Phần mở đầu + Chƣơng 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu + Chƣơng 2: Thực trạng của việc sử dụng nguồn lực tự nhiên ảnh hưởng tới thu nhập và an toàn lương thực của hộ nông dân Định Hoá + Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tự nhiên nhằm tăng thu nhập và đảm bảo an toàn lương thực vùng nghiên cứu + Kết luận. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Trong sản xuất nông, lâm nghiệp thì nguồn lực tự nhiên của hộ nông dân bao gồm các yếu tố chính là đất đai, rừng và nguồn nước tự nhiên.
Nguồn lực đất đai 1. Cơ sở lý luận về vấn đề sử dụng đất trong hộ nông dân a. Khái niệm về đất và đất dùng trong nông, lâm nghiệp: Đất là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người, con người sinh ra trên đất, tồn tại và phát triển nhờ vào các sản phẩm từ đất. Vậy đất là gì? Và tại sao chúng ta phải giữ gìn,bảo vệ, sử dụng nguồn tài nguyên này một cách khoa học và hợp lý? Đã có nhiều khái niệm, định nghĩa về đất.
Khái niệm đầu tiên là của học giả người Nga Docutraiep năm 1897 cho rằng: “Đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động của năm yếu tố hình thành đất đó là: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian” [11]. Tuy nhiên khái niệm này chưa đề cập tới các yếu tố xung quanh, đặc biệt là vai trò của con người, để hoàn chỉnh khái niệm về đất, Các Mác viết: đất là tư liệu sản xuất cơ bản và quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau[5]. Theo luật đất đai sửa đổi và bổ sung một số điều năm 2001 thì khái niệm về đất trong sản xuất nông, lâm nghiệp như sau: Đất nông nghiệp là toàn bộ diện tích đất được xác định chủ yếu để sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Đất lâm nghiệp là đất được xác định là đất chủ yếu để sản xuất lâm nghiệp bao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. 6 gồm: đất có rừng tự nhiên, rừng trồng, đất khoanh nuôi bảo vệ rừng, nuôi dưỡng làm giàu rừng, đất phục vụ cho các mục đích lâm nghiệp, trồng rừng và thí nghiệm về lâm nghiệp. Tóm lại có rất nhiều khái niệm về đất, có khái niệm nói lên sự hình thành của đất, có khái niệm nói lên mối quan hệ của đất với cuộc sống con người, có khái niệm nói về đất gắn với mục đích sử dụng… Như vậy tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu cụ thể mà ta hiểu về đất theo những cách khác nhau. Vai trò và ý nghĩa của đất trong sản xuất nông, lâm nghiệp Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt quan trọng và không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp.
Không có đất thì không thể có sản xuất nông nghiệp nói riêng cũng như các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân nói chung.Mác đã viết rằng ” Bí quyết phát triển của lịch sử là việc sử dụng tốt nguồn lực đất đai”, quốc gia hay vùng lãnh thổ nào quy hoạch và sử dụng đất một cách có hiệu quả thì nơi đó sẽ phát triển[13]. Trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ đó là nơi con người thực hiện mọi hoạt động của mình tác động vào cây trồng và vật nuôi để tạo ra sản phẩm. Đất đai là nguồn tài nguyên luôn bị hạn chế về số lượng, nhất là đất nông nghiệp chúng ta chủ yếu là khai thác trên bề mặt nên nó luôn bị hạn chế về danh giới diện tích, vì vậy chúng ta phải sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả thì mới đáp ứng được nhu cầu sử đất ngày càng tăng của xã hội. Độ màu mỡ của đất phụ thuộc vào quá trình sử dụng, do vậy sử dụng đất luôn phải đi đôi với quá trình cải tạo và làm giàu cho đất, đây là cơ sở của sự phát triển bền vững[8].
Đất là yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất nông nghiệp, sử dụng nó có ảnh hưởng tới kết quả đầu ra, nhất là đối với sản xuất theo hướng hàng hoá. Chất lượng đất và lợi thế của đất cũng ảnh hưởng tới số lượng, chất lượng sản. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. 7 phẩm tạo ra và khả năng sinh lời từ đất.
Vì vậy ở mỗi vùng khác nhau cũng có sự khác nhau từ kết quả sản xuất ra trên cùng đơn vị sử dụng đất. Mặt khác kết quả sản xuất cũng phụ thuộc vào phương án sử dụng đất của người chủ sở hữu quyền sử dụng đất đó. Tóm lại, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, thực tế trong quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của các nền văn minh vật chất cũng như tinh thần đều dựa trên nền tảng cơ bản của việc sử dụng đất. Các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau có nền kinh tế phát triển ở mức độ khác nhau thì việc tổ chức quản lý, sử dụng đất của họ cũng thể hiện ở những trình độ khác nhau rõ rệt.
Do đó trong quá trình sử dụng đất ngoài việc sử dụng sao cho tiết kiệm và hiệu quả kinh tế cao thì đồng thời chúng ta cũng không ngừng cải tạo và làm tăng độ phì nhiêu của đất. Quan điểm về sử dụng đất bền vững: Từ khi con người biết sử dụng đất cho mục đích sinh tồn của mình, đất đai đã trở thành cơ sở cần thiết cho sự sống và tương lai phát triển của loài người. Trước đây khi dân số còn ít để đáp ứng các nhu cầu của con người thì việc khai thác đất khá dễ dàng và chưa có ảnh hưởng tới tài nguyên đất. Nhưng ngày nay, mật độ dân số ngày càng tăng đặc biệt là ở các nước đang phát triển thì vấn đề đảm bảo lương thực cho sự gia tăng dân số ngày càng gây sức ép nên đất đai.
Diện tích đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp càng cạn kiệt, con người phải mở mang canh tác trên những vùng đất không thích hợp cho sản xuất, đó là nguyên nhân dẫn tới việc thoái hoá đất một cách nghiêm trọng[12]. Dưới tác động của việc khai thác đất một cách quá mức làm cho độ phì nhiêu của đất ngày càng suy giảm và dẫn tới thoái hoá đất, hiện tượng sa mạc hoá đất diễn ra ngày càng mạnh mẽ, lúc đó việc khôi phục độ phì của đất là rất khó hoặc nếu có phải chi phí rất tốn kém và mất thời gian dài mới có thể phục hồi lại được. Mục đích của. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.
8 sản xuất là tạo ra lợi nhuận do vậy quá trình này luôn chi phối tác động của con người lên đất đai và môi trường tự nhiên, những giải pháp sử dụng và quản lý đất không thích hợp chính là nguyên nhân dẫn tới sự mất cân bằng lớn trong các chức năng của đất, sẽ làm cho đất bị thoái hoá, sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người, chính bởi vậy việc tìm ra giải pháp sử dụng đất thích hợp bền vững đã được các nhiều nhà khoa học và các tổ chức rất quan tâm, thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” đã trở nên thông dụng trên thế giới ngày nay. Nội dung sử dụng đất bền vững bao hàm ở một vùng trên bề mặt trái đất với tất cả các đặc trưng: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, chế độ thủy văn, động thực vật và cả những hoạt động cải thiện việc sử dụng và quản lý đất đai như: hệ thống tiếu tiêu, xây dựng đồng ruộng. Do đó thông qua hoạt động thực tiễn sử dụng đất chúng ta phải xác định được những vấn đề liên quan đến những yếu tố tác động đến khả năng bền vững đất đai trên phạm vi cụ thể của từng vùng để tránh khỏi những sai lầm trong quá trình sử dụng đất, đồng thời hạn chế được những tác động gây tác hại tới môi trường sinh thái.Theo Fetry sự phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp chính là sự bảo tồn nguồn đất, nước, động thực vật không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội. FAO đã đề ra các chỉ tiêu cho nông nghiệp bền vững là: Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại, tương lai về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác.
Cung cấp lâu dài việc làm đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp. Duy trì và tăng cường khả năng sản xuất của tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và cân bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hoá xã hội của các cộng đồng sống ở khu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. 9 vực nông thôn và không gây ô nhiễm môi trường, giảm thiểu khả năng gây tổn thương lực lượng nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nông dân[14].
Hội thảo về khung đánh giá việc quản lý đất đai diễn ra ở Naibori năm 1991 đã đề ra định nghĩa quản lý bền vững đất đai bao gồm các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời duy trì 5 nguyên tắc: + Duy trì nâng cao sản lượng. + Giảm tối thiểu rủi ro trong sản xuất. + Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thái hoá của đất và nước. + Có hiệu quả lâu dài.
+ Được xã hội chấp nhận. Các nguyên tắc trên đây được coi là cơ sở của sử dụng đất đai bền vững và là những mục tiêu cần phải đạt được. Nếu thực tế diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được. Nếu chỉ đạt được một hay vài mục tiêu thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận[9].