CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA GIAO DỊCH KÝ QUỸ ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 Tổng quan về công ty chứng khoán 1.1 Khái niệm và đặc điểm 1.1 Khái niệm Các CTCK theo cách hiểu phổ biến trên thế giới được định nghĩa như sau: “Các công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian ở thị trường chứng khoán, thực hiện trung gian tài chính thông qua các hoạt động chủ yếu như mua bán chứng khoán, môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, phát hành và bảo lãnh chứng khoán, tư vấn đầu tư và quản lý quỹ đầu tư. Công ty chứng khoán có thể tham gia quá trình trao đổi cổ phiếu trong thị trường với vai trò trung gian”. Tại Việt Nam, Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành nhiều nghị định, thông tư để làm rõ khái niệm về các CTCK trên TTCK Việt Nam. Theo Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11.1998 của Chính phủ về chứng khoán và TTCK là văn bản pháp luật đầu tiên ở Việt Nam có các quy định về CTCK.
Theo Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28.2003 của Chính phủ về chứng khoán và TTCK, “công ty chứng khoán được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, theo giấy phép do Uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp. Các hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán thuộc loại kinh doanh có điều kiện, được pháp luật quy định cụ thể như sau: phương án sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất, vốn pháp định, giấy phép hành nghề của các thành viên lãnh đạo, nhân viên kinh doanh”. Công ty chứng khoán theo Quyết định số: 27/2007/QĐ – BTC về việc ban hành các quy chế tổ chức và hoạt động CTCK được định nghĩa rằng “Công ty chứng khoán tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”. Khái niệm công ty chứng khoán đã được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 86/2016/NĐ-CP được định nghĩa như sau: “Công ty chứng khoán là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo pháp luật chứng khoán để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và được cung cấp các dịch vụ tài chính theo quy định của pháp luật chứng khoán”.
9 Các CTCK là “một tổ chức tài chính trung gian ở thị trường chứng khoán, thực hiện trung gian tài chính thông qua các hoạt động chủ yếu như mua bán chứng khoán, môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, phát hành và bảo lãnh chứng khoán, tư vấn đầu tư và quản lý quỹ đầu tư. Công ty chứng khoán có thể tham gia quá trình trao đổi cổ phiếu trong thị trường với vai trò trung gian”. Hay theo một cách định nghĩa khác “Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian ở thị trường chứng khoán, thực hiện trung gian tài chính thông qua các hoạt động chủ yếu như mua bán chứng khoán, môi giới chứng khoán cho khách hàng rồi nhận nguồn doanh thu chính từ hoa hồng bán chứng khoán, phát hành và bảo lãnh chứng khoán, tư vấn đầu tư và quản lí quỹ đầu tư. Công ty chứng khoán có thể tham gia vào quá trình trao đổi trong thị trường với vai trò trung gian”.
Về cơ bản, các định nghĩa đưa ra đều có những điểm đồng nhất về hình thức tổ chức, cách thức hoạt động và nghiệp vụ kinh doanh của các công ty chứng khoán. Như vậy, nghiên cứu này dựa trên định nghĩa theo như trong các nghị định của Chính phủ về chứng khoán.2 Đặc điểm Lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh: “Công ty chứng khoán có thể thực hiện nhiều nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nếu có đủ điều kiện và được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép cho những hoạt động đó. Hoạt động kinh doanh chính, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh chứng khoán, gồm: một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán theo Điều 60 Luật chứng khoán như môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán; bên cạnh những nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán thì công ty chứng khoán còn được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác”. Hình thức tổ chức pháp lý: “công ty chứng khoán chỉ được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn theo Luật doanh nghiệp 2005: công ty chứng khoán chỉ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn là do đây là hai loại hình doanh nghiệp có tính phổ biến trong nền kinh tế thị trường, có quy chế pháp lý về tổ chức, hoạt động chặt chẽ, và có quy định khá giống nhau giữa các quốc gia.
Nên quy định hình thức pháp lý của công ty chứng khoán như vậy đáp ứng đòi hỏi đặc thù của hoạt động kinh doanh chứng khoán là đảm bảo độ tin cậy cao, hạn chế rủi ro và đáp ứng yêu cầu của thị trường chứng khoán là thị trường mang tính quốc tế cao”. 10 Phương diện quản lý nhà nước: “công ty chứng khoán đặt dưới sự quản lý trực tiếp của cơ quan quản lý chuyên trách là Ủy ban Chứng khoán Nhà nước”. Pháp luật điều chỉnh: “Luật chứng khoán và các quy định của pháp luật có liên quan”.2 Các nghiệp vụ kinh doanh chính Theo quy định của Điều 72 Luật chứng khoán 2019 sửa đổi bổ sung năm 2014 thì CTCK được tiến hành cung cấp các nghiệp vụ sau: “Điều 72. Nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán: 1.
Công ty chứng khoán được cấp phép thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh sau đây: a) Môi giới chứng khoán; b) Tự doanh chứng khoán; c) Bảo lãnh phát hành chứng khoán; d) Tư vấn đầu tư chứng khoán. Công ty chứng khoán chỉ được cấp phép thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán khi được cấp phép thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán. Công ty chứng khoán chỉ được cấp phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán khi được cấp phép thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán”.1 Nghiệp vụ Môi giới chứng khoán: Theo khoản 29, Điều 4 Luật chứng khoán sửa đổi năm 2019 quy định: “Môi giới chứng khoán là việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng.” Hay hiểu một cách đơn giản, “môi giới chứng khoán là người đại diện, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng, có thể là tổ chức, công ty hay cá nhân, thông qua việc tư vấn, thực hiện các giao dịch. Vì vậy, công việc của người môi giới chứng khoán bao gồm thu thập và thẩm định thông tin về thị trường cổ phiếu trong hoặc ngoài nước, chứng khoán và trái phiếu chính phủ; trên cơ sở đó đưa ra lời khuyên thích hợp cho khách hàng.
Đây là hoạt động chủ yếu và không thể thiếu của các CTCK trong nhiều năm qua. Hoạt động này mang tính rủi ro thấp nhưng lại có tính chắc chắn cao và dễ tạo uy tín trên thị trường cho các CTCK.2 Nghiệp vụ Tự doanh chứng khoán 11 Khoản 30, Điều 4, Luật chứng khoán 2019 nêu ra định nghĩa về tự doanh chứng khoán: “Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán cho chính mình.” Đây là nghiệp vụ kinh doanh trong đó “công ty chứng khoán dùng kinh phí của mình để mua và bán chứng khoán, họ tự chịu mọi rủi ro và có thể làm thêm nhiệm vụ tạo thị trường cho một loại chứng khoán nào đó”.3 Nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành Bảo lãnh phát hành theo khoản 31, Điều 4, Luật chứng khoán 2019 được định nghĩa: “Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc cam kết với tổ chức phát hành nhận mua một phần hoặc toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết hoặc cố gắng tối đa để phân phối số chứng khoán cần phát hành của tổ chức phát hành.” Tổ chức thực hiện bảo lãnh phải là CTCK đã được cấp giấy phép hoạt động bảo lãnh, hoặc các NHTM được UBCKNN chấp thuận việc bảo lãnh phát hành chứng khoán theo quy định của Bộ tài chính. Bảo lãnh cam kết chắc chắn (underwriting): “Theo hình thức này, công ty môi giới khi nhận bán sẽ mua toàn bộ số chứng khoán của một đợt phát hành của tổ chức phát hành và sau đó bán lại cho nhà đầu tư với mức cao hơn để hưởng chênh lệch”. “Hoặc có thể hợp đồng nhận bán toàn bộ số chứng khoán với một giá nhất định cho đến hạn không còn ai mua nữa thì công ty môi giới sẽ mua nhận mua toàn bộ số chứng khoán còn lại.
Thường thì chỉ có những công ty chứng khoán, công ty tài chính lớn mới có đủ khả năng thực hiện việc này, theo Luật chứng khoán, để thực hiện được nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, Công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ tối thiểu: 265 tỷ VNĐ. Khi nhận nhiệm vụ này, họ mặc nhiên chấp nhận rủi ro do giá của chứng khoán có thể lên hay xuống thấp hơn giá mua. Do đó, trước khi nhận bao tiêu chứng khoán cho một tổ chức phát hành nào đó, công ty phải thẩm tra tình hình mọi mặt của tổ chức phát hành, quan trọng nhất là tình hình tài chính: cơ cấu nguồn vốn, khả năng sinh lợi”. Bảo lãnh cố gắng tối đa (best effort): “Các nhà phát hành nhận bán chứng khoán nhưng không nhận mua hết số chứng khoán không bán được.
Nghĩa là không ký kết bảo đảm bán hết toàn bộ chứng khoán. Họ chỉ cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán trong thời hạn, nếu không bán hết, số chứng khoán còn lại sẽ được trả cho tổ chức phát hành”. 12 Bảo lãnh tất cả hoặc không (all-or-none): “Trường hợp này tổ chức phát hành cần một lượng tối thiểu chứng khoán phải bán hết, nếu không sẽ hủy bỏ toàn bộ số lượng đã phân phối và tiền sẽ được trả lại cho những người mua cổ phiếu”.4 Nghiệp vụ Tư vấn đầu tư chứng khoán Theo quy định tại khoản 32, Điều 4 Luật chứng khoán năm 2019, “Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc cung cấp cho khách hàng kết quả phân tích, báo cáo phân tích và đưa ra khuyến nghị liên quan đến việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán”.