Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Tác động của hình thức Giao tiếp bằng lời nói đến khả năng lãnh đạo" do sinh viên Phan Thanh Trúc thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Đinh Thu Quỳnh tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh (chuyên ngành Quản trị kinh doanh, mã số 52340101). Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh môi trường học tập bậc đại học có sự thay đổi lớn so với các bậc học phổ thông, trong đó hoạt động học tập theo nhóm đòi hỏi khối lượng công việc phức tạp, tính trách nhiệm và yêu cầu về kết quả đầu ra cao hơn. Đối với sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm nhất và các sinh viên đảm nhận vai trò trưởng nhóm, việc hòa nhập vào môi trường mới và dẫn dắt đội ngũ gặp phải nhiều rào cản giao tiếp. Tác giả dẫn chứng nhận định từ nghiên cứu của Benaiges (2000), theo đó 80% tương tác giữa các cá nhân được thực hiện thông qua hình thức giao tiếp bằng lời nói nhằm đạt được hiệu quả công việc. Tuy nhiên, trong thực tế học tập, phần lớn sinh viên có xu hướng nói theo suy nghĩ chủ quan mà ít chú trọng đến tác động ngôn từ đối với người nghe, dễ dẫn đến hiểu lầm, xung đột nội bộ và suy giảm hiệu suất nhóm.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định rõ:
- Mục đích tổng quát: Xác định và làm rõ giá trị của hình thức giao tiếp bằng lời nói trong quá trình học tập; đánh giá mức độ tác động của hình thức này đối với mối quan hệ giữa trưởng nhóm và các thành viên, từ đó thúc đẩy hiệu quả năng lực lãnh đạo.
- Mục đích cụ thể: Khảo sát mức độ tự đánh giá và hiểu biết của sinh viên Đại học Ngân hàng về kỹ năng giao tiếp bằng lời nói; cung cấp định hướng sử dụng ngôn từ phù hợp khi thảo luận nhóm; hỗ trợ cải thiện tương tác giữa lãnh đạo và thành viên trong cả các nhóm làm việc mới lẫn nhóm đã thành lập từ trước.
Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa nhằm giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- a) Mức độ hiểu biết về khả năng lãnh đạo và hình thức giao tiếp bằng lời nói của đối tượng khảo sát như thế nào?
- b) Những yếu tố chính nào của hình thức giao tiếp bằng lời nói có tác động trực tiếp đến khả năng lãnh đạo?
- c) Những giải pháp và kiến nghị nào cần được đề xuất để nâng cao năng lực sử dụng lời nói cho người lãnh đạo nhóm?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của phương thức giao tiếp bằng lời nói đến năng lực lãnh đạo thông qua hành vi của trưởng nhóm ở 3 giai đoạn: trước khi thảo luận, trong khi thảo luận và sau khi thảo luận.
- Khách thể khảo sát: 300 sinh viên năm cuối (niên khóa 2014 - 2018) thuộc các khoa Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng và Kinh tế Quốc tế của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh.
- Phạm vi không gian: Hai cơ sở đào tạo của nhà trường tại số 36 Tôn Thất Đạm (Phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1) và số 56 Hoàng Diệu 2 (Phường Linh Chiểu, TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh).
- Phạm vi thời gian: Quy trình nghiên cứu thực tế diễn ra từ ngày 23/01/2019 đến ngày 05/04/2019 (giai đoạn phát phiếu khảo sát từ 15/02/2019 đến 15/03/2019). Khóa luận được hoàn thiện và bảo vệ vào tháng 07/2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý thuyết, tác giả hệ thống hóa các quan điểm học thuật về khả năng lãnh đạo từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tiêu biểu là định nghĩa của Stogdill (1950, 1957) coi lãnh đạo là quá trình tác động định hướng nhóm đạt mục tiêu chung; quan điểm quyền lực của Zaleznik (1977); lý thuyết tương tác hai chiều giữa người lãnh đạo và người đi theo của Bass (1990) và Rost (1993). Về bản chất giao tiếp, nghiên cứu dựa trên định nghĩa của Keyton (2011) và mô hình truyền thông 7 yếu tố của Fred C. Lunenburg (2010), bao gồm: Người gửi (Sender), Mã hóa (Encoding), Thông điệp (Message), Kênh truyền (Medium), Tiếng ồn (Noise), Người nhận (Receiver), Giải mã (Decoding) và Phản hồi (Feedback).
Mối liên hệ giữa lãnh đạo và giao tiếp được củng cố qua các nghiên cứu của Mintzberg (1973), Fairhurst (1993), Witherspoon (1997), Awamleh và Gardner (1999), Clutterbuck và Hirst (2002), Gareau (1999) và Amy Lucas (2017). Khung phân tích trọng tâm của khóa luận xác lập 6 thành phần cơ bản của giao tiếp bằng lời nói:
- Ngữ điệu (Intonation): Dựa trên Hart và cộng sự (1990), Francis Nolan, Braun B. (2011) và Julia (2010) về việc biến thiên cao độ để phản ánh cấu trúc thông tin, tăng giảm giai điệu khi biểu đạt sự tán thành hoặc phê bình.
- Giọng điệu hay tông giọng (Tone): Dựa trên Fernando Trujillo, Carl T. (2013) và Anne Cohen (2017) về sự phản ánh thái độ và tác động tiêu cực của việc lạm dụng âm lượng lớn mang tính áp đặt.
- Tốc độ nói (Speech pace/rate): Dựa trên Ray (1986), Miller và cộng sự (1976), LaBarbera và MacLachlan (1979), Murphey (2003) và Speaker Hub (2017) về mối liên hệ giữa nhịp độ nói nhanh để cung cấp dữ liệu và nhịp độ nói chậm, có ngắt nghỉ để xử lý thông tin trọng tâm.
- Cường độ giọng nói (Voice intensity): Dựa trên Rodero E. và Talya về việc sử dụng âm lượng thích hợp để nhấn mạnh và truyền đạt năng lượng thuyết phục.
- Từ ngữ (Words): Dựa trên tài liệu giảng dạy kỹ năng giao tiếp của Phạm Văn Tuân (2013) và Emily Grossman (2015) về hiệu quả của việc dùng từ ngữ lịch sự và các cấu trúc đơn giản để diễn giải ý tưởng phức tạp.
- Phong cách nói (Speech style): Dựa trên Kent và Read (1992), Melissa A. và Jody Urquhart (2012) về phong cách hài hước và sự thẳng thắn, rõ ràng trong tương tác.
Tác giả cũng điểm luận và so sánh với 4 công trình nghiên cứu thực nghiệm tiền đề: nghiên cứu của Pamela A. về kỹ năng giao tiếp bằng lời của bác sĩ tác động 27% đến sự hài lòng của bệnh nhân; nghiên cứu của Dammak và Azaiez (2015) về giao tiếp lời nói của giáo viên thể chất đối với học sinh nam và nữ; nghiên cứu của Bianca M. về cử chỉ tay của người lãnh đạo; nghiên cứu của Birgit Schyns và Gisela Mohr (2004) về hành vi phi ngôn ngữ trong lãnh đạo. Qua đó, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các đề tài trước chủ yếu tập trung vào giao tiếp phi ngôn ngữ hoặc bối cảnh y tế, thể thao, chưa phân tích chi tiết tác động của giao tiếp lời nói trong lãnh đạo nhóm sinh viên.
Phương pháp nghiên cứu được xác định là kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng, sử dụng mô hình nghiên cứu mô tả và suy luận logic (lý luận suy diễn). Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc gồm 35 câu hỏi (thang đo Likert 5 mức độ từ "Hoàn toàn không đồng ý" đến "Hoàn toàn đồng ý"), phân chia theo thông tin chung và hành vi của trưởng nhóm trước, trong và sau thảo luận. Quy trình lấy mẫu được thực hiện ngẫu nhiên với cỡ mẫu n = 300 sinh viên năm cuối. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm bảng tính Microsoft Excel thông qua kỹ thuật thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) và tính giá trị trung bình có trọng số.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 1 thiết lập khung tổng quan cho đề tài. Tác giả phân tích tính cấp thiết của kỹ năng lãnh đạo và vai trò của giao tiếp bằng lời nói trong bối cảnh học đại học, nơi mô hình làm việc nhóm diễn ra thường xuyên nhưng sinh viên thường thiếu kỹ năng truyền đạt, dẫn đến xung đột hoặc suy giảm hiệu suất. Chương này công bố mục đích tổng quát, mục đích cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, xác định đối tượng nghiên cứu thuộc 3 giai đoạn của cuộc thảo luận nhóm, phạm vi thực hiện tại 2 cơ sở của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh với sinh viên năm cuối khóa 2014 - 2018, nêu ý nghĩa thực tiễn đối với sinh viên các năm 1, 2, 3 và trình bày bố cục 5 chương của khóa luận.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về khả năng lãnh đạo và giao tiếp bằng lời nói
Chương 2 cung cấp nền tảng học thuật toàn diện. Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa về khả năng lãnh đạo (Stogdill, Zaleznik, Bass, Rost); phân tích bản chất của giao tiếp thông qua mô hình truyền thông 7 thành tố của Fred C. Lunenburg (2010); làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa phong cách lãnh đạo và năng lực giao tiếp. Trọng tâm của chương là việc định nghĩa và phân rã giao tiếp bằng lời nói thành 6 thành phần: ngữ điệu, giọng điệu, tốc độ nói, cường độ giọng nói, từ ngữ và phong cách nói. Tiếp đó, tác giả phân tích mối liên hệ giữa lời nói và khả năng lãnh đạo thông qua sức thuyết phục (Amy Lucas, Castelao, Matt M.), đồng thời tổng thuật 4 nghiên cứu thực nghiệm liên quan (Pamela A.; Dammak & Azaiez; Bianca M.; Birgit Schyns & Gisela Mohr) để xác định khoảng trống học thuật cần bổ khuyết.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu qua 3 mốc thời gian: từ 23/01 đến 15/02/2019 (chuẩn bị đề xuất và xây dựng bảng hỏi); từ 15/02 đến 15/03/2019 (phát phiếu khảo sát trực tiếp); từ 16/03 đến 05/04/2019 (nhập liệu, xử lý và phân tích số liệu). Thiết kế nghiên cứu áp dụng mô hình mô tả một chiều nhằm ghi nhận trung thực ý kiến tự đánh giá của đối tượng. Bảng hỏi gồm 35 câu hỏi chia thành hai phần: câu hỏi chung về tần suất, kinh nghiệm và các câu hỏi chuyên sâu gắn với 3 giai đoạn thảo luận nhóm. Mẫu khảo sát được chọn ngẫu nhiên gồm 300 sinh viên năm cuối thuộc 3 chuyên ngành (Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế Quốc tế) tại 2 cơ sở của nhà trường. Phương pháp xử lý dữ liệu sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tính toán tỷ lệ phần trăm và trung bình có trọng số.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 công bố kết quả thống kê mô tả và phân tích định tính đối với mẫu khảo sát 300 sinh viên. Tác giả lần lượt trình bày dữ liệu về kinh nghiệm đảm nhận vai trò trưởng nhóm, mức độ đánh giá tầm quan trọng của giao tiếp lời nói và tần suất chú ý đến việc lựa chọn phương thức này. Tiếp theo, chương đi sâu kiểm định quan điểm của sinh viên đối với 6 yếu tố giao tiếp:
- Ngữ điệu: đánh giá việc dùng ngữ điệu cao khi khen ngợi (câu hỏi 25) và ngữ điệu trầm khi nhắc nhở sai lầm (câu hỏi 26).
- Giọng điệu: khảo sát phản ứng đối với hành vi dùng giọng nói lớn để ra lệnh (câu hỏi 7).
- Tốc độ nói: đánh giá việc điều chỉnh tốc độ theo nội dung (câu hỏi 2) và thói quen nói nhanh để truyền tải nhiều thông tin (câu hỏi 15).
- Cường độ giọng nói: khảo sát mức độ tán thành việc nói to, rõ để nhấn mạnh luận điểm chính (câu hỏi 9).
- Từ ngữ: phân tích việc sử dụng các từ ngữ lịch sự, chuẩn mực (câu hỏi 13) và việc dùng từ ngữ đơn giản, gần gũi.
- Phong cách nói: đo lường tỷ lệ chấp nhận phong cách nói hài hước mở đầu thảo luận (câu hỏi 4) và phong cách nói thẳng thắn khi giải quyết trách nhiệm (câu hỏi 23).
Chương cũng phân tích các yếu tố hỗ trợ khác như chuẩn bị trước cuộc họp, hạn chế tiếng lóng và duy trì lập luận logic.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương 5 tóm tắt các kết luận rút ra từ nghiên cứu thực nghiệm, khẳng định vai trò chi phối của 6 thành phần giao tiếp lời nói đối với hiệu quả lãnh đạo nhóm. Tác giả thẳng thắn chỉ ra 4 nhóm hạn chế trong thiết kế nghiên cứu: giới hạn phạm vi sinh viên năm cuối một trường đại học, hạn chế về bối cảnh khảo sát (chỉ dừng ở thảo luận nhóm), nhược điểm của phương pháp điều tra tự đánh giá và sự mất cân đối giới tính của mẫu. Trên cơ sở đó, chương đưa ra 2 nhóm kiến nghị cụ thể đối với Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh nhằm bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp cho sinh viên.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết từ mẫu khảo sát 300 sinh viên năm cuối Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh. Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ số thực nghiệm tiêu biểu trong chương 4 của văn bản:
| Nội dung khảo sát |
Tiêu chí / Mức độ đánh giá |
Số lượng (người) |
Tỷ lệ (%) |
| Kinh nghiệm làm trưởng nhóm |
4 - 7 lần 1 - 3 lần (2 - 3 lần) Trên 7 lần Chưa từng làm trưởng nhóm |
92 90 46 72 |
31% 30% 24% 15% |
| Đánh giá tầm quan trọng của lời nói |
Mức rất cao (80 - 100%) Mức khá (50 - 79%) Mức trung bình (30 - 49%) Mức thấp (0 - 29%) |
Chưa nêu số tuyệt đối Chưa nêu số tuyệt đối Chưa nêu số tuyệt đối 10 |
50% 30% 17% 3% |
| Tần suất chuẩn bị giao tiếp lời nói |
Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Chưa từng |
Chưa nêu số tuyệt đối Chưa nêu số tuyệt đối Chưa nêu số tuyệt đối Chưa nêu số tuyệt đối |
62% 26% 7% 5% |
| Sử dụng ngữ điệu cao khi khen ngợi |
Hoàn toàn đồng ý Đồng ý Trung lập Không đồng ý / Hoàn toàn không đồng ý |
106 Đa số tán thành 47 11 (8 KĐY, 3 HTKĐY) |
Chưa tính % riêng Chưa tính % riêng Chưa tính % riêng 3,67% |
| Sử dụng ngữ điệu thấp khi nêu lỗi |
Đồng ý Hoàn toàn đồng ý Trung lập Không đồng ý và Hoàn toàn không đồng ý |
119 109 50 22 |
39,67% 36,33% 16,67% 7,33% |
| Trưởng nhóm dùng giọng nói lớn áp đặt |
Không đồng ý Đồng ý Ý kiến trung lập hoặc phản đối khác |
107 54 Chiếm đa số mẫu |
35,67% 18,00% Chưa tính % gộp |
| Điều chỉnh tốc độ nói theo nội dung |
Đồng ý Hoàn toàn đồng ý Trung lập Không đồng ý và Hoàn toàn không đồng ý |
152 89 36 23 |
50,67% 29,67% 12,00% 7,67% |
| Nói nhanh để truyền tải nhiều nội dung |
Không đồng ý Hoàn toàn không đồng ý Đồng ý Hoàn toàn đồng ý |
112 48 73 17 |
37,33% 16,00% 24,33% 5,67% |
| Nói to rõ để nhấn mạnh ý tưởng chính |
Tán thành (Đồng ý và Hoàn toàn đồng ý) |
Hơn 250 |
83% |
| Sử dụng từ ngữ lịch sự, trang trọng |
Đồng ý Hoàn toàn đồng ý Trung lập Không đồng ý Hoàn toàn không đồng ý |
128 104 59 7 2 |
42,6% 34,7% 19,7% 2,3% 0,7% |
| Sử dụng từ ngữ đơn giản, dễ hiểu |
Đồng ý Hoàn toàn đồng ý Trung lập Không đồng ý Hoàn toàn không đồng ý |
134 95 46 16 9 |
44,67% 31,67% 15,33% 5,33% 3,00% |
| Phong cách nói hài hước khi mở đầu |
Hoàn toàn đồng ý Đồng ý Trung lập Không đồng ý và Hoàn toàn không đồng ý |
125 104 50 21 (12 KĐY, 9 HTKĐY) |
41,67% 34,67% 16,67% 7,00% |
| Phong cách nói thẳng thắn khi chỉ lỗi |
Đồng ý Hoàn toàn đồng ý Không đồng ý và Hoàn toàn không đồng ý |
145 73 34 |
48,33% 24,33% 11,33% |
(Ghi chú: Bảng tổng hợp dựa trên các dữ liệu số lượng sinh viên và tỷ lệ phần trăm được công bố rải rác trong các mục phân tích của Chương 4; phần số lượng người được tác giả ghi nhận là "24% (46 sinh viên) và 15% (72 sinh viên)" được trích xuất nguyên văn theo văn bản).
Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất 2 nhóm kiến nghị ứng dụng:
- Đề xuất nhà trường tổ chức hội thảo chuyên đề về giao tiếp bằng lời nói: Định kỳ 2 - 3 lần mỗi năm vào dịp cuối tuần; áp dụng phương pháp thực nghiệm đóng vai (role-playing) với nhóm 5 - 6 sinh viên và một nhóm trưởng tình nguyện để xử lý các tình huống giả định (trình bày ý tưởng, lấy ý kiến thành viên, giải quyết tranh luận).
- Khuyến khích sinh viên thành lập các câu lạc bộ rèn luyện giao tiếp bằng lời nói: Tổ chức các hoạt động tập thể như diễn kịch, thực hành làm chủ ngữ điệu, luyện thanh điều chỉnh cao độ giọng nói; tổ chức các cuộc thi mô phỏng kỹ năng làm việc nhóm và giải quyết xung đột hàng tháng.
Về đóng góp học thuật tự nêu, khóa luận góp phần khắc phục hạn chế của các công trình đi trước khi phần lớn các nghiên cứu về lãnh đạo chỉ tập trung vào giao tiếp phi ngôn ngữ hoặc nghiên cứu giao tiếp lời nói trong ngành y tế và sư phạm thể chất. Khóa luận cung cấp dữ liệu thực tiễn về mối quan hệ giữa 6 thành phần lời nói với hành vi lãnh đạo nhóm của sinh viên khối ngành kinh tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Tác giả tự nhận định 4 hạn chế chính trong thiết kế và triển khai nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu hẹp: Đề tài chỉ thực hiện khảo sát trên đối tượng sinh viên năm cuối của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, chưa mở rộng ra các khóa học khác hoặc các trường đại học khác trên địa bàn, do đó tính khái quát hóa cho toàn bộ sinh viên còn hạn chế.
- Giới hạn về bối cảnh tương tác: Nghiên cứu mới chỉ tập trung phân tích hành vi giao tiếp của người lãnh đạo trong quá trình thảo luận nhóm, chưa theo dõi toàn diện xuyên suốt chu trình làm việc hoặc đi sâu vào quá trình giải quyết xung đột thực tế khi xử lý các nhiệm vụ phức tạp kéo dài.
- Điểm yếu của phương pháp khảo sát tự đánh giá: Dữ liệu thu thập qua bảng câu hỏi có thể chịu tác động chủ quan từ người trả lời (tâm lý e ngại lộ thông tin, câu hỏi nhạy cảm hoặc thiếu nghiêm túc khi tích chọn).
- Mất cân bằng về cơ cấu mẫu: Quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên tại trường Đại học Ngân hàng dẫn đến tỷ lệ sinh viên nữ chiếm đa số trong mẫu khảo sát, có thể tạo ra độ lệch nhận định nghiêng về phía nữ giới.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi ý:
- Thực hiện thêm các cuộc phỏng vấn sâu với các cựu sinh viên đã tốt nghiệp đang đảm nhận vai trò quản lý, trưởng nhóm thực tế tại các doanh nghiệp để thu thập dữ liệu chuyên sâu về môi trường làm việc chuyên nghiệp.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các hoạt động điều hành dự án thực tế thay vì chỉ dừng lại ở các cuộc họp thảo luận học tập.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế Quốc tế và các ngành khoa học xã hội khác khi bước vào môi trường học đại học, giúp nhận thức và rèn luyện các kỹ năng điều hành thảo luận nhóm.
- Người nghiên cứu thực hiện các đề tài khóa luận, tiểu luận về hành vi tổ chức, kỹ năng quản trị, tâm lý học giao tiếp và năng lực lãnh đạo nhóm nhỏ.
- Cán bộ quản lý đào tạo, giảng viên giảng dạy học phần Kỹ năng giao tiếp và Kỹ năng làm việc nhóm trong việc thiết kế các bài tập tình huống, kịch bản đóng vai thực hành.
Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất của tài liệu là hệ thống hóa lý thuyết về 6 thành phần cận ngôn ngữ và ngôn từ trong giao tiếp (ngữ điệu, giọng điệu, nhịp độ, cường độ, từ vựng, phong cách) tại Chương 2, cùng bộ số liệu thống kê thực nghiệm phản ánh thái độ của sinh viên đối với các phong cách giao tiếp lãnh đạo tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận nghiên cứu trên cỡ mẫu bao nhiêu và đối tượng cụ thể là ai?
Nghiên cứu khảo sát 300 sinh viên năm cuối (niên khóa 2014 - 2018) thuộc ba khoa: Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng và Kinh tế Quốc tế của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh tại hai cơ sở: số 36 Tôn Thất Đạm (Quận 1) và số 56 Hoàng Diệu 2 (TP. Thủ Đức).
2. Sáu thành phần cơ bản của hình thức giao tiếp bằng lời nói được tác giả khảo sát là gì?
Sáu thành phần được tác giả hệ thống hóa và đo lường bao gồm: (1) Ngữ điệu (cao độ biến thiên theo cảm xúc), (2) Giọng điệu hay tông giọng (thái độ truyền tải), (3) Tốc độ nói (nhịp độ nhanh, chậm), (4) Cường độ giọng nói (âm lượng to, nhỏ), (5) Từ ngữ (mức độ lịch sự và tính đơn giản), và (6) Phong cách nói (tính hài hước và sự thẳng thắn).
3. Khảo sát thực tế cho thấy thái độ của sinh viên như thế nào đối với việc trưởng nhóm dùng giọng nói lớn để ra lệnh?
Kết quả khảo sát câu hỏi số 7 cho thấy phần lớn sinh viên không đồng tình với hành vi này: có 107 sinh viên chọn "không đồng ý", trong khi chỉ có 54 người đồng ý. Đa số người được hỏi cho rằng việc lạm dụng giọng nói lớn gây căng thẳng, tạo cảm giác bị áp đặt, hung hăng và làm giảm hiệu quả thảo luận.
4. Đa số sinh viên trong mẫu nghiên cứu đánh giá thế nào về việc sử dụng từ ngữ lịch sự và từ ngữ đơn giản?
Về từ ngữ lịch sự (câu hỏi 13), có 232 sinh viên (chiếm 77,3%) thể hiện sự tán thành (gồm 128 người đồng ý và 104 người hoàn toàn đồng ý). Về việc dùng từ ngữ đơn giản, có 229 sinh viên tán thành (gồm 134 người đồng ý và 95 người hoàn toàn đồng ý) vì giúp thông điệp rõ ràng, dễ hiểu và tránh hiểu lầm.
5. Tác giả đã đề xuất những giải pháp thực tế nào để nâng cao kỹ năng giao tiếp lời nói cho sinh viên?
Tác giả đề xuất Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo kỹ năng giao tiếp bằng lời định kỳ 2 - 3 lần mỗi năm theo hình thức đóng vai giải quyết tình huống (nhóm 5 - 6 người), đồng thời khuyến khích sinh viên tự thành lập các câu lạc bộ giao tiếp để sinh hoạt, diễn kịch, luyện giọng và thi đấu kỹ năng nhóm hàng tháng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phan Thanh Trúc đã làm rõ tác động của hình thức giao tiếp bằng lời nói đến năng lực lãnh đạo thông qua phân tích thực nghiệm 6 thành tố ngôn ngữ và cận ngôn ngữ trên 300 sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh. Các phân tích định tính và định lượng mô tả trong nghiên cứu chỉ ra rằng việc làm chủ tốc độ nói, điều chỉnh ngữ điệu, kiểm soát âm lượng và sử dụng ngôn từ lịch sự, chuẩn mực có vai trò then chốt trong việc giảm thiểu xung đột nội bộ và nâng cao năng lực thuyết phục của trưởng nhóm. Mặc dù còn những giới hạn về phạm vi khảo sát và sự mất cân đối giới tính của mẫu nghiên cứu, công trình đã bổ sung một nguồn tư liệu thực nghiệm hữu ích cho hoạt động nghiên cứu hành vi tổ chức và đào tạo kỹ năng làm việc nhóm trong giáo dục đại học.