này có năng suất lao động rất thấp. Lewis đồng thời cũng chứng minh rằng khi nào nông nghiệp vẫn còn lao động dư thừa thì khu vực nông nghiệp vẫn còn trong tình trạng trì trệ vì sử dụng nguồn lực lao động kém hiệu quả. Quá trình này sẽ được duy trì cho đến khi không còn lao động dư thừa (những người lao động này được nhận định là có năng suất lao động biên bằng không hoặc rất thấp) ở khu vực nông nghiệp.
Sau đó, quy luật sẽ có xu hướng thay đổi ngược chiều. Khu vực công nghiệp khi này sẽ phải tăng lương để thu hút lao động nông nghiệp, điều này sẽ làm tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người nghèo trong xã hội, đặc biệt là nhóm người nghèo di cư từ nông nghiệp sang công nghiệp và tìm được việc làm. Bên cạnh đó, giai đoạn này cần áp dụng chính sách đầu tư một phần phát triển khu vực nông nghiệp nhằm tạo ra thêm lao động dư thừa cung cấp cho khu vực công nghiệp. Cùng với sự gia tăng về thu nhập của người nghèo, lợi ích của nhóm người giàu trong xã hội bị giảm bớt tương đối so với giai đoạn trước đó.
Theo Lewis, mức sống của người nghèo và khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội sẽ phụ thuộc vào quá trình dịch chuyển lao động giữa hai khu vực nông nghiệp và công nghiệp. Lewis đã khẳng định vai trò quan trọng của khu vực công nghiệp trong 8 tăng trưởng kinh tế chung và trong quá trình làm gia tăng thu nhập cho nhóm người nghèo trong xã hội khi xảy ra hiện tượng di chuyển lao động từ khu vực này sang khu vực khác. Một nền kinh tế có mức thu nhập thấp thì cần phát triển khu vực công nghiệp và chấp nhận nghèo đói gia tăng ở khu vực nông nghiệp để đạt tốc độ tăng trưởng cao. Mô hình hai khu vực của Lewis trên thực tế đã bị giới hạn bởi hoàn cảnh lịch sử nên đã bỏ qua nhân tố khoa học công nghệ trong sản xuất.
Điều này khiến quá trình dịch chuyển lao động và quyết định đầu tư trong khu vực công nghiệp trở nên kém chính xác so với thực tiễn. Do vậy, quan điểm ưu tiên tăng trưởng công nghiệp và chấp nhận nghèo đói gia tăng cũng bị nhiều nhà nghiên cứu phê phán sau này. Ngược lại với lý thuyết của Lewis, nghiên cứu của Oshima (1993) đối với các nước đang phát triển khu vực Châu Á lại đưa đến một kết luận trái ngược. Oshima phê phán tính thực tiễn trong lý thuyết của Lewis khi áp dụng cho các nước “Châu Á gió mùa” (thuật ngữ này dùng để chỉ các quốc gia Châu Á có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng và có thể cho năng suất cao) vì lao động nông nghiệp theo ông chỉ dư thừa mang tính thời vụ chứ không luôn tồn tại trong tình trạng năng suất lao động thấp.
Quá trình di cư sang khu vực công nghiệp ở các nước phát triển cũng tương đối khác biệt so với các nước đang phát triển. Lao động nông nghiệp chuyển sang khu vực công nghiệp tìm việc làm sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với quá trình này ở các nước phát triển. Nguyên nhân chủ yếu chính là khoảng cách phát triển về công nghệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, cũng như tác phong lao động trong khu vực công nghiệp quá khác biệt khiến những người lao động nông nghiệp khó có thể tìm được công việc phù hợp với mình ở khu vực công nghiệp. Như vậy, việc phát triển công nghiệp trước như mô hình của Lewis hoàn toàn không phù hợp.
Ông chỉ ra rằng ở các nước đang phát triển thì khu vực nông nghiệp sẽ là khu vực cần phát triển trước tiên vì nông nghiệp được nhận định là khu vực có lợi thế so sánh so với công nghiệp. Oshima đã phân tích rằng mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp trong mô hình kinh tế chuyển đổi sẽ luôn theo xu hướng từ mô hình kinh tế nông nghiệp dịch chuyển sang công nghiệp. Mô hình của Oshima mô tả rằng sự phát triển khu vực nông nghiệp sẽ làm giảm bớt bất bình đẳng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghèo, đặc biệt là những người lao động ở các cơ sở sản xuất nông nghiệp. Theo lý thuyết này thì trăng trưởng nông nghiệp sẽ làm giảm bớt khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn do việc thực thi các chính sách cải cách ruộng đất từ sự trợ giúp của Chính phủ.
Thêm nữa, quá trình cải thiện thu nhập giữa các cơ sở sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ và lớn ở khu vực nông thôn cũng là dấu hiệu tốt đối với lao động nghèo. Những kết quả này sẽ giúp các hộ nghèo thoát khỏi nghèo đói và nâng cao chất lượng cuộc sống. 9 Quan điểm của Oshima cũng được ủng hộ bởi nghiên cứu lý thuyết của Mellor năm 1979. Mellor cho rằng do lao động chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ở các nước đang phát triển nên việc tăng trưởng khu vực nông nghiệp sẽ thúc đẩy tăng trưởng chung của nền kinh tế và giảm nghèo.
Một quan điểm khác cũng ủng hộ cho việc tăng trưởng nông nghiệp đó là quan điểm của Loayza và Raddatz (2006). Tác giả đã giải thích tại sao tình trạng nghèo đói lại thay đổi khi cấu trúc tăng trưởng ngành trong nền kinh tế thay đổi. Hai tác giả đã đưa ra mô hình kinh tế hai khu vực, trong đó việc tăng trưởng kinh tế theo ngành có thể ảnh hưởng tới tiền lương cho lao động và giảm nghèo. Trong nghiên cứu này, dân số được chia ra thành hai nhóm người giàu và người nghèo.
Vấn đề đầu tiên được phân tích trong nghiên cứu là tăng trưởng kinh tế kém hiệu quả sẽ là khó khăn lớn cho các nước đang phát triển trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo.