CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA EVFTA ĐỐI VỚI LOGISTICS VIỆT NAM 1. Hiệp định EVFTA 1. Khái quát về hiệp định định EVFTA Hiệp định EVFTA hay Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU là thỏa thuận được ký kết giữa Việt Nam và 28 nước thành viên thuộc Liên minh châu Âu.
Việt Nam đã mất rất nhiều thời gian để chuẩn bị và đàm phán cho các bước ký kết của Hiệp định này.2019, Hiệp định được ký kết Ngày 8.2020, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định EVFTA được ký kết trong bối cảnh quan hệ song phương về mọi mặt của Việt Nam và EU diễn ra rất tốt đẹp. Chính vì vậy EVFTA được coi như một cú hích đánh dấu một bước hội nhập quan trọng của Việt Nam với thế giới. Sau khi ký kết và có hiệu lực thì theo như cam kết của 2 bên, Việt Nam đã được giảm đáng 14 Downloaded by vu quang (vuchinhhp20@gmail.com) lOMoARcPSD|21911340 kể các loại thuế của các mặt hàng như nông sản, thủy sản - những mặt hàng mà nước ta có lợi thế cạnh tranh. Những cam kết trong Hiệp định là công bằng, bình đẳng, bảo hộ an toàn cho các khoản đầu tư và góp phần tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch, rõ ràng cho các nhà xuất nhập khẩu và các doanh nghiệp logistics.
Nội dung chính của EVFTA là những điều khoản mang tính toàn diện, cân bằng lợi ích giữa Việt Nam và cả Eu đồng thời cũng phù hợp với những quy định của WTO. Hiệp định bao gồm 17 chương chủ yếu hướng tới các nội dung như thương mại hàng hóa (cam kết mở cửa thị trường và các hoạt động logistics), hải quan thuận lợi hóa thương mại, thương mại dịch vụ, các NBTs, sở hữu trí tuệ, đầu tư,. Cơ hội cho hoạt động xuất khẩu nhờ EVFTA Các cam kết về mở cửa thị trường được thực hiện giữa 2 bên đã tạo đòn bẩy cho các hoạt động xuất nhập khẩu. Quan hệ thương mại cho thấy mức tăng trưởng vượt trội với cam kết xóa bỏ ngay lập tức thuế nhập khẩu cho một số mặt hàng lên tới 100%.
Trong lâu dài phía EU sẽ giảm dần mức thuế về 0 cho rất nhiều hàng hóa của Việt Nam. Chính vì vậy đây là cơ hội gia tăng xuất khẩu cho các mặt hàng Việt Nam có lợi thế như dệt may, da giày, nông thủy sản,. Đặc biệt mức cam kết trong EVFTA được coi là cao nhất trong tất cả các FTA mà Việt Nam đã ký kết. Sau 1 năm EVFTA có hiệu lực mặc dù có những tác động tiêu cực do đại dịch COVID 19 gây ảnh hưởng tới thương mại và đầu tư song phương nhưng ta vẫn có thể thấy những tăng trưởng tích cực đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
Theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và EU trong 6 tháng đầu năm 2021 đã đạt tới 27,67 tỷ USD, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2020 khi EVFTA chưa chính thức có hiệu lực. =>> Sự hội nhập ngày càng sâu rộng điển hình như việc ký kết EVFTA đã góp phần đem lại hơn 500 tỷ USD xuất nhập khẩu mỗi năm cho nền kinh tế Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu tăng cao đồng nghĩa với sự phát triển của các hoạt động logistics. Quy mô vận tải bằng đường bộ, đường biển, đường hàng không, 15 Downloaded by vu quang (vuchinhhp20@gmail.com) lOMoARcPSD|21911340 đường sắt đều rất lớn tạo ra một cơ hội tốt cho các công ty trong lĩnh vực logistics phát triển.
Cơ sở lý luận về các vấn đề liên quan đến logistics 1. Một số khái niệm về logistics 1. Khái niệm logistics Trong EVFTA hoàn toàn không có định nghĩa nào về logistics và đồng thời cũng không sử dụng thuật ngữ này trong các cam kết liên quan. Hiệp định chỉ đưa ra những cam kết cụ thể liên quan đến các dịch vụ cụ thể như vận tải, hỗ trợ vận tải.
Từ ‘’Logistics’’ được sử dụng rộng rãi ngày nay có nguồn gốc từ từ ‘’Logistique’’ của nước Pháp. Tuy nhiên thuật ngữ này được dùng phổ biến ở Anh trong khoảng thế kỷ 19. Theo từ điển Webster, logistic là quá trình mua hay bảo quản, phân phối, thay thế con người và các trang thiết bị. Theo American Heritage Dictionary thì logistics được hiểu theo 2 nghĩa: Logistics là một lĩnh vực hoạt động của quân đội, liên quan trực tiếp đến thu mua, phân phối, bảo quản, thay thế các thiết bị cũng như con người, hoặc logistics là quản lý các chi tiết của một quá trình hoạt động’’.
Theo ESCAP (Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương) thì logistics là một quá trình về tối ưu hóa các vấn đề về vị trí địa lý, lưu trữ và bao gồm cả việc vận chuyển các tài nguyên - yếu tố đầu ra đầu vào từ các nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà phân phối sau đó đến tay người dùng sau hàng loạt các hoạt động kinh tế. =>> Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về logistics, tuy nhiên nhìn chung nó có thể được hiểu đơn giản là quá trình hoạch định, thực hiện, kiểm soát sự lưu thông hay tích trữ một cách có hiệu quả nhất đối với hàng hóa, nguyên vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm, dịch vụ và các thông tin đi kèm từ điểm khởi đầu tới điểm kết thúc dựa theo những yêu cầu của khách hàng. 16 Downloaded by vu quang (vuchinhhp20@gmail. Khái niệm LPI LPI (Logistics Performance Index) hay chỉ số đánh giá hiệu và và năng lực hoạt động Logistics.
Nó là một chỉ số do WB đưa ra nhằm mục đích xếp hạng hiệu quả, năng lực logistics của từng quốc gia. LPI được tính toán dựa trên những khảo sát đối với các nhà cung cấp trong chuỗi hoạt động Logistics. Thông thường chỉ số này sẽ được xác định 2 năm 1 lần và vào các năm chẵn. Cho đến nay đã có 6 lần bảng xếp hạng LPI được công bố tức là từ năm 2007, 2010, 2012, 2014, 2016, 2018.
Chỉ số LPI quốc tế được đánh giá qua 6 yếu tố: Cơ sở hạ tầng, vận tải quốc tế, năng lực logistics, truy xuất, thời gian, thông quan. Vai trò của của dịch vụ logistics Vai trò chung của logistics đó là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu, cụ thể như việc cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường. Hoạt động logistics quả thực đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển toàn cầu đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Đối với nền kinh tế Các quốc gia rất chú trọng việc phát triển các dịch vụ logistics bởi nó là một cách hiệu quả để cải thiện năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế và một quốc gia.
Hay ta có thể nói hiệu quả hoạt động logistics sẽ tác động trực tiếp đến khả năng hội nhập của nền kinh tế. Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay thì cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng có xu hướng gay gắt, khốc liệt. Do đó logistics đã trở thành lợi thế cạnh tranh của nhiều quốc gia. Nhà kinh tế học người Anh đã nói: ‘’khối lượng hàng hóa tỷ lệ thuận với tỷ số tiềm năng của 2 nước và tỉ lệ nghịch với khoảng cách của 2 nước đó’’.
Ở đây khoảng cách tức là sự khác biệt về trình độ kinh tế. Khoảng cách kinh tế được rút ngắn đồng nghĩa với việc hàng hóa được tiêu thụ nhiều hơn. Chính vì vậy những quốc gia có mạng lưới logistics rộng sẽ dễ dàng tiếp cận nhiều thị trường đồng thời cắt giảm chi phí logistics nhằm thúc đẩy xuất khẩu. 17 Downloaded by vu quang (vuchinhhp20@gmail.com) lOMoARcPSD|21911340 Phát triển logistics thực sự mang lại một nguồn lợi kinh tế lớn cho các quốc gia.
Đối với các quốc gia phát triển như Mỹ và Nhật Bản thì các hoạt động logistics đã đóng góp khoảng 10% GDP cho nền kinh tế. Tuy nhiên đối với những nước kém phát triển hơn thì con số này có thể chiếm tới 30% tổng GDP. Đối với doanh nghiệp Logistics giúp giải quyết hiệu quả vấn đề đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp. Có 3 vai trò lớn của logistics đối với doanh nghiệp được đề cập trong rất nhiều bài nghiên cứu.
Thứ nhất đó là nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh. Theo một số thống kê ta thấy được Trung Quốc có hoạt động logistics tăng trưởng với tốc độ bình quân là 33%/ năm, Brazil là 20%/ năm. Điều này chứng tỏ việc giảm chi phí trong sản xuất giúp nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Thứ hai, nó giúp doanh nghiệp gia tăng giá trị kinh doanh của các đơn vị vận tải giao nhận.
Các doanh nghiệp có thể rút ngắn thời gian tối thiểu từ lúc nhận hàng và giao hàng tới tay khách hàng, thông thường có thể mất từ 5-6 tháng thì nay chỉ mất 2 tháng. Đặc biệt khi kinh doanh dịch vụ logistics thì doanh nghiệp sẽ thu lợi nhuận cao 3-4 lần sản xuất và gấp 1-2 lần so với các phi vụ ngoại thương khác. Thứ ba, giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế. Để thực hiện được 1 giao dịch quốc tế thì sẽ tốn rất nhiều giấy tờ, công chứng.
Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, chi phí cho các loại thủ tục để phục vụ mục đích thương mại trên thế giới hằng năm là khoảng 420 tỷ USD, chiếm đến 10% tổng kim ngạch mậu dịch quốc tế. Phân loại các nhóm dịch vụ logistics tại Việt Nam Hiện nay có khá nhiều các kiểu phân loại về dịch vụ logistics, cụ thể như theo nội dung dịch vụ, theo chủ thể tiến hành hoạt động, theo giác độ tiếp cận, theo tính chất hoạt động, theo hướng vận động của dòng vật chất. Tuy nhiên ở bài 18 Downloaded by vu quang (vuchinhhp20@gmail.com) lOMoARcPSD|21911340 nghiên cứu sẽ là phân loại theo quy định ban hành trong Luật thương mại Việt Nam năm 2005. Các dịch vụ logistics chủ yếu Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả bốc xếp container; Dịch vụ kho bãi, lưu giữ lượng hàng hóa, bao gồm kho bãi container, kho xử lý nguyên liệu, thiết bị; Dịch vụ đại lý vận tải bao gồm đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa; Dịch vụ bổ trợ khác bao gồm cả hoạt động lưu trữ, tiếp nhận quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt chuỗi logistics, xử lý hàng hóa bị trả lại, hàng tồn kho, quá hạn, lỗi mốt và phân phối lại.