CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC IFRS 9 VÀO QTRRTD TẠI NHTM 1. Tổng quan về chuẩn mực IFRS 1. Khái niệm chuẩn mực IFRS và sự khác biệt so với VAS Năm 2001, Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) được thành lập và có nhiệm vụ phát triển “một bộ tiêu chuẩn BCTC chất lượng cao, dễ hiểu, có thể thực thi và được chấp nhận trên toàn cầu dựa trên các nguyên tắc được trình bày rõ ràng”.) Do đó, IFRS ra đời và được coi là ngôn ngữ kế toán toàn cầu nhằm giúp việc so sánh và giải thích các BCTC trên toàn thế giới trở nên dễ dàng hơn (Nguyen & Chi, 2015). Hiện nay, bộ các Chuẩn mực BCTC Quốc tế (IFRS) bao gồm hơn 40 chuẩn mực.
Việc triển khai và áp dụng chuẩn mực IFRS trên thế giới đã đem lại nhiều kết quả tích cực cho nền kinh tế của nhiều quốc gia bởi nó được thiết kế sao cho cung cấp được những thông tin tài chính thống nhất, minh bạch và có thể so sánh được, đảm bảo rằng các nhà đầu tư nhận được báo cáo chính xác và nhất quán, đồng thời làm cho thông tin đó trình bày một cách trung thực và công bằng về tình trạng của doanh nghiệp. Từ đó, giúp cho việc luân chuyển vốn giữa vốn giữa các giữa các quốc gia trở nên dễ dàng và ít tốn kém hơn (Nobes, 2004; Hoyle, et al., 2009), tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư nước ngoài. 8 Ngoài ra, Iatridis (2010) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng IFRS cũng hỗ trợ các nhà đầu tư đưa ra “các quyết định tài chính và dự đoán về hiệu quả tài chính trong tương lai của doanh nghiệp, đem lại tính minh bạch cho BCTC và chất lượng kế toán cao hơn”. Frey và Chandler (2007) cho rằng việc áp dụng IFRS ở các nước đang phát triển sẽ tiết kiệm thời gian và công sức cho những quốc gia này thiết lập các tiêu chuẩn riêng của mình.
Do đó, việc áp dụng IFRS ở một số nước đang phát triển đã trở thành bắt buộc do áp lực bên ngoài hoặc ảnh hưởng của các tổ chức quốc tế như IMF và NH Thế giới (Hooper và Morris, 2004). So với IFRS, VAS chỉ có 26 chuẩn mực được soạn thảo, ban hành trong giai đoạn từ 2001-2005 mà chưa có bất cứ sự sửa đổi nào cho tới nay. Do đó đã xuất hiện nhiều điểm khác biệt giữa hai chuẩn mực này, thậm chí nhiều quy định của IFRS mà VAS không có quy định tương đương. Ta có thể kể đến những điểm khác biệt điển hình sau: Sự khác biệt rõ nhất có thể nhận thấy đầu tiên là ở phương pháp giá trị hợp lý ( fair value method , IFRS quy định việc xác định giá trị tài sản dựa trên giá trị hợp lý ( fair value ).
Theo IFRS 13, giá trị hợp lý là giá trị sẽ nhận được khi bán một tài sản hay giá trị thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch có tổ chức giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường. Trong khi đó, VAS vẫn áp dụng nguyên tắc giá gốc ( historical cost ), dựa trên giá mua vào trong quá khứ để ghi nhận giá trị tài sản. Thứ hai là việc dự phòng khoản phải thu khó đòi. VAS đo lường và tính toán khoản dự phòng tương tự IAS 39 khi dựa theo các tổn thất đã phát sinh.
Nhưng IFRS đã chuyển đổi qua mô hình tổn thất tín dụng dự kiến ( ECL ), nói cách khác doanh nghiệp sẽ phải trích lập dự phòng cho những tổn thất trong tương lai. Thứ ba là ghi nhận tài sản thuê của bên đi thuê. VAS, vẫn theo quy định cũ, chỉ ghi nhận quyền sử dụng tài sản và các nghĩa vụ liên quan của các hợp đồng thuê tài chính mà không ghi nhận các hợp đồng thuê hoạt động, bên đi thuê ghi nhận chi phí thuê vào P/L. Nhưng, theo IFRS, không phân biệt giữa thuê hoạt động và thuê tài 9 chính , bên đi thuê sẽ phải ghi nhận quyền sử dụng tài sản và nợ phải trả cho tài sản đi thuê (Zamora-Ramírez, C.
Thứ tư liên quan tới việc trình bày BCTC. Báo cáo về những thay đổi trong VCSH được yêu cầu là một trong những báo cáo chính theo IAS. Mặt khác, báo cáo này được trình bày dưới dạng thuyết minh theo VAS. Đối với IFRS, không có chuẩn mực cụ thể về công bố thông tin trong BCTC của các NH, tổ chức tín dụng ( Nguyen, Chi,2015) Việc áp dụng IFRS tác động đến NH khác với các công ty phi tài chính bởi NH sở hữu tài sản tài chính.
Do đó, IFRS yêu cầu tài sản tài chính phải được ghi nhận theo giá trị hợp lý (S. Liên quan tới tài sản tài chính, IFRS 9 đã ra đời nhằm mục đích giảm thiểu tính phức tạp của IAS 39 trên cơ sở phân loại TSTC dựa vào mô hình kinh doanh (ý định của DN trong việc nắm giữ tài sản) và bản chất của luồng tiền (bản chất của TSTC) để phân loại tài sản ( Hồng. Do đó, IFRS 9 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quản trị rủi ro của hệ thống NH nói chung và QTRRTD nói riêng. Các lý thuyết về IFRS 9 và mô hình ECL IFRS 9 được ban hành bởi Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) vào tháng 7 năm 2014.
Chuẩn mực áp dụng cho nhiều đơn vị bao gồm các đơn vị tài chính và phi tài chính nắm giữ tài sản tài chính được phân loại như sau : 1) Tài sản kinh doanh được đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi lỗ (FVTPL) 2) Tài sản sẵn sàng để bán và được đo lường theo giá trị hợp lý thông thu nhập toàn diện khác (FVTOCI) 3) Tài sản nắm giữ đến ngày đáo hạn, được đo lường theo giá vốn phân bổ. Không giống như IAS 39, IFRS 9 có mô hình suy giảm giá trị chung cho tất cả các tài sản. Mục đích của IFRS 9 là cung cấp cho các bên liên quan thông tin liên quan về tổng, thời gian và mức xác suất của các dòng tiền trong tương lai. Mô hình 10 này luôn cần ghi nhận các khoản lỗ tín dụng dự kiến mà không được trì hoãn cho đến khi có bằng chứng về một sự kiện tín dụng ( E.Lazzini,2017) Mặc dù là một chuẩn mực kế toán nhưng có thể thấy mục tiêu của nó khá giống với mục tiêu quản trị rủi ro của cơ quan giám sát NH, nâng cao kỷ luật của NH đối với các quy định giám sát nhằm giảm thiểu các hoạt động chấp nhận rủi ro dẫn đến bất ổn tài chính ( D.
IFRS 9 đưa ra một mô hình suy giảm giá trị dựa trên việc tính toán khoản lỗ dự kiến theo nghĩa chênh lệch giữa dòng tiền dự kiến theo hợp đồng và dòng tiền chiết khấu, đối với các khoản cho vay có khả năng trả và các khoản vay khó có khả năng trả ở mức lãi suất thực tế ban đầu, đối với các khoản cho vay không trả được nợ ở mức lãi suất thực tế được điều chỉnh theo rủi ro. IFRS 9 được giới thiệu với 3 Giai đoạn: Giai đoạn 1 – Phân loại và Đo lường tài sản tài chính, giai đoạn 2 –lập mô hình ba giai đoạn về suy giảm giá trị và giai đoạn 3 – kế toán phòng ngừa rủi ro. Đặc biệt, giai đoạn suy giảm giá trị (Giai đoạn 2) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng do sự chuyển đổi từ mô hình tổn thất đã phát sinh (ICL) sang mô hình tổn thất tín dụng dự kiến (ECL). Chủ tịch IASB đã tuyên bố trong một bài phát biểu rằng giai đoạn 2 sẽ có tác động lớn nhất đối với các NH do mô hình ECL yêu cầu ghi nhận sớm các khoản dự phòng tổn thất (Hoogervorst 2016).
Mô hình tổn thất tín dụng dự kiến ( ECL) có cấu trúc như sau : ECL = PD x LGD x EAD Trong đó : PD : Khả năng vỡ nợ ( Probability of default ) LGD : Tỷ lệ tổn thất tại thời điểm vỡ nợ ( Loss given default ) EAD : Dư nợ tại thời điểm vỡ nợ ( exposure of default ) Cụ thể hơn, tại giai đoạn 1, tài sản có RRTD thấp tại ngày báo cáo (ghi nhận lần đầu). Đối với các công cụ này, ECL kỳ hạn 12 tháng được ghi nhận và thu nhập từ lãi được tính bằng lãi suất thực ( EIR ) trên giá trị ghi sổ gộp của tài sản tài chính, 11 tức giá vốn phân bổ của tài sản tài chính trước khi điều chỉnh các khoản dự phòng tổn thất. Giai đoạn 2 bao gồm các tài sản có “sự suy giảm đáng kể về chất lượng tín dụng” kể từ khi tài sản tương ứng tại thời điểm ghi nhận ban đầu, tuy nhiên, chưa có bằng chứng suy giảm thực tế. Đối với những tài sản này, ECL trọn đời được xác định nhưng thu nhập từ lãi vẫn được tính bằng EIR trên giá trị ghi sổ gộp của tài sản.
Cuối cùng, Giai đoạn 3 bao gồm các tài sản có bằng chứng suy giảm giá trị tại ngày báo cáo. Đối với những tài sản này, ECL trọn đời được ghi nhận và doanh thu từ lãi được tính bằng EIR trên giá trị ghi sổ ròng ( giá trị còn lại của tài sản sau khi trừ các khoản khấu hao lũy kế và đánh giá suy giảm giá trị ) Bảng 1. Các giai đoạn của mô hình ECL Stage 1 Stage 2 Stage 3 Recognition of ECL 12 month ECL 12 month ECL Lifetime ECL Recognition of EIR on gross EIR on gross EIR on net carrying interest carrying amount carrying amount amount Nguồn : IFRS 9 explained – the new expected credit loss model ( BDO. Tổng quan QTRRTD tại NHTM 1.
Khái niệm QTRRTD Đối với NH, RRTD phát sinh từ khả năng người đi vay của NH và các đối tác khác không trả được nợ (Kithinji, 2010). NH Trung ương Đông Caribbean (2009) định nghĩa QTRRTD là quá trình kiểm soát tác động của các sự kiện liên quan đến RRTD đối với tổ chức tài chính và liên quan đến việc xác định, hiểu biết và định lượng mức độ tổn thất tiềm tàng và sau đó thực hiện các biện pháp thích hợp giảm thiểu rủi ro tổn thất cho tổ chức tài chính. Poudel,2012 chỉ ra rằng QTRRTD là một cách tiếp cận có kế hoạch nhằm giảm thiểu rủi ro bằng cách sử dụng các nguồn lực hành chính, quản trị những điều không chắc chắn thông qua đo lường rủi ro và mở rộng các chiến lược để kiểm soát nó. Còn theo Boston Consulting Group (2001), RRTD là rủi ro chủ yếu và quan trọng nhất mà các tổ chức phải đối mặt.