Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hình thức Giao tiếp bằng lời nói và Khả năng lãnh đạo. Chương 3: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 18 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG LÃNH ĐẠO VÀ GIAO TIẾP BẰNG LỜI NÓI 2.1 TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG LÃNH ĐẠO Cho đến khi Thế giới chiến tranh kết thúc, Stogdill (1950) đã định nghĩa khả năng lãnh đạo là “quy trình (hành động) ảnh hưởng đến các hoạt động của một nhóm có tổ chức nhằm nỗ lực thiết lập mục tiêu và đạt được mục tiêu”, trong đó nhấn mạnh rằng lãnh đạo không phải là đặc điểm cá nhân mà là phương pháp gây ảnh hưởng trực tiếp đến mọi người. Tiếp đó, Stogdill Hemphill & Coons (1957) cũng định nghĩa lãnh đạo là “hành vi của một cá nhân chỉ đạo các hoạt động của một nhóm hướng tới một mục tiêu chung”. Zaleznik (1977) cũng nhấn mạnh khía cạnh ảnh hưởng trong khả năng lãnh đạo: “Lãnh đạo đòi hỏi phải sử dụng quyền lực để tác động đến suy nghĩ và hành động của người khác”.
Vào những năm 1990, các nhà tư tưởng lãnh đạo bắt đầu chú ý đến những người theo dõi trong quá trình lãnh đạo. Bass (1990) đã thiết lập một bước đột phá trong lĩnh vực này khi lưu ý rằng lãnh đạo không chỉ là một quá trình ảnh hưởng của người lãnh đạo đối với người khác, mà là một quá trình tương tác có thể bị ảnh hưởng bởi bất kỳ ai tham gia. Hơn nữa, Rost (1993) cũng nhấn mạnh rằng khả năng lãnh đạo là mối quan hệ giữa các nhà lãnh đạo và những người theo dõi, mối quan hệ giữa một cá nhân và một nhóm được xây dựng xung quanh một số lợi ích chung, được định hướng để đạt được mục tiêu. Tổng kết lại, khả năng lãnh đạo là khả năng mà ta sử dụng khi phải quản lý một đội, một nhóm hay một tổ chức.
Khả năng này chính là sử dụng sức thuyết phục và lý luận của bản thân để hướng dẫn cho các thành viên trong nhóm hay tổ chức tuân theo những mệnh lệnh hay yêu cầu được đặt ra để phục vụ cho mục đích chung.2 TỔNG QUAN VỀ GIAO TIẾP Giao tiếp được định nghĩa là “quá trình truyền tải thông tin nhằm mục đích tạo ra sự hiểu biết chung từ người này sang người khác” (Keyton, 2011). Từ "Giao tiếp" (communication) được lấy từ tiếng Latinh “cộng đồng” (Communis), có nghĩa "giao tiếp" nghĩa là "làm cho phổ biến" hoặc "để biết", "chia sẻ" và bao gồm các phương tiện bằng lời nói, không bằng lời nói và phương tiện liên lạc điện tử của con người. Giao tiếp là bất kỳ hành động nào mà một người chia sẻ hoặc nhận được từ người khác về ý tưởng và cảm xúc. Trao đổi thông tin cố ý hoặc - vô ý thông qua ngôn ngữ hoặc không ngôn ngữ, tin nhắn, miệng, (John, V &Geogia, B.1 Các yếu tố trong giao tiếp 19 Hình 2.1 Các yếu tố trong giao tiếp (Nguồn: Fred C.
Lunenburg, 2010) Người gửi (Sender) sẽ hình thành quá trình giao tiếp bằng cách định hình các ý tưởng và cảm xúc sẽ được truyền đạt. Hơn nữa, người gửi đã mã hóa ý tưởng bằng cách lựa chọn ngôn từ, ký hiệu hoặc cử chỉ để tạo lập nên tin nhắn. Thông điệp là sản phẩm của mã hóa, có hình thức bằng lời nói, không lời hoặc bằng các văn bản. Giai đoạn tiếp theo (Medium) là phương thức (đường dẫn hoặc thiết bị) mà thông điệp được truyền đi.
Tiếng ồn là một trong những trở ngại gây ra sự cản trở thông điệp, chẳng hạn như rào cản ngôn ngữ và sự gián đoạn. Người nhận (Reciver) là cá nhân hay đối tượng trục tiếp nơi mà tin nhắn được gửi đến. Người nhận sẽ giải mã thông điệp nhận được thành thông tin có ý nghĩa dựa trên kinh nghiệm trong quá khứ, nhận thức, suy nghĩ và cảm xúc. Cuối cùng, thông tin phản hồi cho biết người nhận đã tiếp nhận từng thông điệp và thấu hiểu như thế nào.2 Mối quan hệ giữa khả năng lãnh đạo và phương thức giao tiếp Một số tác giả chỉ ra rằng giao tiếp chính là trung tâm của khả năng lãnh đạo (Awamleh &Gardner, 1999; Den Hartog & Verburg, 1997).
Các công trình nghiên cứu tiền đề đã tiến hành nghiên cứu và xem xét ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo liên quan đến kỹ năng giao tiếp hiệu quả (Fairhurst, 1993) cũng như cách giao tiếp giữa các cá nhân. Theo Witherspoon (1997), lãnh đạo chỉ tồn tại thông qua giao tiếp và chức năng chính của giao tiếp đó là phát triển hơn nữa ý nghĩa được chia sẻ để tìm kiếm và sử 20 dụng thông tin một cách hiệu quả. Mintzberg (1973) đã nhấn mạnh rằng các nhà lãnh đạo và quản lý nơi làm việc đã dành phần lớn thời gian của họ để liên lạc với cấp dưới - cung cấp thông tin, hướng dẫn, điều phối và đưa ra phản hồi. Clutterbuck và Hirst (2002) đã đề cập rằng một khía cạnh quan trọng của vai trò truyền thông là phát triển năng lực giao tiếp của nhà lãnh đạo.
Do đó, rõ ràng rằng vai trò của người lãnh đạo là phải chọn phong cách lãnh đạo và giao tiếp phù hợp với tổ chức của họ để gợi ra được các phản ứng mong muốn từ đối tượng mục tiêu của họ, là cấp dưới của họ. Bằng các phương tiện khác nhau, các nhà lãnh đạo thành công, hiệu quả phải có cái nhìn thực tế về giao tiếp và các tác động trực tiếp cũng như gián tiếp của nó. Họ phải hiểu sự phức tạp của giao tiếp, điều mà thoạt nhìn có vẻ đơn giản đối với hầu hết mọi người nhưng không phải ai cũng có thể sử dụng thành thạo và phù hợp.3 GIAO TIẾP BẰNG LỜI NÓI Giao tiếp bằng lời nói là việc sử dụng từ ngữ và âm thanh để thể hiện bản thân với người khác, nó được coi là những tiếng động phát ra từ miệng của bạn và bao gồm những người xung quanh bạn, truyền đạt những câu từ tạo ra một cuộc đối thoại để bạn tham gia (Quentin Shires, n. Amy Lucas (2017) cho rằng giao tiếp bằng lời nói bao gồm bất kỳ hình thức giao tiếp nào liên quan đến từ ngữ, nói, viết hoặc ký tên.
Nó cung cấp khả năng giao tiếp với một ngôn ngữ dựa trên một hệ thống các từ ngữ có tổ chức, thay vì chỉ đơn thuần là một âm thanh thoáng qua hay đơn độc. Hơn nữa, có ý kiến cho rằng vì giao tiếp bằng lời nói (sử dụng ngôn ngữ của con người để diễn tả toàn bộ thế giới và truyền tải thông tin) có thể được coi là một phương thức hỗ trợ mạnh mẽ của một hệ thống giao tiếp con người rộng hơn, do nó đã thực hiện tất cả các tính năng của một hệ thống giao tiếp mở (cf Katz và Kahn 1966). Mặc dù từ ngữ bằng “lời nói” có thể xác định rằng nó phải được nói ra, giao tiếp bằng lời nói có thể được coi là cầu nối qua nhiều phương tiện truyền thông (McCornack, 2009) 2.1 Ngữ điệu Một định nghĩa tỉ mỉ tương đương với ngữ điệu là “giai điệu lời nói”, hạn chế nó trong các biến thể cao độ trong quá trình phát ngôn ra (Hart et al, 1990). Nói cách khác, nó đề cập đến tính chất âm nhạc của một ngôn ngữ; đó là cách nó tăng và giảm trong một đoạn bài phát biểu, giúp người nhận giải thích và nắm bắt được thông điệp, độc lập với các từ và âm thanh của chúng.
Từ quan điểm của Francis 21 Nolan (n.), ngữ điệu có thể phản ánh cấu trúc thông tin của một cách nói, làm nổi bật các thành phần quan trọng chính trong câu. Một nghiên cứu được thực hiện bởi Braun B. (2011) cho thấy một mẫu ngữ điệu lạ đã làm giảm tốc độ xử lý lời nói và dẫn đến việc giảm tính dễ hiểu cũng như ý nghĩa của câu, điều này cho thấy tầm quan trọng của ngữ điệu phù hợp khi muốn truyền tải thông điệp một cách chính xác và gọn gàng. Diễn văn của Julia (2010) cũng cho thấy hai loại ngữ điệu và chức năng của chúng.
Khi đưa ra một tuyên bố hay nhận định cụ thể, mọi người được khuyến khích tuyên bố tích cực bằng cách sử dụng ngữ điệu cao hơn giống như cách bạn chúc mừng hoặc nhận xét ai đó về một công việc được thực hiện tốt. Đối với các câu mang tính phủ định hoặc mang lại thông điệp không tốt cho người nhận, ngữ điệu mà người nói sử dụng thường thấp hoặc giảm xuống 2.2 Giọng điệu (Tông giọng) Giọng điệu thường được đề cập nhiều trong văn học, là phương tiện để các nhà văn truyền đạt thái độ, tình cảm hay lập trường tư tưởng một cách cụ thể đến với độc giả. Hơn nữa, giọng điệu là sự phản ánh thái độ của bạn đối với người hoặc những người mà đang ở trong một cuộc đối thoại với bạn, và cũng đối với vấn đề đang được thảo luận của bạn. Bằng cách sử dụng các âm sắc khác nhau, các ngôn từ trong một câu có thể mang nhiều hình thái ý nghĩa khác ngoài nghĩa gốc thực sự của những từ đó.
Giọng điệu là một trong những điều đầu tiên mà con người chúng ta nhận ra trong quá trình giao tiếp. Các âm có thể là âm tĩnh, âm mức hoặc âm chuyển động, tăng hoặc giảm (Fernando Trujillo, n. Do đó, giọng điệu ảnh hưởng đến nhận thức của từng cá nhân về các thông điệp bằng lời nói mang hàm ý tích cực lẫn tiêu cực.B (2013) nói rằng giọng nói với âm lượng lớn sẽ không hữu ích lắm vì nó tạo ra áp lực và sự căng thẳng cho người nghe, thậm chí thường thành những xung đột không đáng có. Hơn nữa, Carl ngụ ý rằng việc tăng giọng nói lớn tiếng được coi là một hành động thống trị những người khác.
Anne Cohen (2017) cũng trình bày không ai có thể hay muốn nghe một số người mà họ cảm thấy bị bắt nạt hoặc ép buộc.3 Tốc độ nói Bên cạnh cao độ, giọng điệu hay ngữ điệu, còn có một điểm cần lưu ý về giọng nói có ảnh hưởng quan trọng đến nhận thức của người nói và người nghe, đó là tốc độ nói (Ray, 1986). Tốc độ nói là một thước đo quan trọng về sự trôi chảy của lời nói 22 và cũng là một thông số cho phép đánh giá quá trình xử lý lời nói. (2012) đã trình bày rằng tốc độ và việc tạm dừng là hai phương pháp để xác định tốc độ nói và tốc độ nói cũng là một thành phần quan trọng của việc tạo ra sự rõ ràng và dễ hiểu.