Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 8 Trong chương này, nhóm nghiên cứu chủ yếu trình bày những nghiên cứu có liên quan được tổng hợp, thu thập về rào cản xanh và khái niệm tập hợp lớn hơn của nó biện pháp kỹ thuật. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng tổng hợp các nghiên cứu về tác động của rào cản xanh chung cũng như các nghiên cứu có liên quan về tác động của các rào cản này đối với nhóm hàng thủy sản. Ngoài ra, khoảng trống nghiên cứu cũng được đề cập đến trong chương này. Chương 2: Cơ sở lý luận về rào cản xanh và tác động của rào cản xanh đối với xuất khẩu thủy sản Chương này đề cập đến một số khái niệm liên quan đến thủy sản và rào cản xanh - hai đối tượng chính mà nghiên cứu hướng đến; một số khái quát chung liên quan đến lý thuyết về mô hình trọng lực mà nhóm nghiên cứu lựa chọn.
Từ đó, thấy được tác động của rào cản xanh đối với xuất khẩu thủy sản ở cả hai chiều. Chương 3: Thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU và nhận diện rào cản xanh của EU đối với hàng thủy sản của Việt Nam Chương 3 bao gồm các nội dung như việc đưa ra thực trạng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nói chung và dòng thủy sản xuất khẩu của nước ta sang thị trường EU nói riêng. Song song với đó là đưa ra những đánh giá sơ bộ về thực trạng các rào cản xanh của EU đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam. Chương 4: Phân tích và đánh giá tác động rào cản xanh của EU đối với xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam Chương này trình bày về lý thuyết của mô hình được lựa chọn nghiên cứu, các phương pháp ước lượng được sử dụng trong nghiên cứu.
Từ đó, nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích dữ liệu, đồng thời kết hợp với những kết quả trong thực tiễn để đưa ra đánh giá về kết quả phân tích dữ liệu, đưa ra kết quả nghiên cứu. Chương 5: Đề xuất giải pháp và khuyến nghị chính sách vượt qua các rào cản xanh nhằm thúc đẩy xuất khẩu thủy sản vào thị trường Dựa trên những đánh giá và kết luận về tác động của rào cản xanh đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU tại các chương trước, chương 5 đưa ra những kiến nghị và giải pháp để Nhà nước, các hiệp hội và nhà xuất khẩu có liên quan thích ứng với ảnh hưởng của rào cản xanh, có những chiến lược phù hợp để thích nghi và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản tại thị trường EU, đem lại sự tăng trưởng trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu liên quan đến các rào cản xanh Rào cản xanh là một dạng của rào cản phi thuế quan trong thương mại nên trong phần này nhóm nghiên cứu cũng đồng thời tổng hợp chung các nghiên cứu liên quan các biện pháp phi thuế quan.
Beghin (2006) khẳng định NTMs là các biện pháp can thiệp bằng chính sách khác thuế quan và góp một phần quan trọng làm giảm mức thuế quan trên toàn thế giới và giáo sư David Hanson (Đại học Duquesne University) cũng đã xuất bản cuốn sách về thương mại tự do và các rào cản phi thuế quan với tiêu đề “The barriers to free trade: The non-tariff barriers in the European Union, Japan, the United States” vào năm 2010. Kinzius & cộng sự (2019) chỉ ra NTM gây nên sự sụt giảm giá trị nhập khẩu hàng hóa lên tới 12% và con số này nhỏ hơn đối với các nước xuất khẩu có hiệp định thương mại tự do với nước nhập khẩu. Devadason (2020) chỉ ra kịch bản đang nổi lên và gây tác động xấu tới thương mại toàn cầu, “chủ nghĩa bảo hộ mới” đề cập tới việc sử dụng các NTM (tiêu biểu là SPS và TBT) với mục tiêu kép là hướng tới các chính sách phi mậu dịch hợp pháp song lại tiềm ẩn chủ nghĩa bảo hộ ít hợp pháp hơn. Chính vì vậy, các biện pháp phi thuế quan nhìn chung không được áp đặt với mục tiêu chính sách thương mại trực tiếp mà để sửa chữa những thất bại của thị trường.
Một nghiên cứu liên quan trực tiếp đến rào cản xanh đến từ tổ chức APEC Study Center (Australia) (2003) đã nhận được sự quan tâm lớn của công ty Pi C&E sau đó họ biên soạn và phát hành cuốn sách: Sổ tay “rào cản xanh” trong WTO (năm 2007) dưới sự tài trợ của Công ty Ford Việt Nam. Wei (2019) khi nghiên cứu về rào cản xanh lại cho rằng việc giải thích nó vẫn còn gây khá nhiều tranh cãi trong giới học thuật bởi nếu một quốc gia thiết lập các rào cản thương mại xanh để bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, sức khỏe con người và đời sống của động thực vật, tuân thủ các quy định của WTO thì rào cản xanh khi đó được gọi là rào cản thân thiện với môi trường. Ngược lại, các rào cản xanh này lấy lý do là nhân danh bảo vệ môi trường nhưng chứa đựng ý định bảo hộ thương mại thì được xem là các rào cản xanh độc hại. Theo Wei Liu và Xiaohong Chen (2011) ngoài phân tích ý nghĩa cơ bản của các rào cản xanh an toàn thì họ cũng đi vào nghiên cứu và phân tích sâu hơn sự khác biệt giữa các rào cản xanh với bảo hộ thương mại nói chung.
Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng cho rằng mức độ rào cản xanh an toàn của một quốc gia hoặc khu vực chủ yếu được quyết định bởi năng suất, trình độ phát triển kinh tế, trình độ phát triển khoa học và công nghệ của quốc gia đó. Rào cản xanh ở các quốc gia hoặc khu vực khác nhau có thể có sự khác biệt, khi một quốc gia hoặc khu vực nâng cao trình độ phát triển năng suất, các rào cản xanh của nước đó cũng cần được cải thiện dần dần. Trong nghiên cứu của mình, Gekun Wei (2017) đã 10 khẳng định rào cản xanh được thể hiện trong các điều luật, công ước về môi trường, các quy định, tiêu chuẩn, biển báo, và các biện pháp hạn chế tiếp cận hàng hóa. Ngược lại, một số tác giả khác, đặc biệt là những người đến từ các nước đang phát triển, có cái nhìn khá tiêu cực về rào cản xanh.
Theo Wang (2007), các nước phát triển đã nhân danh việc bảo vệ các các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái và sức khỏe con người, tạo nên hàng loạt các hệ thống và tiêu chuẩn bảo vệ môi trường vô cùng ngặt nghèo và phức tạp để ngăn cản các sản phẩm và dịch vụ từ các nước và vùng lãnh thổ khác, hạn chế nhập khẩu để đạt được mục tiêu bảo vệ thị trường nội địa, đó là một loại rào cản phi thuế quan mới. Các nghiên cứu liên quan đến tác động của các rào cản xanh Tác động của NTM đối với thương mại là không rõ ràng, vì nó có thể tạo thuận lợi cho thương mại khi có các ngoại tác tích cực hoặc cản cản trở thương mại khi được sử dụng như một biện pháp bảo hộ (Akintola, Boughanmi, Antimiani, Zaibet, & Kotagama, 2021). Các biện pháp phi thuế quan có thể thúc đẩy thương mại nếu chúng có thể giảm thiểu bất đối xứng thông tin và ngoại tác, giảm thiểu rủi ro trong tiêu dùng (Bratt, 2017; Ghodsi, Gruebler, & Stehrer, 2016; Grübler et al, 2016; Ronen & Economy, 2017). Đồng quan điểm, Disdier & Maretter (2010) cũng mô tả tác động của NTM đến giá cả và lượng nhập khẩu đồng thời là tác động thúc đẩy cầu và tác động cản trở thương mại hay theo Brandi & cộng sự (2020) đưa ra một tập dữ liệu chi tiết mới về một loạt các điều khoản môi trường trong 680 PTA, kết hợp với một nhóm các dòng thương mại song phương trên toàn thế giới từ năm 1984 đến năm 2016.
Kết quả cho thấy rằng các điều khoản về môi trường có thể giúp giảm xuất khẩu bẩn và tăng xuất khẩu xanh từ các nước đang phát triển quốc gia. Hiệu ứng này đặc biệt rõ rệt ở các nước đang phát triển với các quy định nghiêm ngặt về môi trường. Nó cũng cho thấy rằng việc thiết kế các hiệp định thương mại rất quan trọng. Các điều khoản về môi trường có thể được sử dụng như các công cụ chính sách mục tiêu để thúc đẩy chuyển đổi xanh và tận dụng sự hiệp đồng giữa các tác động kinh tế và môi trường của việc đưa các điều khoản về môi trường vào các hiệp định thương mại.
Trên phương diện trực tiếp nghiên cứu về rào cản xanh trong thương mại, Khoi & Thuy (2014) cho rằng, các rào cản xanh có thể tạo ra cả tác động tích cực và tiêu cực đối với thương mại quốc tế. Tuy nhiên, số lượng các rào cản này không ngừng tăng lên mà không có bất kỳ hệ thống giám sát nào. Dựa trên việc phân tích tác động của các rào cản thương mại xanh đối với mối quan hệ thương mại của Việt Nam và Liên minh Châu Âu, nghiên cứu này cũng đưa ra một nhận định quan trọng: yêu cầu nâng cấp công nghệ để đáp ứng chính xác các quy định kỹ thuật và chi phí đánh giá sự phù hợp thực sự làm tăng chi phí sản xuất của các công ty vừa và nhỏ trong ngắn hạn. Tuy nhiên, những điều chỉnh thích hợp đối với những yêu cầu này sẽ mang lại một số lợi ích lâu dài.
Bởi nếu 11 chi phí cao tăng thêm giá trị cho sản phẩm, áp dụng công nghệ hiện đại giúp nâng cao chất lượng sản phẩm để đạt được ISO 14000 và chứng chỉ xanh khác có thể thu hút nhiều người tiêu dùng có ý thức bảo vệ môi trường cao hơn từ đó các nhà sản xuất sẽ có quyền tăng giá và nhận nhiều lợi ích hơn. Xét về mặt tích cực, đối với một số sản phẩm, các yêu cầu về ghi nhãn, cung cấp thông tin bổ sung cho người tiêu dùng, sẽ có khả năng định hình mô hình tiêu dùng và tăng lòng tin của khách hàng, điều này có thể thúc đẩy thương mại. Các biện pháp tiêu chuẩn như SPS và TBT có thể mang lại tiềm năng nâng cao chất lượng, từ đó làm tăng nhu cầu nhập khẩu và thúc đẩy thương mại (Beghin, Marette, & Van Tongeren, 2012; Dolabella, 2020; Ronen & Economy, 2017; Xiong & Beghin, 2012). Sự tồn tại của các biện pháp kỹ thuật có thể tăng cường lưu lượng hàng hóa bằng cách cung cấp sự đảm bảo cho những người mua hàng nước ngoài tiềm năng.