Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu trước đây Phần này trình bày về các nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Cụ thể, tác giả trình bày các nghiên cứu liên quan đến việc đo lường quản trị lợi nhuận và các nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư. Từ đó, xác định khe hổng nghiên cứu cho luận văn.
Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày khái niệm và các lý thuyết nền tảng có liên quan đến quyết định của nhà đầu tư và quản trị lợi nhuận. Trên cơ sở đó và tổng quan các nghiên cứu trước đây, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày việc xây dựng mô hình định lượng để xem xét mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và quyết định của nhà đầu tư, cũng như các phương pháp đo lường và phân tích hồi quy tương ứng. Việc lựa chọn các biến độc lập khác để đưa vào mô hình và ý nghĩa kinh tế đằng sau sự lựa chọn đó cũng sẽ được trình bày cụ thể trong chương 3 này.
Kết quả nghiên cứu và bàn luận Tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thu được về quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu cũng như tổng quan quyết định của nhà đầu tư trong khoảng thời gian quan sát 2013-2017. Đồng thời, chương này sẽ tổng hợp và trình bày các kết quả của mô hình định lượng và bàn luận về các kết quả đó. Kết luận và gợi ý đề xuất Chương cuối cùng sẽ tóm lược các kết luận về vấn đề nghiên cứu. Đồng thời, chương này cũng đề xuất một số gợi ý để các doanh nghiệp niêm yết có thể xem xét khi muốn thu hút nhà đầu tư, cũng như những yếu tố mà nhà đầu tư nên cân nhắc khi quyết định mua bán cổ phiếu của doanh nghiệp, và một số đề xuất cho công ty kiểm toán.
Mặt khác, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu này và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Nội dung chính của chương này, người viết sẽ trình bày những nghiên cứu có liên quan trên thế giới và Việt Nam về quản trị lợi nhuận, quyết định của nhà đầu tư, và sự ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư, từ đó tìm ra khe hổng nghiên cứu. Tổng quan các nghiên cứu trước đây về đo lường quản trị lợi nhuận Lợi nhuận của công ty gồm hai phần: lợi nhuận thực và lợi nhuận kế toán dồn tích (Dechow và Dichev, 2002). Lợi nhuận thực liên quan đến dòng tiền thực sự thu được trong kỳ kế toán, trong khi lợi nhuận kế toán dồn tích phản ánh dòng tiền dự định thu được trong tương lai.
Cụ thể hơn, lợi nhuận kế toán dồn tích ghi nhận doanh thu và chi phí tương ứng phát sinh trong kỳ kế toán do công ty đã thực hiện các nghiệp vụ kinh tế, mà không căn cứ vào việc thực tế thu hoặc chi tiền. Như vậy, việc quản trị lợi nhuận có thể được thực hiện thông qua việc quản trị lợi nhuận thực và quản trị lợi nhuận kế toán dồn tích. Quản trị lợi nhuận thực Việc quản trị lợi nhuận thực liên quan đến dòng tiền thu được trong kỳ kế toán và có thể được thực hiện thông qua các giao dịch thực tế phát sinh trong kỳ. Các giao dịch này có thể liên quan đến việc sản xuất vượt công suất để giảm giá vốn hàng bán, cắt giảm chi phí quảng cáo, chi phí nghiên cứu quá mức để tăng lợi nhuận trong kỳ, lựa chọn thời điểm thanh lý tài sản cố định để ghi nhận lợi nhuận khác, hay tăng mạnh chiết khấu thương mại để thúc đẩy tăng doanh thu (Gunny, 2010).
Roychowdhury (2006) và Thomas và Zhang (2002) phát hiện bằng chứng rằng nhà quản lý cố tình sản xuất vượt công suất để giảm giá vốn hàng bán nhằm tránh báo cáo lợi nhuận âm. Dechow và Sloan (1991) tìm ra rằng các công ty có chi phí nghiên cứu cao (như các công ty ngành dược) thường cắt giảm chi phí nghiên cứu ngay trước khi tổng giám đốc điều hành nghỉ hưu. Bartov (1993) chỉ ra rằng 9 công ty lựa chọn thời điểm thanh lý tài sản cố định để làm mượt lợi nhuận qua các kỳ kế toán và tránh tăng trưởng lợi nhuận âm. Tuy vậy, rất khó để biết được rằng liệu một giao dịch nào đó có phải là bằng chứng của hành vi quản trị lợi nhuận hay không.
Xét cho cùng, các giao dịch với mục đích quản trị lợi nhuận thực cũng không vi phạm các quy định của chuẩn mực kế toán, nó chỉ gây thiệt hại về dài hạn cho công ty và cho lợi ích của cổ đông. Ví dụ như, việc sản xuất vượt công suất giúp hạ thấp chi phí cố định trên mỗi đơn vị sản phẩm, từ đó giảm giá vốn hàng bán trong kỳ. Điều này không vi phạm các chuẩn mực kế toán nhưng sẽ gây giảm chất lượng tài sản cố định, từ đó gây phát sinh các chi phí có liên quan trong tương lai và gây áp lực lên hàng tồn kho vào kỳ kế toán tiếp theo. Hơn nữa, dù cho các giao dịch bằng tiền này có mang lại lợi ích về mặt ghi nhận lợi nhuận thì đó cũng không thể xem là bằng chứng của hành vi quản trị lợi nhuận.
Các nghiên cứu trước đây đo lường quản trị lợi nhuận thực thông qua mức kỳ vọng của các giao dịch có liên quan (mức bình thường) (Gunny, 2010; Roychowdhury, 2006). Nếu nhà quản lý thực hiện các giao dịch trong kỳ vượt xa mức bình thường thì rất có thể nhà quản lý đang có hành vi quản trị lợi nhuận. Mức độ quản trị lợi nhuận thực chính là chênh lệch giữa mức bình thường và mức thực tế phát sinh của các giao dịch có liên quan.4) Trong đó: RDt: chi phí nghiên cứu trong năm t; SGAt: chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong năm t; GainA: lợi nhuận từ thanh lý tài sản cố định trong năm 1; At-1 : giá trị tổng tài sản tại thời điểm đầu năm t, cũng tức là cuối năm t-1; MV: logarit tự nhiên của vốn hóa thị trường; Q: giá trị Tobin’s Q; INT: các nguồn vốn của công ty; St: doanh thu trong năm t; ΔS: thay đổi về doanh thu giữa năm t và năm t-1; DD: biến giả, nhận giá trị bằng 1 nếu doanh thu năm t giảm so với doanh thu năm t-1, nhận giá trị bằng 0 cho các trường hợp còn lại; ASales: doanh thu thanh lý tài sản cố định; ISales: doanh thu thanh lý tài sản đầu tư; α0, α1, β1, β2, β3, β4, β5: các hệ số hồi quy; 𝜀𝑡𝑅&𝐷 , 𝜀𝑡𝑆𝐺&𝐴, 𝜀𝑡𝐴𝑠𝑠𝑒𝑡 , 𝜀𝑡𝑃𝑟𝑜𝑑𝑢𝑐𝑡𝑖𝑜𝑛 : phần dư của các mô hình. Đây là giá trị bất thường mà Gunny (2010) dùng để đo lường quản trị lợi nhuận thực.7) Trong đó: CFOt: dòng tiền hoạt động của công ty trong năm t; PRODt: chi phí sản xuất (= giá vốn hàng bán + thay đổi hàng tồn kho); DISEXP: các chi phí khác có liên quan (chi phí nghiên cứu, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp); St: doanh thu trong năm t; ΔS: thay đổi về doanh thu giữa năm t và năm t-1; At-1 : giá trị tổng tài sản tại thời điểm đầu năm t, cũng tức là cuối năm t-1.
α0, α1, β1, β2, β3: các hệ số hồi quy; 𝜀𝑡𝐶𝐹𝑂, 𝜀𝑡𝑃𝑅𝑂𝐷 , 𝜀𝑡𝐷𝐼𝑆𝐸𝑋𝑃 : phần dư của các mô hình. Đây là giá trị bất thường mà Roychowdhury (2006) dùng để đo lường quản trị lợi nhuận thực. Quản trị lợi nhuận kế toán dồn tích Quản trị lợi nhuận cũng có thể được thực hiện thông qua điều chỉnh lợi nhuận kế toán dồn tích. Thay vì lợi dụng các giao dịch bằng tiền để điều chỉnh lợi nhuận thực, nhà quản lý điều chỉnh các biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh.
Dechow và Schrand (2004, pp.40-41) đưa ra một số ví dụ cho các khoản mà nhà quản lý có thể điều chỉnh như: dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, các phương pháp khấu hao khác nhau, vốn hóa chi phí vào tài sản cố 12 định,… Đây là các biến cho phép nhà quản lý tự ước lượng và đưa ra quyết định nên cũng tạo ra cơ hội cho nhà quản lý thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận. Có rất nhiều mô hình đo lường đã được xây dựng để lượng hóa mức độ quản trị lợi nhuận kế toán dồn tích trong các nghiên cứu trước đây. Tương tự như khi đo lường quản trị lợi nhuận thực, các mô hình đo lường quản trị lợi nhuận kế toán dồn tích đều cố gắng tìm ra mức bình thường của lợi nhuận kế toán dồn tích. Healy (1985) sử dụng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (discretionary accrual - DA) làm đại diện cho quản trị lợi nhuận.
Biến DA được tính bằng chênh lệch giữa tổng biến kế toán dồn tích (total accrual - TA) tại một năm và biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (non-discretionary accrual - NDA) của năm đó. Tổng biến kế toán dồn tích trong năm t (TAt) được tính bằng chênh lệch giữa lợi nhuận ròng báo cáo (NI) và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) trong năm t. Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh NDA là trung bình của tổng biến kế toán dồn tích trong suốt giai đoạn quan sát. Các biến kế toán dồn tích trên (TA, DA, NDA) đều được chia cho tổng tài sản tại thời điểm đầu năm.
Do vậy, biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh của năm t (DAt) chính là chênh lệch giữa tổng biến kế toán trong năm t (TAt) và năm t-1 (TAt-1). Tuy nhiên, mô hình của DeAngelo có một nhược điểm đó là nó đòi hỏi NDA phải không đổi theo thời gian và do vậy trung bình DA cũng sẽ bằng 0 trong giai đoạn quan sát. Để khắc phục hạn chế này, các biến kế toán dồn tích (TA, DA, NDA) được chia cho doanh thu trong năm trước đó để phản ánh thay đổi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mô hình Jones chuẩn (1991) được phát triển từ ý tưởng của mô hình Healy (1985) và mô hình DeAngelo (1986).
Khi tính toán biến kế toán dồn tích không điều chỉnh được, mô hình Jones chuẩn đưa thêm các yếu tố liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vào mô hình.