CHƯƠNG 1 Tài chính học hành vi là một phân ngành kinh tế học, sử dụng các lý thuyết về tâm lý hành vi để lý giải cho những bất thường xảy ra trên thị trường chứng khoán. Thuyết kỳ vọng và tâm lý dựa vào kinh nghiệm là hai mảng chính của tài chính học hành vi. Các nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực này là Daniel Kahneman va Amos Tversky. Mặc dù lý thuyết tài chính học hành vi không cung cấp cho các nhà đầu tư một phương thức đầu tư kỳ diệu, nhưng lại có thể giúp cho họ cẩn trọng hơn đối với các hành vi của mình và tránh được những suy nghĩ sai lầm khi đưa ra các quyết định đầu tư tài chính.
- 14 - CHƯƠNG 2 SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Ra đời vào ngày 20/07/2000, thị trường chứng khoán Việt Nam đến nay đã hơn 9 năm tuổi. Trong quá trình phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam, không ngừng mở rộng quy mô và cải thiện về thể chế luật pháp để trở thành kênh huy động vốn quan trọng phục vụ cho con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đồng thời là kênh đầu tư mới được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm, chú ý. Tuy nhiên, cũng giống như các thị trường mới nổi khác, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trãi qua bao thăng trầm, chung quy lại có thể phân chia sự phát triển của thị trường thành ba giai đoạn chính yếu sau: 2. Giai đoạn 2000 - 2005: Ngày 10/07/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định 48/1998/NĐ- CP về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán cùng với Quyết định thành lập hai Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) tại Hà Nội và TP.
Hồ Chí Minh. Ngày 20/07/2000, TTGDCK Tp.HCM chính thức đi vào hoạt động, và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 với 02 loại cổ phiếu niêm yết là REE (Công ty Cổ phần Cơ Điện lạnh) và SAM (Công ty Cổ phần Cáp và Vật liệu viễn thông) và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch. Từ mức khởi đầu là 100 điểm, VN-Index đã nhanh chóng leo lên mức 570 điểm vào giữa tháng 06/2001. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, chỉ số này đã trượt dốc xuống còn 200 điểm vào đầu năm 2002 và tiếp tục tạo đáy 130 điểm vào tháng 4/2003.
Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian này chẳng khác gì một ngôi sao băng, lóe sáng rồi vụt tắt. - 15 - Trong giai đoạn này hầu như có rất ít nhà đầu tư tổ chức, cá nhân biết đến hay am hiểu nhiều về chứng khoán và cũng có rất ít các quỹ đầu tư trong và ngoài nước được cấp phép và hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nhưng theo thời gian, sự quan tâm của nhà đầu tư đến thị trường chứng khoán ngày một nhiều. Sự quan tâm này không hoàn toàn dựa trên nền tảng sự tăng trưởng của nền kinh tế mà bắt nguồn từ suy nghĩ đơn thuần của những người lần đầu tham gia vào thị trường chứng khoán rằng đây là nơi mà họ có thể thu được lợi nhuận kỳ vọng một cách nhanh chóng, dễ dàng và đôi khi hơn cả sự mong đợi.
Quan niệm “đầu tư chứng khoán như chơi một canh bạc, may mắn thì thắng” và xem đây như là cách nhanh nhất để trở nên giàu có, họ mua chứng khoán với mong muốn điều kỳ diệu ấy sẽ xảy ra để họ nhanh chóng được đổi đời. Tâm lý này khiến cho nhu cầu mua chứng khoán tăng cao trong khi lượng cung còn quá nhỏ và khan hiếm. Chính điều này đã làm cho giá các loại cổ phiếu đang niêm yết trên sàn lúc bấy giờ tăng liên tục trong nhiều tháng liền và vượt xa giá trị nội tại của nó. Nhận thấy sự xuất hiện của “bong bóng tài chính” có thể sẽ là một trở ngại lớn cho sự phát triển bền vững của thị trường, đồng thời cũng để nhằm hạn chế sự đầu cơ quá mức trên thị trường, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã đưa ra một loạt các biện pháp mạnh tay như: giảm biên độ giao dịch, quy định khối lượng giao dịch tối đa cho mỗi loại chứng khoán…Mặc dù những chính sách này xuất phát từ mục đích bảo vệ nhà đầu tư nhưng nó lại có những tác động hết sức tiêu cực đến thị trường chứng khoán, ảnh hưởng đến tâm lý của nhà đầu tư và làm cho giá cổ phiếu giảm mạnh.
Từ cuối năm 2001, tâm lý nhà đầu tư hầu như bị tổn thương nghiêm trọng và dẫn đến tình trạng thị trường dần rơi vào trạng thái “đóng băng”. Cảnh chợ chiều này đã làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam trở nên chậm phát triển. Thống kê cho thấy, đến cuối năm 2003 toàn thị trường mới chỉ có 73 loại chứng khoán (trong đó có 21 mã cổ phiếu được niêm yết, 02 loại trái phiếu của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam và 50 loại trái phiếu chính phủ) với tổng mức vốn hóa chỉ khoảng 6.600 tỷ đồng, chiếm khoảng 1. Chỉ số này thực sự quá nhỏ bé so với mức 20% - 30% GDP của các nước trong khu vực và nếu xét - 16 - về cơ cấu thì thị trường cổ phiếu hầu như bị lấn át bởi giao dịch của thị trường trái phiếu.
Sự ảm đạm của thị trường còn được thể hiện ngay trong quy mô giao dịch, vì trong khoảng thời gian kể từ khi thị trường được thành lập đến tháng 05/2003, khối lượng giao dịch của toàn thị trường một ngày chưa đến 100. Tính thanh khoản thấp khiến nhà đầu tư thực sự chán nản và mệt mỏi khi cần bán để thu hồi vốn, chứ mong gì nghĩ đến chuyện sẽ hiện thực hóa lợi nhuận các khoản đầu tư của mình thị trường chứng khoán. Sau ba năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ có 14.500 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó chỉ có 90 nhà đầu tư tổ chức và 35 nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thì trong 14.500 tài khoản này thì chỉ có trên dưới 1.000 tài khoản chứng khoán là có giao dịch thường xuyên.
Các thể chế tài chính trung gian vẫn còn quá ít ỏi. Tính đến cuối năm 2003, mới chỉ có 13 Công ty Chứng khoán, 2 Công ty Quản lý Quỹ Đầu tư, 5 Ngân hàng lưu ký và 1 một Ngân hàng chỉ định thanh toán là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Các Công ty Chứng khoán hoạt động chủ yếu là ở Tp.Hồ Chí Minh và Hà Nội. Lúc này, nghiệp vụ môi giới là nghiệp vụ chủ yếu của các Công ty Chứng khoán còn hoạt động của các nghiệp vụ khác (như bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư…) hầu như còn rất hạn chế và nhỏ bé.
Sự yếu kém của thị trường chứng khoán còn thể hiện ngay trong chức năng cơ bản của nó là huy động vốn. Và chính các doanh nghiệp niêm yết trên sàn trong giai đoạn này cũng chưa có thói quen huy động vốn thông qua phát hành thêm cổ phiếu. Theo thống kê, thì đến cuối năm 2003, mới chỉ có 5 công ty niêm yết phát hành thêm cổ phiếu mới để huy động vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp. Năm 2004 được đánh giá là thời gian giá cổ phiếu dần hồi phục sau giai đoạn suy giảm trong các năm 2002 và 2003.
Giao dịch cổ phiếu trên sàn có xu thế ổn - 17 - định hơn, các cổ phiếu hầu như không có biến động lớn. Chỉ số VN-Index ở mức 239,29 điểm (ngày 31/12/2004), tăng hơn 72 điểm so với cùng thời điểm này của năm 2003 (166,94 điểm). Tính đến cuối 2004, tổng số tài khoản của các nhà đầu tư mở tại các công ty chứng khoán là 20. Điểm nổi bật là bên cạnh việc đầu tư cổ phiếu, nhà đầu tư nước ngoài đã chuyển mạnh sang giao dịch trái phiếu (chiếm 48% tổng giá trị giao dịch của những đối tượng này).
Tính thanh khoản của thị trường cũng được nâng lên. Khối lượng giao dịch tăng mạnh trong năm 2004 với tổng giá trị gần 20.000 tỷ đồng (bình quân 80 tỷ đồng/phiên), tăng 6,6 lần so với 2003. Các nhà đầu tư có tổ chức đóng vai trò quan trọng đối với giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung: tuy chỉ chiếm trên 1% về số lượng nhưng các nhà đầu tư có tổ chức lại chiếm gần 39% tổng giá trị giao dịch của năm 2004. Bước sang năm 2005, hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam đã có sự khởi sắc hơn so với những năm trước đó, quy mô thị trường được mở rộng, lòng tin của nhà đầu tư đối với thị trường được nâng lên, do tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết có sự tăng trưởng cao cả về vốn, doanh thu và lợi nhuận.
Bên cạnh đó, Nhà nước đã đẩy mạnh cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp lớn, tổ chức đấu giá công khai qua Trung tâm Giao dịch chứng khoán nhiều doanh nghiệp lớn của ngành điện lực như Nhà máy Thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh, Thủy điện Thác Bà, Nhiệt điện Phả Lại, Điện lực Khánh Hòa. Các doanh nghiệp này đã làm gia tăng đáng kể lượng hàng hóa cho thị trường chứng khoán. Năm 2005 cũng là năm có nhiều thay đổi trong chính sách liên quan đến thị trường chứng khoán theo hướng ngày càng hoàn thiện, nhất là đối với nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể là đã nới lỏng tỷ lệ sở hữu từ 30% lên 49% đối với các nhà đầu tư nước ngoài, cho phép các tập đoàn bảo hiểm như Prudential, Manulife và một số tổ chức liên doanh thành lập công ty quản lý quỹ ở Việt Nam, cấp phép lưu ký cho Tập đoàn CitiGroup, cho phép chuyển các xí nghiệp liên doanh thành công ty cổ - 18 - phần và một số doanh nghiệp này đang hoàn tất hồ sơ niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán.
Tóm lại: trong giai đoạn này, sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn khởi đầu được thể hiện ở những đặc điểm sau: Thị trường chứng khoán lúc này chưa chứng tỏ được vai trò của nó là kênh huy động vốn quan trọng đáp ứng cho sự phát triển của đất nước. Công tác phổ cập kiến thức, thông tin về chứng khoán còn nhiều hạn chế nên người dân còn tỏ ra xa lạ và với chứng khoán và thị trường chứng khoán. Quy mô của các công ty niêm yết còn nhỏ bé, chưa thực sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư.