Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Khung lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 5 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2. Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác. Nó cũng được coi là giá cả đồng tiền của một quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác.
Một tỷ giá hối đoái dựa trên thị trường sẽ thay đổi bất cứ khi nào các giá trị của một trong hai tiền tệ thành phần thay đổi. Một đồng tiền sẽ có xu hướng trở nên có giá trị hơn bất cứ khi nào nhu cầu cho nó lớn hơn lượng cung có sẵn. Nó sẽ trở nên ít có giá trị bất cứ khi nào nhu cầu thấp hơn lượng cung cấp có sẵn. Chính vì thế, mỗi quốc gia quản lý giá trị đồng tiền của mình thông qua các cơ chế khác nhau.
Điều đó quyết định chế độ tỷ giá hối đoái mà quốc gia sẽ áp dụng cho đồng tiền của mình. Theo đó, tiền có thể được thả nổi tự do, bị chốt hay cố định, hoặc kết hợp cả hai (chế độ tỷ giá thả nổi có kiểm soát). Tỷ giá hối đoái cố định hay còn gọi là tỷ giá hối đoái neo, là tỷ giá hối đoái mà được giữ cố định trong một thời gian dài với biên độ dao động nhỏ ở mức cho phép. Trong đó, giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn.
Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm. Ngân hàng trung ương (NHTW) sẽ can thiệp để giữ cho tỷ giá ổn định bằng cách bán ngoại tệ ra khi tỷ giá tăng và mua ngoại tệ vào khi tỷ giá giảm để kéo giá ngoại tệ lên. Chế độ tỷ giá thả nổi hay còn gọi là chế độ tỷ giá linh hoạt là một chế độ trong đó giá trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị trường ngoại hối. Hay nói cách khác, chế độ tỷ giá hối đoái ở mỗi quốc gia và mỗi thời kỳ có thể khác nhau, song về cơ bản là chế độ tỷ giá thả nổi theo đó thị trường quy định những biến động của tỷ giá hối đoái.
6 Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa hai chế độ thả nổi và cố định, theo đó tiền được quản lý theo chế độ tỷ giá thả nổi, nhưng chính phủ sẽ can thiệp để tỷ giá không hoàn toàn phản ứng theo thị trường. Các nước thực thi chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý nhưng có sự khác nhau về hình thức thả nổi và hình thức can thiệp. Một nước có nền kinh tế thị trường tương đối phát triển và hoàn hảo về một thị trường ngoại hối, thường áp dụng chế độ thả nổi với sự can thiệp rất ít của nhà nước. Một thị trường ngoại hối hoàn chỉnh với các quy chế quản lý ngoại hối chặt chẽ và các thành phần có đủ khả năng tham gia thị trường sẽ góp phần hình thành nên một mức tỷ giá hợp lý thể hiện đúng tương quan sức mạnh đồng tiền trên thế giới.
Điều kiện Marshall-Lerner Theo điều kiện Marshall-Lerner (ML) để cho việc mất giá tiền tệ có tác động tích cực tới cán cân thanh toán, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co dãn theo giá cả của xuất khẩu và độ co giãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1. Điều kiện này đặt theo tên của hai học giả kinh tế đã phát hiện ra nó, đó là Alfred Marshall và Abba Lerner. Phá giá dẫn tới giảm giá hàng xuất khẩu định danh bằng ngoại tệ, do đó nhu cầu đối với hàng xuất khẩu (ngoại nhu) tăng lên. Đồng thời, giá hàng nhập khẩu định danh bằng nội tệ trở nên cao hơn, làm giảm nhu cầu đối với hàng nhập khẩu.
Hiệu quả ròng của phá giá đối với cán cân thanh toán tùy thuộc vào các độ co giãn theo giá. Nếu hàng xuất khẩu co giãn theo giá, thì tỷ lệ tăng lượng cầu về hàng hóa sẽ lớn hơn tỷ lệ giảm giá; do đó, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng. Tương tự, nếu hàng nhập khẩu co giãn theo giá, thì chi cho nhập khẩu hàng hóa sẽ giảm. Cả hai điều này đều góp phần cải thiện cán cân thanh toán.
Phương trình tính toán cán cân thanh toán có dạng như sau: B= Xp – M Trong đó B là cán cân thanh toán, X là khối lượng xuất khẩu, M là chi tiêu cho nhập khẩu và p là mức giá quốc tế, Mất giá tiền tệ sẽ cải thiện cán cân thanh toán khi: 7 <0 Giả định rằng độ co giãn của nhập khẩu Em theo giá cả không đổi, bất đẳng thức trên có thể viết thành: 1+ − <0 Nếu cán cân thanh toán ban đầu bằng 0, M = pX thì 1+ − <0 / /+/ />1 Với giả định rằng thu nhập khả dụng của người tiêu dùng không thay đổi theo giá cả. Tuy nhiên, một số bằng chứng thực nghiệm đã chứng minh điều kiện ML không được đáp ứng trong thực tế, Goldstein và Kahn (1985) chứng minh rằng tổng hệ số co giãn trong dài hạn (lớn hơn 2 năm) luôn lớn hơn 1 trong khi đó tổng hệ số co giãn trong ngắn hạn (dưới 6 tháng) có xu hướng tiến gần đến 1. Tương tự, Bahmani - Oskooee và các cộng sự (2013) cũng không tìm thấy điều kiện ML được đáp ứng trong thực tế. Đường cong chữ J Đường cong J là một đường mô tả hiện tượng tài khoản vãng lai của một quốc gia sụt giảm ngay sau khi quốc gia này xảy ra mất giá tiền tệ và phải một thời gian sau tài khoản vãng lai mới bắt đầu được cải thiện.
Quá trình này nếu biểu diễn bằng đồ thị sẽ cho một hình giống chữ cái J. Khi mất giá tiền tệ xảy ra tại t 1 Cán cân mậu dịch 0 Đường cong J t1 Thời gian Hình 2.1: Đường cong chữ J 8 Các lý luận kinh tế học nói rằng khi mất giá tiền tệ xảy ra, giá hàng xuất khẩu định danh bằng ngoại tệ trở nên thấp đi trong khi giá hàng nhập khẩu định danh bằng nội tệ tăng lên. Vì thế, đất nước sẽ tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu. Kết quả là cán cân vãng lai (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) sẽ được cải thiện.
Tuy nhiên, trong thực tế, về phía cầu, hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra dựa trên các hợp đồng, vì thế lượng hàng xuất nhập khẩu không thay đổi đồng thời với thay đổi giá cả (do tỷ giá thay đổi). Còn về phía cung, việc điều chỉnh trang thiết bị sản xuất để sản xuất thêm hàng xuất khẩu cần thời gian. Tóm lại, chính sự thay đổi giá cả và thay đổi khối lượng hàng hóa không diễn ra đồng thời là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng Đường cong J. Mô hình Mundell-Fleming hay mô hình IS-LM Đây là mô hình lý thuyết được Robert Mundell và Marcus Fleming phát triển một cách độc lập trong những năm 1960.
Mô hình kinh tế học vĩ mô sử dụng 2 đường IS và LM để phân tích tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô được thực hiện trong một nền kinh tế mở. Mô hình cho thấy mối quan hệ giữa sản lượng với tỷ giá hối đoái danh nghĩa trong ngắn hạn. Đường IS: Là đường biểu diễn các kết hợp của lãi suất (r) và sản lượng (Y) để thị trường hàng hóa cân bằng. Tức là chi tiêu thực tế bằng chi tiêu dự kiến Đường LM: là sự kết hợp của mọi lãi suất (r) và sản lượng (Y) để có sự cân bằng trên thị trường tiền tệ.
Mô hình IS*-LM*: Phản ánh quan hệ giữa sản lượng Y cân bằng với thị trường ngoại hối. e cân bằng ⇔ IS* = LM* Điều kiện của mô hình: - Sản lượng thực tế nhỏ hơn sản lượng tiềm năng. - Giá cố định - Nền kinh tế nhỏ, mở cửa. LM* e IS* Y0 Hình 2.2: Mô hình IS - LM cân bằng 9 (1) Trong điều kiện nền kinh tế nhỏ, tỷ giá hối đoái thả nổi Ảnh hưởng của chính sách tài chính mở rộng Để tăng sản lượng Y, chính phủ có thể sử dụng chính sách tài chính mở rộng (tăng chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế).
Trong ngắn hạn, chi tiêu chính phủ tăng làm tăng chi tiêu hàng hóa trong nước (đường IS dịch chuyển sang phải trong khi đường LM đứng yên), dẫn đến đồng nội tệ lên giá so với ngoại tệ (do nhu cầu về đồng nội tệ lớn). Đồng nội tệ lên giá làm giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu. Trong dài hạn, sự gia tăng của tỷ giá hối đoái làm giảm xuất khẩu ròng, là nguyên nhân làm mất ảnh hưởng của sự mở rộng tổng cầu trong nước về hàng hóa và dịch vụ. Điều này làm triệt tiêu ảnh hưởng mở rộng ban đầu của chính sách tài chính và đưa lãi suất trong nước về mức lãi suất thế giới.
Trong ngắn hạn, dưới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi và vốn chu chuyển hoàn hảo thì chính sách tài chính hoàn toàn không có hiệu lực trong việc điều tiết tổng cầu của nền kinh tế. Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ mở rộng Để tăng sản lượng Y thì chính phủ tăng cung tiền làm lãi suất trong nước tạm thời giảm xuống so với lãi suất nước ngoài, tạo ra một dòng vốn lớn chảy ra nước ngoài. Chính sách tiền tệ mở rộng làm đường LM dịch chuyển sang phải, còn đường IS thì đứng yên. Nhà đầu tư trong nước tìm cách chuyển từ đồng nội tệ sang đồng ngoại tệ, làm giá của đồng nội tệ giảm.
Trong dài hạn, tỷ giá hối đoái giảm làm tăng xuất khẩu và làm giảm nhập khẩu. Việc chuyển đổi đồng nội tệ sang đồng ngoại tệ diễn ra cho đến khi tỷ giá hối đoái giảm đủ để lãi suất trong nước tăng ngang bằng với lãi suất nước ngoài. Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái thả nổi và vốn chu chuyển hoàn hảo thì chính sách tiền tệ là có hiệu quả. Ảnh hưởng của chính sách hạn chế thương mại Chính phủ dùng biện pháp hạn chế thương mại: Chính phủ cắt giảm nhu cầu về hàng nhập khẩu bằng cách đặt ra hạn ngạch nhập khẩu hoặc thuế quan.
Xuất khẩu ròng bằng xuất khẩu trừ đi nhập khẩu, giảm nhập khẩu sẽ làm cho tăng tỷ giá hối 10 đoái và tăng xuất khẩu ròng, đường xuất khẩu ròng dịch chuyển sang phải.