CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Bối cảnh nghiên cứu Trong thời đại số phát triển mạnh mẽ một cách vượt bật như hiện nay thì phư ơng tiện truyền thông mạng xã hội là một trong những “sự lựa chọn tốt nhất hiện c ó” đối với một sản phâm dé tiếp cận với khách hàng tiềm năng. Theo dữ liệu từ Inte met World Stats, 52% dan số thế giới là người dùng internet vào năm 2018. Và theo báo cáo tháng I năm 2021 của We Are Social, một công ty toàn cầu chuyên nghiên cứu về truyền thông xã hội, hiện có 5,22 tỷ người dùng di động trên thê giới và 4,66 ty người dùng Internet, tăng 93 triệu (1,83%) so với tháng l năm 2020.
Đặc biệt, con sô này cũng rất đáng kế ở thị trường Việt Nam, vào tháng l năm 2021, dân số Việt Nam vượt 97,75 triệu người nhưng có hơn 68,72 triệu người dùng Internet (chiếm 7 0,3% dân sô) và 154,4 triệu thiết bị kết nổi internet (Kemp, 202 1). Sự phát triển nhanh chóng và tính phố biến rộng rãi của Internet đã dẫn đến s ự phát triển nhanh không kém của các mạng xã hội. Theo báo cáo tháng I năm 2021 của We Are Social, được viết bởi Kemp (2021), dân số toàn cầu của người dùng mạ nợ xã hội dự kiến sẽ đạt gần 4,2 tỷ vào đầu năm 2021, véi 1,3 triệu người dùng mới tham gia vào năm trước. Riêng tại Việt Nam, chứng kiến sự gia tang nhanh chóng c ủa người dùng mạng xã hội với hơn 72 triệu người, chiếm 73.7% dân số, trong do c hủ yếu là các bạn trẻ thuộc GenZ.
Mọi người dành 3,7 nghìn tỷ giờ mỗi năm cho mạ ng xã hội. Điều này cho thấy tiềm năng to lớn của giao dịch trực tuyến thông qua m ạng xã hội. Khi phương tiện truyền thông xã hội phát triển mạnh mẽ, vai trò của nhữ ng người có ảnh hưởng ngày cảng trở nên đa dạng vì các công nghệ kỹ thuật số đã l àm tăng sự phức tạp của môi trường khách hàng. Đề phù hợp với sự phức tạp này, c ác công ty không chỉ phải xem xét các tiêu chí hiện có (như doanh số, lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng, sự hải lòng của khách hàng và lòng trung thành) mà còn cả các chiế n lược tiếp thị mới và đề xuất giá trị cho khách hàng (ví dụ: giá trị, thương hiệu, vốn chủ sở hữu mối quan hé; Kannan và Li, 2017).
Do đó SỐ lượng doanh nghiệp áp dụn 15 ø hiệu quả các ứng dụng mạng xã hội ngày càng nhiều trên nhiều ngành nghề và lĩn h vực kinh doanh. Theo thống kê của Younet Media (2017), các ngành hàng đang kh ông ngừng khai thác nội dung trên mạng xã hội dé nâng cao vị thế trong lòng người tiêu dùng, với các xu hướng quảng cáo phô biến bao gồm sử dụng KOLs, người ảnh hưởng, story, livestream,. xu hướng sử dụng người ảnh hưởng và KOLs trên các n ên táng mạng xã hội đang thịnh hành nhất từ năm 2019, phát triển mạnh vào năm 20 20, 2021. Khi nội dung do người dùng tạo phát triển mạnh mẽ trên mạng xã hội, ng ười dùng có thể trở thành người sáng tạo hàng đầu bằng cách tích cực sản xuất và đ ăng tải các câu chuyện cá nhân cũng như các đánh giá về sản phẩm và dịch vụ của mình cho một thương hiệu nào đó.
Những người dùng này được gọi la “Influencer” (Freberg và cộng sự, 2011; Khamis và cộng sự, 2017; Lm và cộng sự, 2017). Điều này có thể dẫn đến các mối quan hệ bền vững dựa trên marketing và bán hàng (Aug usfine, 2019). Họ còn là những người sở hữu lượng người theo dõi lớn, sử dụng một hay nhiều nền tảng xã hội dé lan truyền thông tin đến mọi người. Hơn thế, họ còn c 6 kha năng tạo ra sự tương tác, dẫn dắt các cuộc trò chuyện hay quảng bá sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng mục tiêu (Interactive Advertising Bureau, 2018).
Dựa v ào điều đó, các doanh nghiệp đã sử dụng một loại hình tiếp thị có thể tận dụng sự no ¡ tiếng, sức ảnh hưởng của các Influencer để giới thiệu sản phẩm, định hướng bán h àng, kích thích sự tương tác của khách hàng với thương hiệu, đó là Influencer Mark cting (Brown & Hayes, 2008). Một báo cáo nghiên cứu chỉ ra rằng 92% người dùng mạng xã hội tin vào Influencers hơn là các kênh tiếp thị truyền thống (Kim và cộng sự, 2021). Trên thế giới, các thương hiệu nỗi tiếng đều lya chon Influencers lam dai dién cho minh. Chang hạn như Rosé trở thành đại sứ thương hiệu toàn cầu cho YSL 4 Neymar làm đại sử cho thương hiệu đồ thê thao nổi tiếng của Đức - Puma.
Do đó, cé thé thay Influencer co tam quan trọng đối với hành vi mua hàng của khách hàng. Còn KOLs là viết tắt của Key Opinion Leaders, tam dịch là “Người tư vấn chính”, Ì à những nhân vật có sức ảnh hưởng lớn trên cộng đồng mạng. KOLs thường được mời tham gia các chiến dịch truyền thông để tạo sức phân loại bởi 3 tiêu chí: Độ ph ủ, khả năng thay đổi ý kiến người tiêu dùng và sự liên quan tỏa. Ngoài ra, KOLs cò 16 n được hiểu là người định hướng dư luận.
Thông thường, đổi tượng này được an đề n thương hiệu. Họ là những người mà nhờ nguồn lực của bán thân (kiến thức, kinh nghiệm, sự nỗi tiếng, tinh san sang chia sẻ. ), do đó đã được người khác trong nhó m coi là đáng tin cậy đề tham khảo/hỏi về một số thông tin nhất định. Sử dụng KOL s là một trong những cách thức giúp tăng độ tin cậy của sản phâm.
Theo Celebrity I ntelligence, 80% người tham gia khảo sát cho biết KOLs là then chốt trong việc địn h hình ý kiến và quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Ngoài ra trong thị trườn g lam dep, 83% người tin rằng KOLs là chìa khóa tạo nên xu hướng làm đẹp, hình mẫu và sản phẩm. Báo Cáo cũng chỉ ra rằng với mỗi 1,3 USD chi cho KOLs trong n gành hàng mỹ pham, các thương hiệu đã nhận lại được lợi nhuận trung bình 1a 11,8 USD. Tiếp thị truyền thông mạng xã hội thông qua người ảnh hưởng đem lại nhiều lợi ích đáng kể cho các doanh nghiệp.
Ngoài ra, chiến dịch này còn tạo ra lợi nhuận đủ điều kiện nhờ các dự án tiềm năng tốt hơn, giúp các doanh nghiệp đưa ra nhiều g lải pháp và bán nhiều sản phâm hơn, đồng thời giảm tông chỉ phí khuyến mãi. Theo Business Insider, đầu tư kinh doanh hàng năm vào tiếp thị người ảnh hưởng sẽ đạt 1 5 tỷ đô la vào năm 2022 (Schomer, 2019). Ngày càng có nhiều thương hiệu nhận ra cơ hội mới này đề tiếp cận thị trường mục tiêu của họ đang hợp tác với những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội. Theo 7SAT (2020), tổng quy mô thị trường Infuenc er Marketing tại Việt Nam đạt được 69 triệu đô trong năm năm 2019, dự kiến tang tr wong 43% trong 2020.
Infuencer Marketing đã mang lại lợi ích không nhỏ khi mà c ác doanh nghiệp biết nắm bắt xu hướng, tận dụng tốt chiến dịch tiếp thị nay. Theo B áo cáo về ngành Influencer Marketing tại Việt Nam 2020 từ 7SAT, chỉ có 33% ngườ ¡ mua hàng tin tưởng vào các mẫu quảng cáo trong khi con số dành cho những lời gi ới thiệu đến tir Influencer lại lên đến 90% (Ngọc, 2021). Do đó, những lợi thế của p hương tiện truyền thông mạng xã hội bao gồm đạt được mục tiêu và quan tâm đến mặt hàng, tương tác của khách hàng thông qua cac giao dich, quá trình giới thiệu và sự công nhận của khách hàng. Lý do chọn đề tài Lý do đầu tiên chọn đề tài này đó chính là những năm trở lại đây, sự phát trié n mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo tiền đề cho thời đại công nghệ số có mặt trong mọi lĩnh vực đời sống.
Trong đó, bước tiến nôi bật nhất chính là sự mở rộng k hông ngừng của mạng xã hội. ĐI kèm với đó là hàng loạt những tác động của mạng xã hội đến những người sử dụng chúng. Đáng chú ý là sự xuất hiện của các KOLs tr ong hầu hết mọi lĩnh vực, họ sử dụng mạng xã hội và đem đến những tác động vô c ùng lớn đến cách mà những người theo dõi họ mua hàng hóa, sản phẩm. Dựa vào cá ch các KOLs truyền tải những thông tin hiểu biết và xây dựng hình ảnh trên mạng x ã hội, người theo dõi họ sẽ lựa chọn việc có đặt niềm tin vào những trải nghiệm sản phẩm của họ hay không.
Những KOLs có sự uy tín cá nhân và cách truyền tai hap d ân, mức độ tin cậy của người theo dõi càng tăng và ngược lại. Điều này tất yếu dẫn đến tác động lớn về ý định mua hàng của người theo dõi. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi đề cập đến vấn đề tác động của KOLs đến ý định mua hàng của người sử dụng mạng xã hội tại Thành phô Hồ Chí Minh, Việt Nam. Rất nhiều quốc gia trên th ế giới đang sử dụng mạng xã hội đều đã tồn tại vẫn đề này, tuy nhiên ngoài cách xây dựng uy tín từ bán thân các KOLs thì còn tùy thuộc vào văn hóa nhận thức của mỗi dân tộc tại mỗi đất nước khác nhau, mức độ tác động của các KOLs đến suy nghĩ củ a người mua hàng sẽ khác nhau.
Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài này dé nghiên cứ u ở nước ta. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, đối tượng nghiên cứu là những người đan ø sử dụng các nền tảng mạng xã hội như Instagram, Tiktok, Youtube,. và có theo d õi ít nhất một KOLs về lĩnh vực mà ho quan tâm. Hiện nay, các nghiên cứu về tác động của KOLs trong thị trường tiêu dùng c ủa Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung dần trở nên phố biến, chứng minh được KOLs đang đứng đầu về mức độ tin tưởng trên các kênh truyền thông và trở thành mũi nhọn chiếc lược cho quảng cáo thương hiệu của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên v ấn chưa xoáy sâu vào vấn đề cốt lõi là những KOLs có tầm ảnh hưởng lớn mang dé n cơ hội tiếp cận nhiều đối tượng hơn, nhưng nếu đối tượng không thực sự chú ý, hệ u khoản đầu tư của doanh nghiệp có thực sự giá trị và việc lạm dung qua nhiều KO 18 Ls có thể gây ra hiệu ứng ngược gì cho doanh nghiệp.