Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng quản lý tài nguyên rừng tại Việt Nam trong những thập kỷ qua ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình quốc doanh sang cơ chế quản trị đa chủ thể. Theo các thống kê lâm nghiệp giai đoạn trước năm 2010, khoảng 25% diện tích đất rừng trên toàn quốc được giao cho các hộ gia đình cá thể và chỉ 1% được giao trực tiếp cho cộng đồng dân cư thôn bản quản lý, trong khi phần lớn diện tích rừng tự nhiên giàu trữ lượng vẫn chịu sự kiểm soát chặt chẽ của các công ty lâm nghiệp nhà nước. Tại khu vực Tây Nguyên, việc triển khai các sáng kiến tài chính môi trường như Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP và Chương trình Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng giai đoạn sẵn sàng từ năm 2008 đã tạo ra những thay đổi căn bản trong cấu trúc tiếp cận tài nguyên.

Tuy nhiên, các chính sách lâm nghiệp vĩ mô thường giả định hộ gia đình là một đơn vị kinh tế đồng nhất dưới sự đại diện của chủ hộ nam giới theo chế độ phụ hệ. Cách tiếp cận này tạo ra khoảng trống lớn tại các cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa theo chế độ mẫu hệ. Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề tiếp cận tài nguyên từ lăng kính giới, phân tích sự tương tác phức tạp giữa giới tính, tộc người, độ tuổi và cấu trúc quyền lực xã hội trong việc phân chia lợi ích lâm nghiệp.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là làm sáng tỏ phương thức cộng đồng mẫu hệ K'ho quản lý, sử dụng đất nông nghiệp và lâm nghiệp dưới tác động của các chính sách bảo tồn cấp quốc gia và toàn cầu. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại làng Kala Tongu, xã Bảo Thuận, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng – địa bàn quản lý trực tiếp 500 ha rừng cộng đồng, với dữ liệu thực địa chuyên sâu được thu thập qua 4 đợt nghiên cứu trong giai đoạn 2015 - 2016. Nghiên cứu mang ý nghĩa then chốt trong việc cung cấp cơ sở khoa học để nâng cao tỷ lệ tham gia thực chất của phụ nữ dân tộc thiểu số lên mức 40-50%, bảo đảm an toàn xã hội và tối ưu hóa hiệu quả chi trả giảm phát thải carbon.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng một khung phân tích liên ngành vững chắc thông qua việc dung hợp hai nền tảng lý thuyết chính: Lý thuyết Tiếp cận của Ribot và Peluso ban hành năm 2003 và Sinh thái Chính trị Nữ quyền do Rocheleau và cộng sự đề xuất năm 1996. Lý thuyết Tiếp cận định nghĩa tiếp cận là khả năng hưởng lợi từ các sự vật, bao gồm cả các đối tượng vật chất, thể chế và biểu tượng văn hóa. Tác giả phân tích hai nhóm cơ chế tiếp cận cốt lõi: cơ chế dựa trên quyền pháp lý và quyền tập quán, song hành cùng cơ chế dựa trên cấu trúc quan hệ xã hội như tri thức, mạng lưới thân tộc, vốn và thị trường.

Sinh thái Chính trị Nữ quyền bổ sung chiều kích giới sâu sắc vào nghiên cứu sinh thái, tập trung vào ba trụ cột: quyền và trách nhiệm môi trường theo giới, tri thức môi trường theo giới, và sự phản kháng môi trường ở cấp độ vi mô. Khung lý thuyết này áp dụng cách tiếp cận giao thoa, xem xét giới trong mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với tộc người, tầng lớp xã hội và độ tuổi. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng khái niệm chính trị đời thường của Kerkvliet đề xuất năm 2005 để phân tích cách người dân bản địa âm thầm thương lượng, thích ứng hoặc tái cấu trúc các quy định lâm nghiệp của Nhà nước trong đời sống thường nhật.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp dân tộc học kết hợp thiết kế ca nghiên cứu lồng ghép đa cấp độ nhằm nắm bắt thực tế khách quan từ cấp Trung ương tại Hà Nội, cấp tỉnh tại Đà Lạt và cấp làng bản tại Kala Tongu. Tổng quy mô mẫu nghiên cứu tại thực địa bao gồm 88 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân và nhóm, trong đó 81 cuộc phỏng vấn được ghi âm đầy đủ và 7 cuộc trao đổi không ghi âm nhằm bảo đảm tính bảo mật cho người cung cấp thông tin. Có 14 đối tượng chủ chốt được phỏng vấn lặp lại từ 2 đến 3 lần.

Phương pháp chọn mẫu có mục đích kết hợp kỹ thuật quả bóng tuyết được áp dụng để bao quát các nhóm nhân khẩu học: 53 người dân tộc K'ho, 7 cán bộ và chức sắc người Kinh; phân bổ giới tính gồm 28 nam và 32 nữ; cơ cấu độ tuổi gồm 13 người từ 20 đến 35 tuổi, 27 người từ 36 đến 50 tuổi và 20 người trên 50 tuổi. Nghiên cứu triển khai phương pháp nghiên cứu hình ảnh có sự tham gia với 6 thành viên địa phương gồm 3 nam và 3 nữ trong khung thời gian 3 tháng liên tục. Phương pháp phân tích mã hóa định tính chuyên sâu được lựa chọn thay vì khảo sát bảng hỏi thống kê đơn thuần, nhằm nhận diện các quan hệ quyền lực tiềm ẩn, rào cản văn hóa và chiến lược thương lượng tài nguyên tinh tế của người dân bản địa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu phát hiện sự xung đột thể chế rõ rệt giữa chế độ thừa kế mẫu hệ truyền thống của người K'ho và quy trình hành chính phụ hệ của Nhà nước. Dù phụ nữ K'ho là chủ thể thừa kế hợp pháp đối với đất ruộng lúa nước và đất vườn cà phê, quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thường chỉ ghi tên một người là chủ hộ nam giới. Điều này làm suy giảm khoảng 35% quyền tự quyết chính thức của phụ nữ trong các giao dịch tín dụng và chuyển nhượng đất đai.

Thứ hai, cấu trúc quản trị rừng cộng đồng tồn tại sự thiên lệch giới nghiêm trọng. Đối với 500 ha rừng cộng đồng nhận khoán bảo vệ, Ban Quản lý Rừng Cộng đồng thôn và các tổ tuần tra rừng có 100% vị trí điều hành do nam giới đảm nhiệm. Ngược lại, phụ nữ là nhóm lao động chính thực hiện việc thu hái lâm sản ngoài gỗ và canh tác xen canh nông lâm nhưng lại bị loại trừ khỏi các buổi tập huấn kỹ thuật lâm sinh.

Thứ ba, sự thiếu minh bạch trong cơ chế phân bổ nguồn thu nhập từ rừng tạo ra bất bình đẳng cục bộ. Mức chi trả bảo vệ rừng đạt khoảng 300.000 đến 400.000 đồng trên một héc-ta mỗi năm chủ yếu được chuyển giao trực tiếp cho nam giới trong các tổ tuần tra. Nguồn tài chính này ít khi được tái đầu tư vào các hoạt động sinh kế do phụ nữ quản lý, dẫn đến sự suy giảm động lực bảo vệ rừng dài hạn.

Thứ tư, người dân địa phương vận dụng linh hoạt các chiến lược chính trị đời thường để duy trì quyền tiếp cận đất đai. Khoảng 40% hộ gia đình được phỏng vấn đã sử dụng mạng lưới quan hệ thân tộc mẫu hệ và liên kết không chính thức với cán bộ lâm nghiệp cơ sở để đàm phán việc chuyển đổi đất rừng nghèo kiệt sang trồng cây cà phê Catimor, bảo đảm an ninh lương thực và thu nhập gia đình.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  SO SÁNH TIẾP CẬN TÀI NGUYÊN THEO GIỚI                  |
+------------------------------------+------------------------------------+
|         NAM GIỚI BẢN ĐỊA           |          PHỤ NỮ BẢN ĐỊA            |
+------------------------------------+------------------------------------+
| - Đại diện pháp lý hộ gia đình     | - Chủ thể thừa kế đất đai mẫu hệ   |
| - Nắm giữ 100% ban quản lý rừng    | - Thu hái chính lâm sản ngoài gỗ   |
| - Tiếp cận 65% thông tin kỹ thuật  | - Tiếp cận dưới 25% tập huấn REDD+ |
| - Kiểm soát tiền nhận khoán PFES   | - Tự chủ đàm phán sinh kế nương rẫy|
+------------------------------------+------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Các phát hiện phản ánh nguyên nhân sâu xa từ việc các chương trình phát triển quốc tế và cơ quan quản lý nhà nước nhìn nhận vấn đề giới một cách cơ học. Tiêu chí giới thường bị thu hẹp thành chỉ tiêu số lượng phụ nữ tham gia cuộc họp ở mức 30% đến 40%, thay vì trao quyền thực chất trong quá trình ra quyết định.

Dữ liệu nghiên cứu khi được tổng hợp qua ma trận phân tích quyền tiếp cận và biểu đồ tương tác thể chế cho thấy sự đứt gãy thông tin giữa các cấp. Tỷ lệ phụ nữ K'ho nắm bắt đầy đủ các nguyên tắc vận hành của cơ chế chi trả giảm phát thải chỉ đạt dưới 25%, thấp hơn rất nhiều so với mức 65% ở nam giới. Kết quả này tương đồng với các công trình nghiên cứu về phân định lãnh thổ tại Đông Nam Á, khẳng định rằng các dự án bảo tồn carbon có nguy cơ làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng nếu không được đặt trong bối cảnh văn hóa bản địa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng. Cơ quan quản lý nhà nước cần thực hiện bắt buộc ghi tên cả vợ và chồng hoặc ghi tên người phụ nữ trực tiếp thừa kế đất đai theo tập quán mẫu hệ trên các văn bản pháp lý. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh cần hoàn thành mục tiêu 100% hợp đồng nhận khoán phản ánh đúng chủ thể quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2026 - 2028.

Thứ hai, thiết lập hạn ngạch giới bắt buộc trong bộ máy quản lý tài nguyên cơ sở. Ủy ban nhân dân cấp huyện và các ban quản lý dự án cần quy định tỷ lệ tối thiểu 40% đại diện là phụ nữ dân tộc thiểu số trong Ban Quản lý Rừng Cộng đồng và tổ tuần tra bảo vệ rừng. Chỉ tiêu này cần được hoàn thành tại tất cả các xã thí điểm trước quý IV năm 2027.

Thứ ba, tái cấu trúc phương thức chi trả dịch vụ môi trường và quản lý quỹ sản xuất thôn bản. Ban điều phối chương trình cần triển khai cơ chế chi trả trực tiếp qua tài khoản đồng sở hữu hoặc phân bổ ngân sách theo nhóm sinh kế do phụ nữ làm chủ. Đặt mục tiêu 50% nguồn vốn vay ưu đãi phát triển nông lâm kết hợp được giải ngân trực tiếp cho lao động nữ trong chu kỳ 2026 - 2030.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống thông tin an toàn xã hội REDD+ cấp quốc gia có lồng ghép yếu tố giao thoa. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần phối hợp với các tổ chức quốc tế ban hành hướng dẫn đánh giá rủi ro giới và đất đai trong vòng 12 tháng tới, tích hợp đầy đủ các tiêu chuẩn bảo vệ quyền lợi cộng đồng bản địa vào Kế hoạch Hành động REDD+ cấp tỉnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp và cán bộ quản lý tài nguyên tại các bộ, ngành và Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh Tây Nguyên. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát chính sách giao đất giao rừng, tích hợp bình đẳng giới vào 100% kế hoạch hành động lâm nghiệp cấp tỉnh.

Nhóm 2: Chuyên gia phát triển quốc tế và các tổ chức phi chính phủ đang điều phối các dự án bảo tồn đa dạng sinh học và giảm phát thải. Khung phân tích FPE trong luận văn giúp tối ưu hóa việc thiết kế các biện pháp bảo đảm an toàn xã hội trên diện tích 500 ha rừng cộng đồng và nhân rộng ra các vùng lân cận.

Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Phát triển Quốc tế, Lâm nghiệp Xã hội, Nhân học và Xã hội học Môi trường. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp dân tộc học, kỹ thuật Photovoice và cách tiếp cận 88 mẫu phỏng vấn định tính.

Nhóm 4: Cán bộ khuyến nông, lâm nghiệp cơ sở và chính quyền địa phương cấp huyện, xã. Tài liệu cung cấp các giải pháp cụ thể nhằm tổ chức tham vấn cộng đồng hiệu quả, hòa giải xung đột đất đai và thúc đẩy sự hợp tác bền vững giữa người dân bản địa với các công ty lâm nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nghiên cứu giới trong cộng đồng mẫu hệ K'ho lại đóng vai trò quan trọng đối với các dự án REDD+? Dù văn hóa K'ho trao quyền thừa kế tài sản cho phụ nữ, các dự án lâm nghiệp hiện đại thường làm việc thông qua cấu trúc hành chính phụ hệ. Sự thiếu đồng bộ này khiến phụ nữ bị gạt ra khỏi các quyết định kỹ thuật, làm suy giảm hiệu quả quản lý 500 ha rừng thí điểm.

Sự kết hợp giữa Sinh thái Chính trị Nữ quyền và Lý thuyết Tiếp cận mang lại ưu thế gì? Lý thuyết Tiếp cận làm rõ các cơ chế hưởng lợi từ tài nguyên dựa trên quyền và các mối quan hệ quyền lực, trong khi Sinh thái Chính trị Nữ quyền bổ sung chiều sâu về giới và tính giao thoa văn hóa. Khung lý thuyết này giúp giải thích toàn diện hành vi ứng xử của 53 người dân K'ho trong mẫu nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu hình ảnh Photovoice hỗ trợ thu thập dữ liệu như thế nào? Dự án Photovoice với sự tham gia của 6 người dân gồm 3 nam và 3 nữ đã ghi lại trực quan các ranh giới đất đai và tri thức bản địa. Phương pháp này giúp tác giả vượt qua rào cản ngôn ngữ và sự nhạy cảm chính trị trong suốt 4 đợt khảo sát điền dã.

Sự trùng lặp giữa chính sách PFES và chương trình REDD+ tại địa phương gây ra bất cập gì? Người dân Kala Tongu đã nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng từ năm 2011 nhưng thường hiểu nhầm REDD+ là một dự án xóa đói giảm nghèo đơn thuần. Việc thiếu hụt các tiêu chí đánh giá dựa trên kết quả giảm phát thải carbon làm giảm tính bền vững của các cam kết bảo vệ rừng.

Làm thế nào để nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ vùng đệm rừng tự nhiên? Cần chuyển đổi từ việc đáp ứng chỉ tiêu 30% số lượng tham dự sang trao quyền quyết định tài chính. Điều này đòi hỏi việc thành lập các tổ tiết kiệm tự quản, giải ngân 50% nguồn vốn vay nông lâm kết hợp cho nữ giới và tổ chức tập huấn bằng tiếng mẹ đẻ ngoài khung giờ lao động từ 7 giờ đến 16 giờ.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ xung đột căn bản giữa tập quán thừa kế mẫu hệ K'ho và hệ thống quản trị lâm nghiệp phụ hệ từ trên xuống của Nhà nước.
  • Chứng minh vai trò quyết định của các cơ chế tiếp cận phi chính thức và mạng lưới thân tộc trong việc bảo đảm an ninh sinh kế hộ gia đình dưới tán rừng.
  • Đóng góp bộ dữ liệu thực chứng chuyên sâu thông qua 88 cuộc phỏng vấn định tính và 4 đợt khảo sát dân tộc học dài ngày tại Tây Nguyên.
  • Khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng hệ thống an toàn xã hội REDD+ có tính đến yếu tố giao thoa giữa giới, tộc người và vị thế xã hội.
  • Cung cấp khung khuyến nghị 4 nhóm giải pháp thể chế và phân bổ tài chính rõ ràng cho giai đoạn phát triển lâm nghiệp 2026 - 2030.

Công trình nghiên cứu tạo nền tảng học thuật và thực tiễn vững chắc cho việc hoàn thiện chính sách lâm nghiệp bền vững gắn liền với công bằng xã hội tại Việt Nam đến năm 2030. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và các tổ chức phát triển quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu và ứng dụng các phát hiện nghiên cứu vào quá trình xây dựng chính sách thực tiễn.