ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh thận giai đoạn cuối được định nghĩa là sự suy giảm không thể phục hồi trong chức năng thận của một người, đủ nghiêm trọng để gây tử vong trong trường hợp không được lọc máu hoặc cấy ghép thận [90]. Bệnh được sự quan tâm ngày càng nhiều như là một vấn đề sức khỏe toàn cầu. Ước tính có 2 triệu người trên toàn thế giới mắc bệnh thận giai đoạn cuối và số người được chẩn đoán mắc bệnh tiếp tục tăng với tốc độ 5 - 7% mỗi năm.000 người mắc bệnh thận giai đoạn cuối ở Mỹ, phương pháp điều trị chủ yếu là lọc máu và ghép thận; có hơn 100.000 người bệnh nằm trong danh sách ghép thận nhưng chỉ có 1/5 trong số đó được đáp ứng [70]. Chính vì thế mà lọc máu trở thành phương pháp điều trị cho đa số các người bệnh mắc bệnh thận mạn tính, trong đó chạy thận nhân tạo là loại lọc máu phổ biến chiếm 90%.
Tại Việt Nam chưa có số liệu thống kê chính thức, song ước tính có khoảng 5 triệu người bị suy thận và hàng năm có khoảng 8.000 ca bệnh mới. Số người bệnh suy thận giai đoạn cuối cần lọc máu là khoảng 800.000 người, chiếm 0,1% dân số. Chi phí điều trị bệnh thận mạn tính bằng phương pháp chạy thận nhân tạo chu kỳ đặt ra một gánh nặng tài chính đáng kể lên hệ thống chăm sóc sức khỏe và cá nhân người bệnh [70], [10]. Trong quá trình chạy thận nhân tạo rất nhiều biến chứng có thể xảy ra cùng với biến chứng của bệnh thận giai đoạn cuối làm tăng nguy cơ tử vong, chỉ có 35% người bệnh chạy thận nhân tạo còn sống sau 5 năm điều trị [70].
Bên cạnh đó, quá trình chạy thận nhân tạo còn gây ra nhiều vấn đề về nhu cầu không thể đáp ứng [83] làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy người bệnh chạy thận nhân tạo có chất lượng cuộc sống rất thấp [7], [85] và chất lượng cuộc sống của người bệnh có xu hướng giảm dần nếu không có các biện pháp can thiệp phù 2 hợp [28], [34]. Một số nghiên cứu cũng cho thấy người bệnh chạy thận nhân tạo không đủ khả năng tự chăm sóc [25], trong khi các hoạt động tự chăm sóc đóng vai trò quan trọng trong cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm thời gian, tần suất nhập viện, giảm chi phí y tế và tử vong [35]. Vì thế, một chương trình giáo dục sức khỏe hợp lý sẽ cung cấp kiến thức cho người bệnh để tuân thủ chế độ điều trị, cải thiện hành vi tự chăm sóc từ đó giúp nâng cao chất lượng cuộc sống [44], [50], [69].
Giáo dục sức khỏe là nhiệm vụ chuyên môn hàng đầu của người điều dưỡng [2], là nhu cầu cao nhất của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ [93], vì vậy trong quá trình chăm sóc người bệnh chạy thận nhân tạo, người điều dưỡng phải thông qua hoạt động giáo dục để giúp người bệnh nâng cao kiến thức, tuân thủ và cải thiện chất lượng cuộc sống [23]. Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, hoạt động giáo dục sức khỏe cho người bệnh chạy thận nhân tạo được thực hiện với các nội dung và hình thức khác nhau tùy thuộc vào năng lực của người điều dưỡng và nhu cầu của người bệnh. Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là “Giáo dục sức khỏe có cải thiện được chất lượng cuộc sống của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ hay không? Nếu có thì cải thiện ở mức độ nào?”. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Tác động của giáo dục sức khỏe đến chất lượng cuộc sống của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2020” nhằm hai mục tiêu sau: 3 MỤC TIÊU 1.
Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2020. Đánh giá thay đổi chất lượng cuộc sống của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình sau giáo dục sức khỏe. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về bệnh thận mạn tính 1.
Định nghĩa Bệnh thận mạn tính là tình trạng tổn thương về cấu trúc hoặc chức năng, xuất hiện trong thời gian trên 3 tháng, biểu hiện bởi Albumin niệu, hoặc các bất thường về hình ảnh học hoặc suy giảm chức năng thận được xác định thông qua mức lọc cầu thận < 60ml/phút/1,73m2 [15], [59], [60]. Tiêu chuẩn bệnh thận mạn tính theo Hội thận học Hoa Kỳ NKF-KDOQI (triệu chứng xuất hiện > 3 tháng) [59] Dấu ấn tổn thương - Albumin niệu (albumin niệu ≥ 30 mg/24 giờ, tỉ lệ thận (≥ 1 dấu ấn) albumin/creatinin ≥ 30mg/g hoặc 3 mg/mmol - Bất thường tổng phân tích nước tiểu - Rối loạn điện giải hoặc các bất thường khác do bệnh lý ống thận - Bất thường về cấu trúc phát hiện bằng hình ảnh học - Tiền sử ghép thận Giảm mức lọc cầu < 60 ml/phút/1,73m2 thận 1. Phân độ giai đoạn và tiên lượng của bệnh thận mạn tính Sự chia giai đoạn bệnh thận mạn nhằm thống nhất cách gọi các giai đoạn của bệnh thận, giúp các nhà lâm sàng và các nhà nghiên cứu bệnh học có thể trao đổi thông tin dễ dàng hơn dựa trên một quy chuẩn thống nhất có tính toàn cầu. Bệnh suy thận mạn sẽ tiến triển qua 5 giai đoạn theo mức độ nặng dần.
Theo đó, suy thận mạn giai đoạn 5 là trầm trọng nhất và thường có chỉ định phải điều trị thay thế thận để duy trì sự sống. Phân độ bệnh thận theo mức lọc cầu thận và albumin niệu [60] Độ 1 Độ 2 Độ 3 Albumin niệu Bình thường- Tăng vừa phải Tăng rất cao tăng nhẹ Mức lọc cầu thận <30 mg/g 30–300 mg/g >300 mg/g (ml/phút/1,73m2) <3 mg/mmol 3–30 mg/mmol >30 mg/mmol G1 Bình thường ≥ 90 hoặc cao G2 Giảm nhẹ 60 - 89 G3a Giảm nhẹ- trung 45 - 59 bình G3b Giảm trung 30 - 44 bình- nặng G4 Giảm nặng 15 - 29 G5 Suy thận < 15 Ghi chú: màu xanh lá cây, nguy cơ thấp (nếu không có dấu hiệu khác của bệnh thận, không có CKD); màu vàng, rủi ro tăng vừa phải; cam, nguy cơ cao; đỏ, nguy cơ rất cao. Chẩn đoán bệnh thận mạn tính. - Phù: từ mức độ nhẹ đến nặng - Thiếu máu mạn, mức độ nặng dần nếu không được điều trị - Tăng huyết áp: chiếm khoảng 80% - Suy tim - Rối loạn tiêu hóa - Xuất huyết: có thể ngoài da, chân răng hoặc nội tạng - Viêm màng ngoài tim - Ngứa - Chuột rút - Hôn mê 6 1.
Cận lâm sàng [15], [21], [90] Có nhiều xét nghiệm giúp chẩn đoán xác định bệnh thận mạn cũng như giai đoạn bệnh thận mạn như thiếu máu đẳng sắc với kích thước hồng cầu bình thường, kích thước thận giảm, nhưng chủ yếu vẫn dựa vào nồng độ creatinine máu và hệ số thanh thải creatinine (Bảng 1. Các biến chứng của STGĐC [59], [87], [90]. - Thiếu máu - Rối loạn chuyển hóa xương và khoáng chất ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và làm tăng tỷ lệ tử vong ở người bệnh bệnh thận mạn tính. - Các nguy cơ tim mạch bao gồm tăng huyết áp, suy tim, thiếu máu, bệnh mạch vành, mất cân bằng canxi-phospho, canxi hóa thành mạch… ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong ở người bệnh STGĐC.
- Các rối loạn lipid - Vấn đề liên quan đến dinh dưỡng: Ở người bệnh bệnh thận mạn, cùng với sự tiến triển qua các giai đoạn bệnh là sự đòi hỏi thay đổi chế độ dinh dưỡng để phù hợp với các rối loạn chuyển hóa protid, nước, muối, canxi, kali và p- hospho. Đa số người bệnh ít quan tâm đến vấn đề này mặc dù nguồn thức ăn hằng ngày vẫn đảm bảo protit và carbohydrate. Điều trị bệnh thận mạn giai đoạn cuối - Điều trị bảo tồn - Lọc máu chu kỳ bằng thận nhân tạo - Lọc màng bụng - Ghép thận Cần kết hợp nhiều phương pháp trong quá trình điều trị bệnh thận mạn tính tuy nhiên điều trị bệnh thận bằng lọc máu và ghép nên được lưu ý. Tổng quan về thận nhân tạo chu kỳ 1.
Định nghĩa chạy thận nhân tạo chu kỳ Chạy thận nhân là một phương pháp điều trị dành cho những người bị suy giảm chức năng thận ở giai đoạn nặng. Phương pháp này sẽ thay thế chức năng của thận bằng cách sử dụng máy chạy thận. Máy chạy thận và màng lọc nhân tạo này có nhiệm vụ lọc bớt nước và các sản phẩm chuyển hóa trong máu ra ngoài cơ thể. Nguyên lý chạy thận nhân tạo: Sơ đồ 1.
Nguyên lý chạy thận nhân tạo 1. Chỉ định lọc máu. - Có hội chứng suy thận đã gây nên rối loạn chức năng não. - Có tăng Kali máu mà điều trị nội khoa không hiệu quả.
- Toan máu không điều trị nội khoa được. - Mức lọc cầu thận < 15ml/phút/1,73m2 cơ thể. Biến chứng của thận nhân tạo chu kỳ: [1], [42], [84] Tụt huyết áp: Là biến chứng cấp tính hay gặp nhất trong lọc máu. Có rất nhiều yếu tố gây tụt huyết áp: siêu lọc quá mức (làm giảm khối lượng tuần hoàn), đáp ứng hoạt mạch suy giảm, thay đổi thẩm thấu máu, dùng thuốc hạ áp, 8 giãn mạch do dịch lọc quá nóng.
Khi bị tụt huyết áp thì phải ngừng siêu lọc, truyền 100-250ml dung dịch muối đẳng trương; ở những người bệnh albumin máu hạ có thể truyền albumin. Phòng ngừa tụt huyết áp trong chạy thận nhân tạo bằng cách: Tư vấn hướng dẫn người bệnh sử dụng chế độ ăn hợp lý, kiểm soát chất lỏng đưa vào cơ thể; uống thuốc huyết áp hàng ngày sau khi chạy thận, không uống trước chạy thận, có thể thay đổi bằng thuốc có tác dụng ngắn hơn; không ăn thức ăn, uống nước đường trong hoặc ngay trước khi chạy thận ở những người bệnh thường xuyên tụt huyết áp. Chuột rút: Là biến chứng hay gặp. Tuy nhiên, từ ngày có máy thận nhân tạo chỉnh được thể tích, điều hoà chuẩn được Na+, tỉ lệ chuột rút ít gặp hơn.
Nguyên nhân gây chuột rút còn chưa rõ. Những thay đổi tưới máu cơ do rút dịch quá mức, đặc biệt dưới trọng lượng khô và việc dùng dịch lọc nồng độ Na+ thấp có thể gây chuột rút. Dự phòng chuột rút thì khi lọc máu cần giảm siêu lọc, dùng dịch lọc nồng độ Na+ cao. Bên cạnh đó, điều dưỡng cần hướng dẫn người bệnh chế độ tập luyện, vận động phù hợp ngoài thời gian lọc máu; triển khai các bài tập giãn cơ trong thời gian lọc máu vừa giúp tăng hiệu quả lọc máu vừa giúp người bệnh giãn cơ, tránh chuột rút.
Buồn nôn, nôn: Xảy ra ở 10% người bệnh chạy thận chu kỳ.