phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng gồm: Chƣơng 1. Cơ sở lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế gắn với giảm nghèo bền vững Giới thiệu, tóm lƣợc lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế, các quan niệm về nghèo đói và giảm nghèo bền vững Chƣơng 2. Thực trạng tăng trƣởng kinh tế gắn với giảm nghèo bền vững ở quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh Phân tích tình hình tăng trƣởng kinh tế gắn hoạt động giảm nghèo bền vững tại quận Tân Bình giai đoạn 2016-2020 Chƣơng 3. Mục tiêu, định hƣớng và kiến nghị giải pháp gắn tăng trƣởng kinh tế với giảm nghèo bền vững ở Quận Tân Bình 8 Đề xuất các mục tiêu, định hƣớng và các kiến nghị cụ thể đối với hoạt động giảm nghèo của quận Tân Bình trong giai đoạn tiếp theo.
9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ GẮN VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế 1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế Tăng trƣởng kinh tế đƣợc hiểu là sự gia tăng thu nhập đạt đƣợc trong một khoảng thời gian nhất định (thƣờng là một năm) của một quốc gia (hoặc địa phƣơng). Sự gia tăng này đƣợc biểu hiện ở quy mô và tốc độ.
TTKT có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trƣởng) hoặc số tƣơng đối (tỷ lệ tăng trƣởng). Quy mô tăng trƣởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trƣởng đƣợc sử dụng với ý nghĩa so sánh tƣơng đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dƣới dạng hiện vật hoặc giá trị. Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu và đƣợc tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu ngƣời (Ngô Thắng Lợi (2013), "Giáo trình Kinh tế Phát triển", Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội).
Quy mô, tốc độ của tăng trƣởng kinh tế thể hiện về mặt số lƣợng. Còn mặt chất lƣợng của TTKT là tính qui định vốn có của nó, là sự thống nhất hữu cơ làm cho hiện tƣợng TTKT khác với các hiện tƣợng khác. Chất lƣợng tăng trƣởng đƣợc quy định bởi các yếu tố cấu thành và phƣơng thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành nên TTKT. Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lƣợng TTKT.
Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới, chƣơng trình phát triển của Liên Hiệp Quốc và một số nhà kinh tế học nổi tiếng đƣợc giải thƣởng Nobel gần đây nhƣ G.Lucas, Amrtya Sen, J.Stiglitz, thì cùng với quá trình tăng trƣởng, chất lƣợng tăng trƣởng đƣợc biểu hiện tập trung ở các tiêu chuẩn chính sau đây: Thứ nhất, tốc độ TTKT ổn định trong dài hạn và tránh đƣợc những biến động từ bên ngoài. 10 Thứ hai, TTKT theo chiều sâu, đƣợc thể hiện ở sự đóng góp của các yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp TFP cao và không ngừng gia tăng. Thứ ba, tăng trƣởng phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Thứ tư, tăng trƣởng đi kèm với phát triển môi trƣờng bền vững.
Thứ năm, tăng trƣởng hỗ trợ cho thể chế dân chủ luôn đổi mới, đến lƣợt nó sẽ thúc đẩy tăng trƣởng ở tỷ lệ cao hơn. Thứ sáu, tăng trƣởng phải đạt đƣợc mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và giảm đƣợc đói nghèo. Nhƣ vậy, khi nghiên cứu quá trình tăng trƣởng, cần phải xem xét một cách đầy đủ hai mặt là số lƣợng và chất lƣợng của tăng trƣởng. TTKT với tốc độ và chất lƣợng cao luôn là mục tiêu của mọi quốc gia và của từng địa phƣơng nói riêng.
Các mô hình tăng trưởng kinh tế 1. Mô hình tăng trưởng kinh tế của Harrod - Domar Harrod - Domar vào năm 1957, hai ông đã đƣa ra mô hình tƣơng quan giữa tăng tiết kiệm và đầu tƣ nhƣ sau: Với S: Tiết kiệm s: Tỷ lệ tiết kiệm Y: Tổng năng lực sản xuất S = sY (1) Khi đầu tƣ bằng lƣợng thay đổi về vốn I = ∆K (2) I: Đầu tƣ ∆K: Lƣợng thay đổi về vốn ∆K = k ∆Y (3) 11 ∆Y: Lƣợng thay đổi về lực sản xuất k: Tỷ lệ vốn đầu tƣ Khi đó tiết kiệm bằng đầu tƣ: S=I (4) Do đó: S = sY = k∆Y = ∆K = I (5) sY = k∆Y (6) Nhƣ vậy, phƣơng trình tƣơng quan giữa tăng tiết kiệm và đầu tƣ đƣợc thể hiện nhƣ sau: ∆Y s = (7) Y k Điều này thể hiện tỷ lệ tiết kiệm trên tỷ lệ đầu tƣ thấp cũng chính là lƣợng gia tăng về lực sản xuất thấp và ngƣợc lại. Mô hình tăng trưởng kinh tế nội sinh của Robert E. Lucas Lý thuyết tăng trƣởng kinh tế nội sinh (hay lý thuyết tăng trƣởng mới) đƣợc phát triển nhắm khắc phục hạn chế của các lý thuyết trƣớc đó của Harrod – Domar, Solow.
Tiêu biểu là nhà lý luận kinh tế hiện đại Robert E. Theo lý thuyết này, có 02 điểm mới làm cơ sở cho đánh giá vai trò các yêu tố của tăng trƣởng, đó là: (i) phân chia vốn làm 02 loại là vốn hữu hình và vốn nhân lực. Vốn hữu hình bao gồm vốn sản xuất (K) là tài sản hữu hình do các doanh nghiệp hoặc đầu tƣ của Chính phủ bao gồm máy móc, nhà xƣởng, cơ sở hạ tầng phục vụ quá trình sản xuất, các công trình nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, đầu tƣ cho hệ thống giáo dục đào tạo, v.v…; Lao động (L) cũng đƣợc tính vào vốn hữu hình với các yếu tố nhƣ quy mô, số lƣợng, cơ cấu lực lƣợng lao động. 12 Vốn nhân lực (vốn con ngƣời) dùng để chỉ sự khéo léo, kỹ năng, khả năng, kiến thức của con ngƣời vận dụng vào quá trình tham gia sản xuất.
Vốn nhân lực đƣợc hình thành thông qua quá trình tích lũy của ngƣời lao động từ giáo dục – đào tạo kiến thức cơ bản, đào tạo nghề, kinh nghiệm trực tiếp tham gia sản xuất. (ii) khẳng định vai trò của Chính phủ trong tăng trƣởng dài hạn. Theo đó việc mở rộng kinh tế thị trƣờng cần phải có sự can thiệp của Chính phủ để hạn chế những khuyết tật của nền KTTT, hoạch định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, thiết lập các chính sách tác động đến phân phối thu nhập, v. Hàm sản xuất của mô hình tăng trƣởng kinh tế nội sinh Y = F(K,L,E) (1) Với K: vốn L: lao động E: vốn nhân lực Bằng cách đƣa ra các giả thiết liên quan để chứng minh vai trò của từng yếu tố trong hàm sản xuất tác động đến tăng trƣởng kinh tế.
Có thể tổng hợp các phƣơng trình liên quan đến tăng trƣởng theo mô hình của Lucas gồm: Y = Kα[(1-ս)EL]1-α (2) ∆K = g(ս)E (3) ∆K = sY - ϭ∆Y (4) (s): tỷ lệ thu nhập cho tiết kiệm và đầu tƣ, quyết định lƣợng vốn vật chất. (ս): tỷ lệ lao động trong các trƣờng đại học quyết định tốc độ tăng trƣởng của vốn kiến thức nhân lực. Các vấn đề lý luận cơ bản về nghèo và giảm nghèo 1. Khái niệm nghèo 13 Theo Ngân hàng Thế giới (WB) năm 1990*, nghèo là tình trạng “không có khả năng có mức sống tối thiểu”.
Chúng bao gồm tình trạng thiếu thốn lƣơng thực, thực phẩm và các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu nhƣ giáo dục, y tế, dinh dƣỡng. Nghèo còn là tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thƣơng “Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng. Nghèo không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường. Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế.
Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Nhóm nghiên cứu của tổ chức liên hiệp quốc (UNDP)*, Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), Quỹ Nhi đồng của Liên hợp quốc (UNICEF) trong công trình "Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam-1995" đã đƣa ra định nghĩa: "Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế." Ông Robert McNamara (1997)*, (cựu giám đốc Ngân hàng Thế giới), đã đƣa ra khái niệm nghèo tuyệt đối nhƣ sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối. là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta.
Khái niệm nghèo tương đối Theo chƣơng trình tập huấn của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển, Thể chế và Toàn cầu hóa (DIAL) của Pháp, năm 2009, tại Tam Đảo với chủ đề “Nghèo đói và chất lƣợng sống của dân cƣ: phân tích trên số liệu điều tra thống kê” các tác giả Jean-Pierre Cling, Javier Herrera, Mireille Razafindrakoto, François Roubaud định nghĩa “Nghèo tương đối trên cơ sở điều kiện sống là khi sự thiếu thốn các phương tiện vật chất, văn hóa và xã hội buộc con người phải sinh hoạt dưới mức thu nhập bình quân của xã hội, vùng họ đang sống.” 14 Theo UNDP năm 1997, “Nghèo là việc thiếu thốn thƣờng xuyên các điều kiện vật chất để thoản mãn tối thiểu có thể các nhu cầu thiết yếu, nhất là về nhu cầu lƣơng thực thực phẩm” Nhà kinh tế học ngƣời Mỹ Galbraith cũng có định nghĩa về nghèo: “Con ngƣời bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ tồn tại, rơi xuống rõ rệt dƣới mức thu nhập của cộng đồng. Khi đó, họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi nhƣ là cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức. Theo Bộ phát triển Quốc tế Anh năm 2002, “Đói nghèo là một khái niệm, chỉ sự túng thiếu có nhiều tầm cỡ, bao gồm thiếu thu nhập, và các phƣơng tiện vật chất khác; thiếu cơ hội hƣởng dụng các dịch vụ xã hội cơ bản, nhƣ giáo dục, y tế và nƣớc an toàn, thiếu an ninh cá nhân, thiếu đƣợc giao quyền để tham gia vào quá trình chính trị và các quyết định ảnh hƣởng đến cuộc sống; và cực kỳ dễ bị tổn thƣơng trƣớc các rối loạn bên ngoài” (DFID. Một hƣớng tiếp cận khác là xét cái nghèo tƣơng đối trên cơ sở cơ hội phát triển năng lực của con ngƣời (Amartya Sen.