đặt vấn đề tăng trƣởng kinh tế đi liền với tính chất bền vững của quá trình tăng trƣởng và phát triển thể hiện thông qua sự tăng liên tục, có hiệu quả chỉ tiêu quy mô, và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu ngƣời; bên cạnh đó, yêu cầu tăng trƣởng kinh tế còn gắn với việc bảo đảm chất lƣợng tăng trƣởng ngày càng cao. Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập Cùng với sản xuất và tiêu dùng, phân phối là một trong những phạm trù kinh tế chung nhất của xã hội loài ngƣời. Nói một cách khái quát, Phân phối có thể đƣợc hiểu là hoạt động chia các yếu tố sản xuất bao gồm các nguồn lực 13 đầu vào trong quá trình sản xuất và các sản phẩm đầu ra của quá trình tái sản xuất xã hội. Phân phối thu nhập là một bộ phận của phân phối, gắn liền với sự phân phối sản phẩm đầu ra đƣợc biểu hiện dƣới các hình thái thu nhập, là cách thức thu nhập quốc dân của một nƣớc chia cho các công dân nƣớc đó.
Thực tiễn cho thấy phân phối thu nhập đóng vai trò quan trọng trong mọi xã hội cũng nhƣ các hình thái kinh tế vì nó hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng và quá trình tái sản xuất xã hội, đảm bảo cho sự tồn tại của loài ngƣời. Xét theo chiều kích lịch sử, mặc dù cụm từ “phân phối” (distribution) lần đầu tiên đƣợc đƣa vào sử dụng trong lý thuyết kinh tế bởi Francois Quesnay và một số nhà kinh tế trọng nông Pháp từ những năm 1750 nhƣng những vấn đề lý luận về phân phối thu nhập chỉ thực sự xuất hiện sau công trình Wealth of Nations (1776) của Adam Smith và đƣợc hệ thống thành một lý thuyết phân phối thu nhập với David Ricardo (1817). Từ đó đến nay, lý thuyết phân phối thu nhập đã không ngừng phát triển với sự đóng góp, bổ sung, hoàn thiện của các học giả các nhà kinh tế trên thế giới. Nhìn chung, lý thuyết phân phối thu nhập bao gồm: giải thích bản chất của phân phối thu nhập, các yếu tố tác động đến quá trình phân phối thu nhập, phân tích các vấn đề nảy sinh từ kết quả của phân phối thu nhập nhƣ bất bình đẳng kinh tế, nghèo đói, sự can thiệp của nhà nƣớc … Hoạt động phân phối thu nhập trong thực tiễn bên cạnh thực hiện theo nguyên tắc quyền sở hữu trong phân phối thu nhập, đòi hỏi phải xác định đƣợc cách thức phân phối cho phù hợp.
Trên thực tế, căn cứ vào tiêu chí lựa chọn phân tích, có thể phân loại hoạt động phân chia những sản phẩm đầu ra dƣới hình thái thu nhập này bao gồm phân phối theo đối tượng (cá nhân/ hộ gia đình) và phân phối theo chức năng (có nghĩa là thu nhập quốc dân đƣợc chia cho các yếu tố sản xuất nhƣ thế nào). Trong đó, phân phối thu nhập theo cá nhân hay theo quy mô đƣợc các 14 nhà kinh tế sử dụng rộng rãi nhất. Cách tiếp cận này xem xét thu nhập đƣợc phân phối cho các cá nhân hay các hộ gia đình nhƣ thế nào. Mối quan tâm ở đây là mỗi cá nhân nhận đƣợc bao nhiêu mà không quan tâm đến nguồn hình thành thu nhập, bất kể đó là thu nhập từ tiền công, tiền lƣơng, tiền lãi, tiền cho thuê, lợi nhuận, quà biếu, thừa kế hay thu nhập nhận đƣợc từ các chƣơng trình phúc lợi.
Các nguồn gốc về ngành nghề (công nghiệp, nông nghiệp, thƣơng mại, dịch vụ,.) cũng không đƣợc xét đến. Phân phối thu nhập công bằng có nghĩa mỗi cá nhân đƣợc đánh giá đúng mức với công sức mà họ đã bỏ ra, nhằm nâng cao mức sống của họ, loại bỏ tình trạng không làm mà vẫn đƣợc hƣởng lợi, lao động vất vả mà cuộc sống vẫn khó khăn, thiếu thốn. Phân phối thu nhập công bằng đối lập với chủ nghĩa bình quân trong phân phối: mọi ngƣời có thu nhập tƣơng tự nhƣ nhau bất kể năng lực và nỗ lực của họ rất khác nhau. Chủ nghĩa bình quân trong phân phối sẽ triệt tiêu động lực học tập, làm việc và sáng tạo của các cá nhân, mà hệ quả tất yếu là một nền kinh tế trì trệ.
Bất bình đẳng thu nhập đề cập đến hiện tƣợng thu nhập đƣợc phân phối không đều giữa các cá nhân hoặc các hộ gia đình trong nền kinh tế. Để xem xét mức độ bất bình đẳng thu nhập ngƣời ta thƣờng dựa vào tỷ trọng thu nhập đƣợc nhận bởi bao nhiêu phần trăm dân số. Bên cạnh đó, phân phối thu nhập theo chức năng cũng đƣợc sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu kinh tế. Thay vì xem xét các cá nhân nhƣ là những thực thể riêng rẽ, phân phối thu nhập theo chức năng xem xét thu nhập đƣợc phân phối nhƣ thế nào cho các yếu tố sản xuất, đề cập đến tỷ trọng trong tổng thu nhập quốc dân mà mỗi nhân tố sản xuất nhận đƣợc là bao nhiêu mà không quan tâm đến cá nhân hay nhóm ngƣời cụ thể nào nhận thu nhập.
ĐO LƢỜNG VỀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP 1. Đo lƣờng tăng trƣởng kinh tế Bản chất của tăng trƣởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi về lƣợng của nền kinh tế. Do đó nhìn chung, tăng trƣởng kinh tế đƣợc tính bằng phần trăm thay đổi của mức sản lƣợng quốc dân. Đo lƣờng tốc độ tăng trƣởng kinh tế ta sử dụng công thức sau: Yt - Yt-1 Gt = Yt-1 Trong đó: Gt là tốc độ tăng trƣởng năm t Yt là GDP (giá trị sản lƣợng) thực tế năm t tính theo giá năm cơ sở Yt-1 là GDP (giá trị sản lƣợng) thực tế năm t-1 tính theo giá năm cơ sở Mặc dù vậy, không phải quốc gia nào cũng khuyến khích tăng trƣởng bằng mọi giá.
Thực tế cho thấy nhiều quốc gia đã phải trả giá cho sự tăng trƣởng nhanh bằng những hy sinh mà suy cho cùng thì chúng ảnh hƣởng đến hàng loạt các mục tiêu: Phúc lợi kinh tế chung của xã hội, sự ô nhiễm môi trƣờng, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm cho thế hệ mai sau phải trả giá đắt cho sự thụ hƣởng của thế hệ hiện tại. Hơn nữa, một số nhà kinh tế còn bi quan cho rằng chúng ta đứng trƣớc nguồn tài nguyên có hạn, tăng trƣởng nhanh cũng có nghĩa là đang tiêu tốn nguồn tài nguyên đó, cho đến lúc không còn gì để khai thác đƣợc nữa. Với những tác động có hại, chúng ta cũng cần nhận thức lại rằng: tăng trƣởng kinh tế đòi hỏi phải trả cho nó một cái giá nào đó. Tất nhiên, nói nhƣ vậy không có nghĩa là chúng ta hạn chế tăng trƣởng mà vấn đề là phải tìm cách để cho cái giá phải trả càng thấp càng tốt.
Thƣớc đo bất bình đẳng thu nhập a. ệ số Gini Đƣờng cong Loren biểu thị mối quan hệ giữa các nhóm dân số và tỷ lệ 16 thu nhập tƣơng ứng của họ. Trục hoành biểu thị phần trăm cộng dồn của dân số và đƣợc sắp xếp theo thứ tự thu nhập tăng dần. Trục tung là tỷ lệ trong tổng thu nhập mà mỗi phần trăm trong số dân nhận đƣợc.
Đƣờng chéo đƣợc vẽ từ gốc tọa độ biểu thị tỷ lệ phần trăm thu nhập nhận đƣợc đúng bằng tỷ lệ phần trăm của số ngƣời có thu nhập. Nói cách khác, đƣờng chéo đại diện cho sự “công bằng hoàn hảo” của phân phối thu nhập theo quy mô: mọi ngƣời có mức thu nhập giống nhau. Còn đƣờng Lorenz biểu thị mối quan hệ định lƣợng thực tế giữa tỷ lệ phần trăm của số ngƣời có thu nhập và tỷ lệ phần trăm thu nhập mà họ nhận đƣợc. Nhƣ vậy, đƣờng cong Lorenz mô phỏng một cách dễ hiểu tƣơng quan giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm thu nhập thấp nhất.
Đƣờng Lorenz càng xa đƣờng chéo thì thu nhập đƣợc phân phối càng bất bình đẳng. Đƣờng Lorenz là một công cụ tiện lợi, giúp xem xét mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập thông qua quan sát hình dạng của đƣờng cong. Tuy nhiên, công cụ mang tính trực quan này còn quá đơn giản, chƣa lƣợng hóa đƣợc mức độ bất bình đẳng và do đó khó có thể đƣa ra các kết luận chính xác trong những trƣờng hợp phức tạp. % Thu nhập cộng dồn 100% Đƣờng cong Loren A B 100(%) Dân số cộng dồn (%) Hình 1.
Đường Lorenz và hệ số Gini 17 Hệ số Gini, mang tên nhà thống kê học ngƣời Italia (C. Gini), đƣợc tính trên cơ sở đƣờng Lorenz. Đây là một thƣớc đo tổng hợp về sự bất bình đẳng. Nó đƣợc tính bằng tỷ số của phần diện tích nằm giữa đƣờng chéo và đƣờng Lorenz so với tổng diện tích của nửa hình vuông chứa đƣờng cong đó.
Trong Hình 1 đó là tỷ lệ giữa phần diện tích A so với tổng diện tích A+B. GINI(G) = Diện tích (A)/ Diện tích (A+B) Hệ số Gini có thể dao động trong phạm vi từ 0 đến 1. Hệ số Gini = 0 khi diện tích A = 0, có nghĩa đƣờng Lorenz và đƣờng chéo trùng nhau, chúng ta có bình đẳng tuyệt đối: mọi ngƣời có mức thu nhập giống nhau. Ngƣợc lại, hệ số Gini = 1 khi diện tích B = 0, có nghĩa đƣờng Lorenz nằm xa đƣờng chéo nhất, chúng ta có bất bình đẳng tuyệt đối: một số ít ngƣời nhận đƣợc tất cả, còn những ngƣời khác không nhận đƣợc gì).
Căn cứ vào hệ số Gini, ngƣời ta chia các quốc gia thành 3 nhóm bất bình đẳng thu nhập. Các quốc gia có mức độ bất bình đẳng thu nhập thấp khi Gini < 0,4; bất bình đẳng thu nhập trung bình khi 0,4 ≤ Gini ≤ 0,5; và bất bình đẳng thu nhập cao khi Gini > 0,5. Hệ số Gini khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của đƣờng Lorenz là nó lƣợng hóa đƣợc mức độ bất bình đẳng thu nhập và do đó dễ dàng so sánh mức độ bất bình đẳng thu nhập theo thời gian cũng nhƣ giữa các khu vực, vùng và quốc gia. Tuy nhiên, thƣớc đo này cũng có hạn chế bởi vì Gini có thể giống nhau khi diện tích A nhƣ nhau nhƣng sự phân bố các nhóm dân cƣ có thu nhập khác nhau (đƣờng Lorenz có hình dáng khác nhau).
Một số thước đo khác Ngoài hai thƣớc đo là hệ số Gini và đƣờng cong Lorenz còn có một số thƣớc đo khác nhƣ chỉ số Theil, tỷ số Q5/Q1, tiêu chuẩn 40,. Phƣơng pháp chỉ số Theil là số thống kê đo lƣờng sự bất bình đẳng về kinh tế do nhà thống kê toán Henri Theil xây dựng. Công thức tính nhƣ sau: 18 Trong đó xi là thu nhập của ngƣời thứ i, x là thu nhập trung bình, N là số ngƣời.