CHƯƠNG 1: TỐNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu 1. Các nghiên c? cứu về tác động • của Hiệp • JL định • tự• do đến hoạt • thương” mại • động • ơ thương mại quốc tể Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu hướng tất yếu trong tiến trình phát triển của thế giới. Từ đó đã hình thành nên những mối liên kết giữa các quốc gia và khu vực mà biểu hiện là việc ra đời của tổ chức thương mại quốc tế, các hàng loạt các hiệp định thương mại song phương và đa phương được ký kết. Chính vì thế mà đã có rất nhiều những bài báo, bài nghiên cứu chỉ ra các tác động của FTA đến hoạt động thương mại quốc tế.
Asian Development Bank 2012, trình bày những tác động của hiệp định thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN. Bài báo này sử dụng mô hình trọng lực mở rộng, xem xét đến thương mại các bộ phận và linh kiện thay vì chỉ quan tâm đến thương mại sản phẩm cuối cùng để làm sáng tở tác động của hiệp định ACFTA đối với các dòng chảy thương mại và mô hình thương mại của các nước thành viên. Kết quả từ mô hình trọng lực mở rộng cho thấy hiệp định thương mại tự do dẫn đến thương mại song phương giữa ASEAN và Trung Quốc cao hơn đáng kể so với những gì một mô hình trọng lực thông thường dự đoán, đặc biệt là do các mối liên kết sản xuất quốc tế chặt chẽ và tỷ trọng thương mại các bộ phận và linh kiện trong khu vực cao. Báo cáo cho rằng, nếu không tính đến hiện tượng này, các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp có thế đánh giá thấp lợi ích của ACFTA và định dạng sai các chiến lược và phản ứng của họ đối với việc tạo ra thương mại mới và chuyển hướng thương mại do hiệp định thương mại tự do mang lại.
Christopher Stevens và cộng sự (2015), nghiên cứu các tác động đến sự phát triển kinh tế cũa các quốc gia đang phát triển bởi các hiệp định thương mại tự do giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển. Nghiên cứu này dựa trên đánh giá chất lượng chi tiết của 45 FTA có sự tham gia của hầu hết các quốc gia thuộc OECD và 35 quốc gia và khu vực đang phát triển. Kết quả của nghiên cứu đã trả lời được hai câu hởi: 1. Các FTA giữa các nước phát triển và đang phát triển có tác động như thế nào đối với sự phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển? 2.
Cách 5 các nước đang phát triên có thê hưởng lợi tôt nhât từ các FTA mới (chăng hạn như Hiệp định Đối tác Kinh tế (EPA)), và làm thế nào để họ có thể tránh được những ảnh hưởng tiêu cực? European Commission (2017), với báo cáo về tác động kinh tế của thỏa thuận thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu (EƯ) và Việt Nam. Mục đích của bài báo cáo này là đưa ra đánh giá toàn diện về tác động kinh tế dự kiến của hiệp định thương mại giữa EƯ và Việt Nam, sử dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE) để định lượng các tác động đến toàn nền kinh tể. Kết quả cho thấy tác động tích cực của FTA giữa Việt Nam và EƯ. Đối với EU, hiệp định thể hiện một bước đệm quan trọng hướng tới việc đảm bảo quan hệ đối tác thương mại và đầu tư mạnh mẽ hơn với một khu vực ASEAN năng động và mở đường cho các thỏa thuận trong tương lai với các nước ASEAN khác.
Đối với Việt Nam, đây là một sự nỗ lực không ngừng và là một bước tiến quan trọng đế củng cố quá trình hội nhập lâu dài của mình trong nền kinh tế toàn cầu. Bằng cách thúc đẩy liên kết thương mại và đầu tư với khối thương mại lớn nhất thế giới, Việt Nam đảm bảo rằng mở cửa tiếp tục là trọng tâm của chiến lược phát triển để đưa đất nước trờ thành nền kinh tế có thu nhập trung bình. Tác giả cũng cho rằng xuất khấu của EƯ sang Việt Nam ước tính tàng khoảng 29%, ở chiều ngược lại, xuất khẩu của Việt Nam sang EƯ ước tính tăng khoảng 18%. Những con số này tương ứng với mức tăng xuất khẩu 8 tỷ Euro vào năm 2035 đối với các doanh nghiệp EƯ, trong khi xuất khấu cùa Việt Nam sang EU dự kiến sẽ tăng 15 tỷ Euro.
Tuy nhiên, phân tích định lượng được trình bày trong bài báo cáo này vẫn chưa tính đến các lợi ích khác như trong lĩnh vực đầu tư, IPR và mua sắm công giữa các nền kinh tế EU và Việt Nam. Julian Maluck, Nicole Glanemann và Reik V. Donner (2018), nghiên cứu tác động của các hiệp định thương mại song phương (BTA) đến tính liên kết thương mại toàn cầu. Nhóm tác giả phân tích 107 các BTA được ký kết từ năm 1995 đến 2008 để mô tả dòng chảy thương mại trung gian quốc gia và quốc tế giừa 26 lĩnh vực công nghiệp của 189 quốc gia.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của các BTA đến tính liên kết thương mại toàn cầu, hầu hết các thỏa thuận thương 6 mại song phương không chỉ làm gia tăng khôi lượng thương mại giữa các quôc gia tham gia mà còn tác động đến các quốc gia liên quan cung cấp đầu vào sản xuất cho họ. Tuy nhiên, Trung Quốc là thành viên duy nhất trong khối G20 có chỉ số tác động tiêu cực của BTA đến liên kết thương mại toàn cầu. Điều đó cho thấy động cơ đàm phán BTA của Trung Quốc có thể bao gồm mục tiêu chiến lược là tăng cường ảnh hưởng kinh tế và chính trị giữa các đối tác thương mại. Các công trình nghiên cứu trong nước về tác động của hiệp định thương mại tự do đối với nền kinh tế của Việt Nam.
Vũ Thanh Hương (2017), nghiên cứu tác động tới thương mại hàng hóa giữa hai bên trong Hiệp định EVFTA. Dựa trên các lý luận về FTA, lý thuyết hội nhập kinh tế quốc tế và nghiên cứu thực nghiệm về tác động của FTA, tác giá đã có những xây dựng được khung phân tích tác động tiềm tàng của EVFTA đối với thương mại hàng hóa giữa Việt nam và Liên minh châu Âu (EU). Đồng thời, tác giả cũng đã phân tích được những thay đối trong kim ngạch, tỷ trọng, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu trong thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và EƯ. Từ đó tác giả đã phân nhóm được các nhóm hàng hóa và thị trường tiềm năng có thể giúp Việt Nam có những định hướng và chiến lược phù hợp để xây dựng và phát triển một mô hình hàng hóa và thị trường tại EƯ trong thời gian tới.
Các phương pháp phân tích trong bài viết là phương pháp định tính và phương pháp định lượng từ việc sử dụng các mô hình SMART, mô hình GCE và các công cụ nghiên cứu khác để đưa ra dự đoán về tác động của Hiệp định EVFTA đến tổng thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và EƯ. Bên cạnh đó tác giả cũng đã đưa ra những phân tích của mình về tác động của Hiệp định tới thương mại hàng hóa của 18 nhóm ngành và 2 nhóm hàng hóa được quan tâm là dược phẩm và dệt may. Từ đó tác giả đã rút ra nhận xét về những cơ hội và khó khăn thách thức của EVFTA đến Việt Nam và đưa ra được những hàm ý có tính khoa học và thực tiễn cao cho cả Chính phủ và những doanh nghiệp Việt Nam đã, đang và sẽ tham gia kinh doanh tại thị trường EƯ. Đồ Thị Thanh Mai và Trần Thị Trang (2018) với nghiên cứu các tác động tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khi tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do 7 thê hệ mới.
Tác giả bài nghiên cứu đã chỉ ra răng những thỏa thuận có chiêu sâu và những ràng buộc khắt khe hơn trong các điều khoản của FTA thế hệ mới sẽ mang lại nhiều lợi ích lâu dài cho các nước thành viên. Điều đó được thế hiện ở việc gia tăng các nguồn vốn đầu tư vào khoa học và công nghệ, quan hệ bình đắng giữa các nước thành viên, cải thiện những bất cập về chính sách, thể chế hành chính và môi trường kinh doanh.Tuy nhiên, bên cạnh nhừng lợi ích mà FTA thế hệ mới mang lại thì đâu đó vẫn luôn hiện hữu những khó khăn, thách thức buộc Chính phủ và các tổ chức, các doanh nghiệp phải nỗ lực tìm hiểu để đảm bảo thực hiện theo đúng cam kết đã đề ra. Từ đó tác giả đã đưa ra một số vấn đề mà Việt Nam cần quan tâm để phát huy những tác động của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mang lại. Nguyễn Hà Phương (2019) với công trình nghiên cứu về tác động của Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Australia - New Zealand (AANZFTA) đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Australia và New Zealand, tác giả đã có những đóng góp mới trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, về phương diện lý luận, tác giả đà xây dựng được khung lý thuyết liên quan đến tác động của FTA đến thương mại hàng hóa giữa các quốc gia thông qua các lý thuyết về lợi thế so sánh, lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu và tác động đến quy trình sản xuất, hiệu ứng động, tạo lập và chuyển hướng thương mại.
về phương diện thực tiễn, luận án của đã phân tích được những thay đổi trong thương mại hàng hỏa, cơ cấu ngành, tạo lập và chuyển hướng thương mại giữa Việt Nam với Australia và New Zealand, từ đó rút ra nhận xét về những tác động tích cực cũng như những mặt mà Việt Nam chưa đạt được trong quá trình thực thi Hiệp định AANZFTA. Bài nghiên cứu đà đưa ra được các dự báo đến năm 2025 về triển vọng trong quan hệ thương mại giừa Việt Nam với Úc và New Zealand. Từ đó tác giả đề xuất được sáu hàm ý cho các cấp quản lý, các doanh nghiệp Việt Nam đã, đang và sẽ tham gia kinh doanh, đầu tư vào hai thị trường này đề tận dụng được tối đa những lợi ích mà hiệp định này mang lại. Các nghiên cún về thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và các nước thành viên trong CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chính thức có hiệu lực từ ngày 30-12-2018 với 6 nước thành viên, cho đến ngày 14- 8 1-2019, Việt Nam là quôc gia thứ 7 tiêp sau 6 nước phê chuân CPTPP.