Tổng quan luận án
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giữ vai trò là một trong những động lực thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các quốc gia đang phát triển. Tại Việt Nam, kể từ khi thực hiện đường lối Đổi mới năm 1986 và ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã liên tục mở rộng. Vốn FDI thực hiện chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội qua các thời kỳ: đạt 26,67 tỷ USD (chiếm 24,32%) trong giai đoạn 1991–2000; 69,47 tỷ USD (chiếm 22,75%) trong giai đoạn 2001–2010; và duy trì mức khoảng 25% trong giai đoạn 2011–2018. Song hành với sự gia tăng của dòng vốn FDI, hoạt động ngoại thương của Việt Nam có bước phát triển về quy mô: tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ hơn 30 tỷ USD năm 2001 đã đạt 100 tỷ USD năm 2007 (thời điểm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO), vượt mốc 200 tỷ USD năm 2011 và đạt 480 tỷ USD vào năm 2018. Cán cân thương mại hàng hóa ghi nhận xuất siêu liên tiếp trong giai đoạn 2016–2018, đạt mức thặng dư 6,8 tỷ USD vào năm 2018. Khu vực doanh nghiệp FDI đóng góp trên 71% tổng kim ngạch xuất khẩu và gần 60% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
Tuy nhiên, các nghiên cứu thực chứng trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế nói chung hoặc tác động của FDI tới xuất khẩu của một số ngành riêng biệt. Tác động của FDI tới nhập khẩu, cơ cấu hàng hóa và thị trường xuất nhập khẩu chưa được phân tích toàn diện trong cùng một khung nghiên cứu. Do đó, luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế đầu tư của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thương với đề tài "Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam" được thực hiện nhằm làm rõ thực trạng tác động đa chiều của FDI tới hoạt động ngoại thương của Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích, đánh giá thực trạng tác động của dòng vốn FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam, qua đó cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường các tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực đến năm 2030.
Để đạt được mục tiêu tổng quát, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước tiếp nhận đầu tư.
- Xác định các kênh truyền dẫn tác động trực tiếp và gián tiếp của FDI tới xuất nhập khẩu.
- Phân tích thực trạng tác động của FDI tới kim ngạch, cơ cấu hàng hóa và thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988–2018.
- Xây dựng, kiểm định và ước lượng mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của FDI tới kim ngạch xuất khẩu (KNXK) và kim ngạch nhập khẩu (KNNK), đồng thời kiểm chứng ảnh hưởng của việc gia nhập WTO.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm khai thác tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2030.
Luận án trả lời ba câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: FDI tác động như thế nào tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam?
- Câu hỏi 2: FDI tác động như thế nào tới cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu ở Việt Nam?
- Câu hỏi 3: FDI tác động như thế nào tới thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tác động của FDI trên ba khía cạnh gồm kim ngạch, cơ cấu hàng hóa và thị trường xuất nhập khẩu. Phương pháp định tính được sử dụng cho cả ba khía cạnh; phương pháp định lượng tập trung lượng hóa tác động của FDI tới KNXK, KNNK và so sánh giai đoạn trước - sau khi gia nhập WTO.
- Phạm vi không gian: Việt Nam và các quốc gia, vùng lãnh thổ có quan hệ đầu tư trực tiếp và thương mại song phương chủ yếu với Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Số liệu phân tích thực trạng và ước lượng mô hình thu thập trong giai đoạn 1988–2018; các định hướng và giải pháp đề xuất có tầm nhìn đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm nội dung cụ thể:
Tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu:
- Hướng tác động tích cực đến xuất khẩu được xác nhận qua nghiên cứu của Aitken, Hansen & Harrison (1997) tại Mexico; Greenaway, Sousa & Wakelin (2004) và Greenaway & Kneller (2008) tại Vương quốc Anh; Kokko, Tansini & Zejan (1996), Blomstrom & Kokko (1998, 2003), Sun (2009). Các nghiên cứu này chỉ ra rằng FDI thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc xuất khẩu trực tiếp của doanh nghiệp FDI và tạo tác động tràn (spillovers) sang doanh nghiệp nội địa qua chuyển giao công nghệ, áp lực cạnh tranh và di chuyển lao động (Kaufmann, 1997; Fosfuri & cộng sự, 2001; Glass & Saggi, 2002; Hamida, 2011). Ngược lại, một số nghiên cứu không tìm thấy tác động lan tỏa tích cực hoặc ghi nhận tác động tiêu cực do áp lực cạnh tranh lấn át như Barrios, Gorg & Strobl (2003) tại Tây Ban Nha, Aitken & Harrison (1999) tại Venezuela, Bernard & Jensen (2004) tại Mỹ.
- Về tác động tới nhập khẩu, Penelope Pacheco (2005), Jayakumar & cộng sự (2014), Chani & cộng sự (2014), Yasir Khan & cộng sự (2018) chỉ ra rằng trong ngắn hạn, FDI làm tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên phụ liệu do nước sở tại chưa đáp ứng được tiêu chuẩn. Trong dài hạn, FDI có thể làm giảm nhập khẩu khi hàng hóa sản xuất nội địa bởi doanh nghiệp FDI thay thế hàng nhập khẩu (Svensson, 1998; Muhammad Albahi, 2016).
Tác động của FDI tới cơ cấu hàng hóa và thị trường:
- Hoekman & Djankov (1997) nghiên cứu tại Trung và Đông Âu nhưng không thấy vai trò rõ nét của FDI do dòng vốn chủ yếu vào dịch vụ; Bin Xu & Jiangyong Lu (2006, 2009) tại Trung Quốc và Zhang & Liu (2008) tại Hàn Quốc và Trung Quốc chỉ ra FDI nâng cao chất lượng rổ hàng hóa xuất khẩu thông qua chế biến chế tạo và công nghệ cao. Về thị trường, WTO (1996), Lionel Fontagné (1999) và Aitken & cộng sự (1997) chứng minh FDI giúp mở rộng phạm vi thị trường của nước nhận đầu tư thông qua mạng lưới phân phối quốc tế của các công ty xuyên quốc gia (TNCs).
Các nghiên cứu tại Việt Nam:
- Nghiên cứu về tác động lan tỏa của FDI tới tăng trưởng và công nghệ bao gồm Nguyễn Thị Tuệ Anh & cộng sự (2006), Lê Quốc Hội (2008), Nguyễn Khắc Minh (2009), Đào Văn Thanh (2013), Đặng Quý Dương (2014), Trịnh Minh Tâm (2016).
- Về hoạt động ngoại thương, Nguyễn Thanh Xuân & Yuqing Xing (2008) ước lượng dòng vốn FDI tăng 1% làm tăng xuất khẩu của Việt Nam sang đối tác tương ứng 0,13% giai đoạn 1990–2004. Sajid Anwar & Nguyễn Phi Lân (2011) sử dụng mô hình hai bước Heckman phân tích tác động tràn xuất khẩu và áp dụng mô hình trọng lực giai đoạn 1990–2007 cho 19 đối tác thương mại. Nguyễn Bích Ngọc (2016, 2017) đánh giá tác động của FDI tới xuất khẩu ngành chế biến chế tạo.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định:
- Khoảng trống về nội dung: Chưa có nghiên cứu đánh giá đồng thời và toàn diện tác động của FDI tới cả ba khía cạnh (kim ngạch, cơ cấu hàng hóa, thị trường) đối với cả hai chiều xuất khẩu và nhập khẩu tại Việt Nam.
- Khoảng trống về phương pháp: Cần kết hợp phân tích định tính toàn diện với kiểm định mô hình dữ liệu mảng dựa trên mô hình trọng lực mở rộng, đồng thời phân tách so sánh tác động trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
- Khoảng trống về thời gian và bối cảnh: Bổ sung chuỗi dữ liệu cập nhật đến năm 2018 (30 năm thu hút FDI 1988–2018) để đánh giá tác động trong bối cảnh hội nhập thế hệ mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên các lý thuyết nền tảng về thương mại và đầu tư quốc tế:
- Mô hình OLI của Dunning (1979) giải thích các lợi thế sở hữu (Ownership), địa điểm (Location) và nội bộ hóa (Internalization) của doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư ra nước ngoài.
- Phân loại động cơ FDI của Eiteman & cộng sự (1995) gồm: tìm kiếm thị trường, tìm kiếm nguồn nguyên liệu, tìm kiếm hiệu quả sản xuất, tìm kiếm lợi thế nhân lực và tìm kiếm an toàn chính trị.
- Phân loại FDI theo chiều dọc và chiều ngang (Fukao & Amano, 1998; Clare, 1996; Alvarez & Lopez, 2008).
- Lý thuyết về chất lượng rổ hàng hóa xuất khẩu của Mayer & Wood (2001) dựa trên tỷ trọng sản phẩm thâm dụng lao động so với thâm dụng vốn, công nghệ.
Khung phân tích của luận án xác định các kênh truyền dẫn tác động của FDI:
- Kênh tác động trực tiếp:
- Đối với xuất khẩu: Doanh nghiệp FDI trực tiếp sản xuất và xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế nhờ mạng lưới phân phối toàn cầu.
- Đối với nhập khẩu: Doanh nghiệp FDI trực tiếp nhập khẩu máy móc, dây chuyền thiết bị, nguyên phụ liệu trung gian và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ (CNHT); mặt khác, sản phẩm của doanh nghiệp FDI thay thế hàng hóa nhập khẩu trên thị trường nội địa.
- Kênh tác động gián tiếp (tác động lan tỏa):
- Kênh tạo áp lực cạnh tranh: Buộc doanh nghiệp trong nước nâng cao hiệu quả quản trị, đổi mới công nghệ; tuy nhiên nếu áp lực quá lớn có thể chèn ép doanh nghiệp nội địa.
- Kênh chuyển giao công nghệ (CGCN) và hoạt động R&D: Lan tỏa qua liên kết dọc (cung ứng thượng nguồn, hạ nguồn) và liên kết ngang.
- Kênh di chuyển lao động và chuyển giao tri thức: Nhân lực được đào tạo tại doanh nghiệp FDI chuyển dịch sang khu vực doanh nghiệp nội địa hoặc tự khởi nghiệp; song song với nguy cơ chảy máu chất xám ngược từ doanh nghiệp nội sang doanh nghiệp FDI.
- Kênh phát triển mạng lưới nhà cung ứng và doanh nghiệp vệ tinh: Thúc đẩy phát triển ngành CNHT nội địa.
Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn và phân tích tổng hợp: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu thứ cấp theo chuỗi thời gian từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, CIEM, VCCI và các tổ chức quốc tế (WB, IMF, UNCTAD, ADB).
- Phương pháp kinh tế lượng: Luận án kế thừa và phát triển mô hình trọng lực (Gravity Model) để lượng hóa tác động của FDI tới KNXK và KNNK của Việt Nam với các đối tác thương mại, đầu tư lớn.
- Dữ liệu: Dữ liệu mảng (Panel Data) giai đoạn 1988–2018.
- Kỹ thuật ước lượng: Sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), xử lý các khuyết tật mô hình (tự tương quan, phương sai sai số thay đổi) để thu được ước lượng vững.
- Phân tích so sánh: Ước lượng mô hình trên toàn bộ giai đoạn và chia thành hai giai đoạn nhỏ: giai đoạn trước khi gia nhập WTO (1988–2006) và giai đoạn sau khi gia nhập WTO (2007–2018).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trên phạm vi quốc tế và tại Việt Nam liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung:
- Tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu: Làm rõ các nghiên cứu chỉ ra tác động thúc đẩy xuất khẩu (như Aitken & cộng sự, 1997; Blomstrom & Kokko, 2003) và các nghiên cứu chỉ ra tác động ngắn hạn làm tăng nhập khẩu nhưng dài hạn có thể hỗ trợ giảm nhập khẩu (như Pacheco, 2005; Yasir Khan & cộng sự, 2018).
- Tác động của FDI tới cơ cấu hàng hóa và thị trường: Phân tích các phát hiện về chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu sang nhóm chế biến chế tạo (Zhang & Liu, 2008; Bin Xu & Lu, 2009) và mở rộng phạm vi thị trường thương mại (WTO, 1996; Fontagné, 1999).
- Nghiên cứu thực chứng tại Việt Nam: Điểm lại các công trình của Nguyễn Thanh Xuân & Yuqing Xing (2008), Sajid Anwar & Nguyễn Phi Lân (2011), Nguyễn Bích Ngọc (2016). Chương 1 đúc kết ba khoảng trống nghiên cứu chính về nội dung toàn diện, phương pháp dữ liệu mảng kết hợp so sánh mốc WTO và tính cập nhật của chuỗi số liệu 1988–2018.
Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư
Chương 2 xây dựng khung lý thuyết phân tích mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu:
- Làm rõ các khái niệm, đặc điểm của FDI, xuất nhập khẩu và các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động thương mại quốc tế (tăng trưởng kinh tế, tỷ giá hối đoái, cơ sở hạ tầng, chính sách thương mại, khoảng cách địa lý).
- Phân tích chi tiết các kênh truyền dẫn tác động trực tiếp và gián tiếp của FDI tới ba khía cạnh: kim ngạch, cơ cấu hàng hóa và thị trường xuất nhập khẩu.
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc thu hút và định hướng dòng vốn FDI phục vụ mục tiêu xuất nhập khẩu của các quốc gia, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam về phát triển công nghiệp hỗ trợ, kiểm soát chuyển giao công nghệ và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.
- Đề xuất khung phân tích tổng thể và mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu tại Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018
Chương 3 tập trung phân tích thực trạng diễn biến dòng vốn FDI, hoạt động xuất nhập khẩu và kiểm định mô hình kinh tế lượng:
| Chỉ tiêu thống kê ngoại thương và FDI |
Giai đoạn 1991–2000 |
Giai đoạn 2001–2010 |
Năm 2018 |
| Vốn FDI thực hiện lũy kế theo kỳ (tỷ USD) |
26,67 |
69,47 |
~25% vốn ĐTXH (2011–2018) |
| Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước (tỷ USD) |
>30 (năm 2001) |
100 (năm 2007) |
480 |
| Thặng dư cán cân thương mại hàng hóa (tỷ USD) |
Thâm hụt phổ biến |
Thâm hụt phổ biến |
+6,8 |
| Tỷ trọng khu vực FDI trong tổng KNXK cả nước (%) |
Tăng dần |
Tăng dần |
>71 |
| Tỷ trọng khu vực FDI trong tổng KNNK cả nước (%) |
Tăng dần |
Tăng dần |
~60 |
Phân tích định tính của chương 3 chỉ ra:
- Tác động tới kim ngạch: FDI đóng vai trò chủ đạo làm tăng KNXK của Việt Nam. Tuy nhiên, khối doanh nghiệp FDI cũng tạo ra nhu cầu nhập khẩu lớn về nguyên phụ liệu, máy móc. Giá trị gia tăng (VA) và tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm xuất khẩu chưa cao do mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa còn lỏng lẻo.
- Tác động tới cơ cấu hàng hóa: Dòng vốn FDI vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã thúc đẩy cơ cấu hàng xuất khẩu chuyển dịch từ hàng thô, sơ chế sang hàng công nghiệp chế biến, tinh chế và sản phẩm điện tử, điện thoại. Trong cơ cấu nhập khẩu, nhóm tư liệu sản xuất (máy móc, nguyên vật liệu) tăng chiếm ưu thế, trong khi nhóm hàng tiêu dùng giảm dần.
- Tác động tới thị trường: FDI thúc đẩy gia tăng mạnh mẽ kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và các quốc gia, vùng lãnh thổ chủ đầu tư hàng đầu như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU và các nước ASEAN.
Kết quả kiểm định và ước lượng mô hình kinh tế lượng:
- Kiểm định Hausman xác định mô hình tác động cố định (FEM) phù hợp hơn mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) trong việc đánh giá tác động tới KNXK và KNNK.
- Kết quả ước lượng cho thấy dòng vốn FDI có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê tới KNXK của Việt Nam. Đối với KNNK, kết quả ước lượng dài hạn phản ánh tác động ngược chiều của FDI khi năng lực cung ứng nội địa và sản xuất thay thế nhập khẩu từng bước hình thành.
- So sánh trước và sau khi gia nhập WTO: Việc gia nhập WTO vào năm 2007 làm gia tăng hệ số tác động tích cực của FDI tới cả kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, phản ánh mức độ mở rộng thương mại dưới tác động của hội nhập sâu rộng.
Chương 4: Quan điểm, giải pháp tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Chương 4 phân tích bối cảnh dòng vốn FDI quốc tế, Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới và Định hướng phát triển xuất nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2030:
- Xác định quan điểm định hướng: Thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao, thân thiện môi trường; gắn thu hút FDI với nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước và gia tăng giá trị nội địa trong hàng hóa xuất khẩu.
- Đề xuất 5 nhóm giải pháp:
- Điều chỉnh chính sách thu hút FDI: Định hướng dòng vốn vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến sâu; có cơ chế khuyến khích các dự án FDI có cam kết chuyển giao công nghệ và hợp tác với doanh nghiệp nội địa.
- Tạo lập điều kiện thuận lợi phát huy tác động lan tỏa: Nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp nội địa thông qua hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích hoạt động R&D và đổi mới sáng tạo.
- Hạn chế các tác động tiêu cực của FDI: Kiểm soát hiện tượng chuyển giá, nhập khẩu công nghệ lạc hậu; giảm thiểu áp lực chèn ép đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa.
- Tăng cường kết nối doanh nghiệp nội địa vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI: Phát triển mạnh ngành công nghiệp hỗ trợ thông qua các chính sách ưu đãi về tín dụng, mặt bằng sản xuất và chuẩn hóa quy trình chất lượng.
- Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế: Khai thác các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu để giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào một số đối tác lớn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Làm rõ cơ chế tác động trực tiếp và gián tiếp của FDI tới hoạt động xuất nhập khẩu tại nước tiếp nhận đầu tư trên cả ba khía cạnh: quy mô kim ngạch, cơ cấu hàng hóa và phạm vi thị trường.
- Xác định rõ mối liên hệ giữa dòng vốn FDI và cán cân thương mại: FDI làm tăng nhanh KNXK nhưng đồng thời làm gia tăng nhu cầu nhập khẩu linh kiện, nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất; chỉ khi tự chủ được nguồn cung ứng và phát triển CNHT thì giá trị gia tăng (VA) và tỷ lệ nội địa hóa mới được cải thiện bền vững.
- Phân tích tính hai mặt của các kênh truyền dẫn gián tiếp (tác động tràn): Kênh áp lực cạnh tranh, chuyển giao công nghệ, di chuyển lao động có thể tạo động lực nâng cao năng lực cho doanh nghiệp nội địa, nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro chèn ép thị phần và gây ra hiện tượng chảy máu chất xám từ doanh nghiệp nội sang khu vực FDI.
- Chứng minh trên phương diện lý luận rằng việc gia nhập WTO đóng vai trò là yếu tố khuếch đại, làm tăng mức độ tác động của dòng vốn FDI tới hoạt động ngoại thương của nước tiếp nhận đầu tư.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện về tác động của FDI đối với xuất nhập khẩu của Việt Nam trong suốt 30 năm (1988–2018), chỉ rõ khu vực FDI đóng góp trên 71% KNXK và gần 60% KNNK vào năm 2018.
- Lượng hóa cụ thể tác động của FDI tới KNXK và KNNK thông qua mô hình dữ liệu mảng, khẳng định FDI tác động thuận chiều tới KNXK và làm thay đổi cơ cấu nhập khẩu theo hướng tăng tỷ trọng tư liệu sản xuất.
- Đánh giá thực chứng sự khác biệt về cường độ tác động của FDI trước và sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO (năm 2007).
- Xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp và kiến nghị thực tiễn có tính khả thi nhằm hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước điều chỉnh chính sách thu hút FDI thế hệ mới và định hướng phát triển xuất nhập khẩu bền vững đến năm 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Về phạm vi định lượng: Do hạn chế về tính sẵn có và đồng nhất của hệ thống dữ liệu chuỗi thời gian phân rã theo ngành và sản phẩm, phần mô hình kinh tế lượng mới chỉ dừng lại ở việc lượng hóa tác động của FDI tới tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu, chưa lượng hóa riêng biệt cho từng nhóm hàng hoặc từng phân ngành cụ thể.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng lượng hóa tác động tràn của FDI theo cấp độ vi mô (sử dụng dữ liệu cấp doanh nghiệp từ Tổng điều tra doanh nghiệp hàng năm) để đo lường cụ thể mức độ lan tỏa công nghệ dọc và ngang sang các doanh nghiệp nội địa theo từng phân ngành công nghiệp hỗ trợ.
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương): Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế thu hút FDI có chọn lọc, xây dựng các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ và hoạch định chính sách ngoại thương giai đoạn 2021–2030.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế đầu tư, Kinh tế phát triển, Thương mại quốc tế: Tài liệu cung cấp khung lý thuyết hệ thống, phương pháp ứng dụng mô hình trọng lực trong phân tích dữ liệu mảng và tổng quan tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ FDI – xuất nhập khẩu.
- Đối với các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp: Cung cấp thông tin tham khảo về xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI, giúp doanh nghiệp nội địa nhận diện cơ hội liên kết sản xuất và đáp ứng tiêu chuẩn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI trong hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt mức nào vào năm 2018?
Theo số liệu thống kê được luận án trình bày, vào năm 2018, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (DN FDI) chiếm trên 71% tổng kim ngạch xuất khẩu và chiếm gần 60% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
Câu hỏi 2: Mô hình kinh tế lượng trong luận án đưa ra kết luận gì về tác động của FDI tới KNXK và KNNK?
Kết quả ước lượng mô hình dữ liệu mảng (kế thừa mô hình trọng lực với kiểm định Hausman lựa chọn mô hình FEM) khẳng định FDI có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê tới kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Trong dài hạn, FDI có tác động ngược chiều tới kim ngạch nhập khẩu khi năng lực sản xuất nội địa thay thế hàng nhập khẩu gia tăng.
Câu hỏi 3: Việc Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 có ảnh hưởng như thế nào đến tác động của FDI tới xuất nhập khẩu?
Kết quả so sánh ước lượng hai giai đoạn trước WTO (1988–2006) và sau WTO (2007–2018) chỉ ra rằng việc gia nhập WTO đã làm gia tăng rõ rệt mức độ tác động tích cực của FDI tới cả kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam.
Câu hỏi 4: Luận án chỉ ra những tác động tích cực nào của FDI chưa đạt được như kỳ vọng?
Tác giả xác định các điểm chưa đạt kỳ vọng gồm: tác động lan tỏa công nghệ và tri thức từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp xuất khẩu nội địa còn hạn chế; mức độ gia tăng giá trị gia tăng (VA) và tỷ lệ nội địa hóa cho hàng xuất khẩu còn thấp; sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu sang các sản phẩm có hàm lượng công nghệ, chất xám cao của khu vực nội địa diễn ra chậm.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thương đã giải quyết một cách có hệ thống mục tiêu đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong giai đoạn 1988–2018. Thông qua việc kết hợp phân tích định tính toàn diện trên ba khía cạnh kim ngạch, cơ cấu hàng hóa, thị trường với phương pháp ước lượng mô hình kinh tế lượng dữ liệu mảng, công trình đã làm rõ tính hai mặt của dòng vốn FDI và khẳng định vai trò thúc đẩy ngoại thương sau khi gia nhập WTO. Các phát hiện thực chứng và hệ thống giải pháp đề xuất đến năm 2030 cung cấp cơ sở khoa học giá trị cho công tác hoạch định chính sách thu hút FDI thế hệ mới gắn liền với mục tiêu phát triển xuất nhập khẩu bền vững.