CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1. Ly do chọn đề tài Thế giới đang trải qua một hiện tượng chưa từng có về già hóa.Tất cả các quốc gia đang trải qua sự thay đổi này, mặc dù ở các mức độ khác nhau và thời gian khác nhau. Nhật Bản đi đầu trong những thay đổi về nhân khẩu học, quá trình chuyền đổi tuổi thọ sẽ tiếp tục diễn ra ở các nước tiên tiễn trước và sau đó lan sang các nước nghèo hơn. Từ những năm 1960 trở đi, tỷ lệ dân số thế giới bắt đầu giảm (từ mức cao 2,1% một năm trong giai đoạn 1965-1970 xuống còn 1,1% hiện nay) do mức sinh giảm chưa từng có trong lich sử ở hầu hết các khu vực trên thé giới.
Trong suốt cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, phần lớn các nước công nghiệp đã trải qua mức sinh giảm nhanh chóng. Tuổi thọ tăng phản ánh tiêu chuẩn cuộc sống được cải thiện, dinh dưỡng tốt hơn, tiến bộ trong công nghệ y tẾ,. Ngoài ra, nó còn phản ánh các yếu tố như sự sẵn có các biện pháp tránh thai, thay đổi thái độ về địa vị của phụ nữ và mở rộng cơ hội làm việc bên ngoài của phụ nữ. Theo dự báo dân số của Liên hợp quốc (2018), tăng trưởng dân số thế giới sẽ giảm xuống mức 1% dự kiến vào năm 2020 (ty lệ thấp nhất kế từ những năm 1950) va chỉ còn 0,25% vào năm 2080.
Đối với các nước Đông Nam Á, trong khi Indonesia và Philippines có thé tiếp tục dựa vào lực lượng lao động tương đối trẻ thì lực lượng này ở Thái Lan và Việt Nam đang có phần chững lãi chuẩn bị bước sang giai đoạn già hóa dân số, còn Malaysia, Singapore đang chứng kiến sự chuyền đôi sang giai đoạn già hóa. Trong thời kì tăng trưởng kinh tế 2010-2020, dân số Việt Nam đã bước vào giai đoạn “dan số vàng” với lực lượng lao động trẻ dồi dào. Tuy nhiên, sau giai đoạn dân số “vàng” sẽ bước sang giai đoạn dân số “già”. Điều đáng nói là, Việt Nam nằm trong số 10 nước có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới.
Tại Hội thảo “Công tác xã hội thích ứng với bối cảnh già hóa dân số do Cục Bảo trợ xã hội- Thương binh và Xã hội (LĐÐ_TB&XH), Thứ trưởng Bộ LD-TB& XH Nguyễn Thi Hà, tuổi thọ trung bình của nước ta đã tăng từ 68,6 tudi (năm 1999) lên 73,2 tudi (năm 2014), dự báo sẽ tăng lên tới 78 tuổi (năm 2030) và 80,4 tuổi (năm 2050). Theo định nghĩa của Liên hợp quốc, từ năm 2041, Việt Nam chính thức bước vào quá trình già hóa dân số. Dự báo, nước ta sẽ chỉ mat không tới 20 năm dé ty lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 7% lên 14% tổng dân số, tức là chuyên từ giai đoạn “đang già” sang “già” — một tốc độ thuộc hàng cao nhất thế giới, thậm chí đến năm 2038, nhóm cao tuổi ở Việt Nam sẽ chiếm đến 20% tổng dân số. Nguyên nhân của hiện tượng này là do cả tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm một cách nhanh 8 chóng, tuổi thọ tăng khiến dân số cao tuôi gia tăng nhanh hơn bat kỳ nhóm dân số khác.
Già hóa dân số sẽ tác động đến hau hết các lĩnh vực của đời sống xã hội như thị trường lao động, tài chính, nhu cầu về các hàng hóa, dịch vụ, giáo dục, an ninh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi,. Do các nhóm tuổi khác nhau có thu nhập và tiêu dùng khác nhau nên việc chuyên đổi nhân khẩu học sẽ anh hưởng đến các chỉ số vĩ mô của nền kinh tế. Trong đó, tác động già hóa dân số đến lạm phát vẫn là một van đề tranh luận. Thay đôi nhân khẩu học ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc thị trường lao động, cũng như ảnh hưởng một cách gián tiếp đến hành vi của người dân.
Cơ cấu dân số thay đổi làm tăng (giảm) tỷ trọng dân số ở độ tuổi già và giảm (tăng) sẽ ảnh hưởng tiêu cực (tích cực) đến tổng tiêu dùng trong nền kinh tế và ảnh hưởng đến cầu tiền, do đó tạo ra áp lực giảm phát (lạm phat). Nếu thực sự có mối quan hệ gitra nhân khẩu học và lạm phát, nó cũng có thể có những tác động đáng kề đến việc thực hiện chính sách tiền tệ. Xuất phát từ những van đề trên, dé tài: “Tác động của già hóa dân số đến lạm phát ở các nước Đông Nam Á” đã được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu đi vào phân tích sự thay đổi của cơ cấu dân số, cụ thé là xu hướng già hóa dân số tại Việt Nam và các nước khu vực.Xác định tác động, mức độ ảnh hưởng của già hóa dân số đến lạm phát, đồng thời, xem xét một số nhân tố khác tác động đến lạm phát.
Ngoài ra, đề tài nghiên cứu nhận xét và dự báo xu hướng già hóa dân số trong những năm tiếp theo và đưa ra chính sách phù hợp dé chuẩn bị cho giai đoạn già hóa dân số. Câu hỏi nghiên cứu Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời những câu hỏi sau: 1. Tác động của già hóa đến lạm phát? 2. Xu hướng già hóa có ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực đến nền kinh tế? 3.
Có sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng của già hóa dân số đến lạm phát của các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á hay không? 1. _ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu tập trung nghiên cứu vào các đối tượng sau: ° Ty lệ phụ thuộc trẻ tuổi và ty lệ phụ thuộc tuổi già ° Ty lệ lam phát ( tính theo CPI, hang năm) 1. Pham vì nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu dự kiến của đề tài bao gồm: ° Phạm vi nghiên cứu về không gian: Các nước Đông Nam Á trong bộ dữ liệu từ các chỉ số phát triển thế giới (WDI — World Development Indicators) của Ngân hàng Thếgiới.
° Phạm vi nghiên cứu thời gian: Từ năm 1990 đến năm 2019. ° Phạm vi nội dung: Nghiên cứu vésy thay đổi trong cấu trúc nhân khẩu học cụ thể là tỷ lệ dân số phụ thuộc, sự thay đổi cấu trúc này tác động ảnh hưởng đến lạm phát như thế nào, các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát như tăng trưởng đổi cung tiền, tăng trưởng GDP. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích mô hình hồi quy kinh tế lượng dé phân tích tác động của già hóa dân số đến lạm phát. Trong khi phương pháp thống kê mô tả cho một cái nhìn tổng quan nhất về thực trang của già hóa dân số thì phương pháp phân tích mô hình hồi quy kinh tế lượng cho thây một cách chỉ tiết sự tác động của tỷ lệ phụ thuộc dân số và các biến vĩ mô khác ảnh hưởng đến lạm phát.
Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp thống kê, phân tích tông hợp, so sánh, phương pháp đồ thi,. để nghiên cứu và đánh giá cho đề tài. 10 CHƯƠNG 2: TONG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan các lý thuyết 2.
Một số khái niệm về già hóa dân số và lạm phát 2. Khái niệm về già hóa dân số Già hóa dân số là sự thay đồi phân bố dân số một nước theo hướng tăng cao tỉ lệ người cao tuổi. Điều này thường được phản ánh qua việc tăng độ tuổi bình quân và độ tuổi trung vị của dân số, giảm thiêu ty lệ trẻ nhỏ, và gia tăng ty lệ dân số trung niên. Tình trạng lão hóa dân số xảy ra khắp thế giới.Hiện tượng này diễn ra sớm nhất ở các nước có trình độ phát triển cao nhất, nhưng nay lại tăng nhanh hon ở các vùng ít phát triển hơn, nghĩa là lượng người cao tuổi sẽ tập trung cao ở các vùng ít phát triển hơn trên thế giới.
Theo tài liệu “World Population Ageing 2013”, United Nations, Department of Economic and Social Affairs, Viện Lão hóa Dân số Oxford (Oxford Institute of Population Ageing) kết luận rằng lão hóa dân số có sự giảm thiểu đáng kể ở châu Au và sẽ có những tác động lớn nhất vào tương lai châu Á, đặc biệt bởi châu Á đang nằm ở giai đoạn năm của mô hình dịch chuyên dân số. Ở các nước phát triển, độ tuổi được coi là người cao tuổi (NCT) có xu hướng cao hơn ở các nước đang phát triển. Cụ thê, tại hầu hết các nước châu Âu, NCT là những người từ 65 tuổi trở lên, trong khi ở một số nước châu Phi thì độ tuổi của NCT lại là từ 50-55. Đối với các tổ chức quốc tế, Quỹ dân số Liên Hợp quốc (UNPFA, 2012) hàm ý NCT là những người có độ tuôi từ 60 trở lên.
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) trong Công ước số 128 năm 1967 về trợ cấp khuyết tat, trợ cấp tuổi già và trợ cấp người sống sót xác định NCT là người 65 tuổi trở lên. Cơ quan Thống kê của Liên minh châu Âu (Eurostat) cũng coi NCT là những người từ 65 tuổi trở lên. Tại Việt Nam, theo Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12 được Quốc hội khóa XII, kì họp thứ 6 thông qua ngày 23/11/2009, NCT được quy định là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên, đối với cả nam va nữ. “Già hóa dân số” hay còn gọi là giai đoạn “dân số đang già” là khi tỷ lệ người từ 65 tuôi trở lên chiếm từ 7% tổng dân số trở lên; hoặc khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% tổng dân số trở lên.
Giai đoạn “dân số già” còn gọi là giai đoạn “dân số đã già” là khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 14% hoặc khi số người trên 60 tuổi chiếm từ 20% tông dân số trở lên. _ Khái niệm về lạm phát 11 Trong kinh tế vĩ mô, lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gianva sự mat giá tri cua một loại tiền tệ nào đó. Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vi tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ. Khi so sánh với các nước khác thì lạm phat là sự giảm giá tri tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác.