Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu Chương này trình bày tóm lược lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đặt ra câu hỏi nghiên cứu, làm rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cuối cùng là cho biết nghiên cứu theo những phương pháp gì. Chương 2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan Chương 2 nêu và định nghĩa các khái niệm quan trọng, trình bày, tóm tắt lại các nghiên cứu trước về tác động giữa đòn bẩy tài chính và đầu tư của công ty để làm tiền đề đưa các biến vào mô hình ước lượng được sử dụng ở chương 3, đồng thời so sánh, giải thích kết quả thu được ở chương 4. Chương 3 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 3 đưa ra giả thuyết nghiên cứu, trình bày phương pháp thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu bằng phần mềm STATA, từ đó đề xuất mô hình hồi quy phù hợp thể hiện tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư của công ty. Chương 4 Kết quả nghiên cứu Từ nguồn dữ liệu đã thu thập, chương 4 tiếp tục xử lý dữ liệu chia làm 2 nhóm dữ liệu bảng theo phân tích chương 2, sử dụng phần mềm STATA như đã đề xuất ở 123doc 8 chương 3 để phân tích và đưa ra kết quả nghiên cứu từ bảng dữ liệu.
Đồng thời, chương này cũng giải thích kết quả nghiên cứu, và so sánh kết quả nghiên cứu này với kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đó. Chương 5 Kết luận và khuyến nghị Chương 5 kết luận lại tiến trình nghiên cứu, từ đó đưa ra một số đóng góp trong thực tiễn, kiến nghị nhà quản trị nên có những quyết định đúng đắn tùy theo từng trường hợp cụ thể theo quy mô thực tế. Bên cạnh đó, cũng phải đưa ra những hạn chế của nghiên cứu để cải thiện và rút kinh nghiệm cho những nghiên cứu về sau. 123doc 9 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.
Một số khái niệm 2. Đầu tư Theo cách hiểu thông thường trong kinh tế học, đầu tư được định nghĩa như là việc sử dụng, theo bất cứ cách nào, các nguồn lực với mục đích làm tăng sản lượng hay thu nhập trong tương lai. Theo Điều 3, Luật đầu tư sửa đổi bổ sung năm 2018 cho rằng đầu tư kinh doanh là việc mà nhà đầu tư bỏ vốn bằng tiền hoặc các tài sản khác để thực hiện hoạt động kinh doanh cụ thể qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Các hoạt động đầu tư kinh doanh này phải được tổ chức thực hiện theo đúng quy định pháp luật.
Ngoài khái niệm về đầu tư, sách phân tích tài chính cũng có đề cập đến quyết định đầu tư, thường quyết định đầu tư với các doanh nghiệp trong ngành F&B sẽ liên quan đến một vài nhân tố như là loại hình đầu tư (bao gồm thâm dụng kỹ thuật và lao động), tổng vốn đầu tư, thời gian hoạt động, phân bổ tài sản, và các thỏa thuận hợp đồng (mua, cho thuê và đi thuê) (Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Thị Liên Hoa, 2008). Giống như hoạt động tài trợ, những quyết định hoạt động đầu tư xác định cấu trúc tổ chức của công ty (tập trung hay phi tập trung), tác động đến tăng trưởng và ảnh hưởng đến mức độ rủi ro kinh doanh. Mở rộng hơn về đầu tư, đầu tư vượt mức là khi nhà quản trị đưa ra các quyết định đầu tư mà không đặt lợi ích của cổ đông lên hàng đầu mà đầu tư quá nhiều (Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự, 2013). Trường hợp một doanh nghiệp thừa tiền mặt sau khi đầu tư cho tất cả những dự án có NPV dương, nhà quản trị có xu hướng đầu tư vào những dự án có NPV âm.
Nói cách khác, những nhà quản trị luôn muốn mở rộng quy mô doanh nghiệp bất chấp dự án đó có mang lại lợi nhuận hay không. 123doc 10 Đầu tư dưới mức là khi nhà quản trị quyết định đầu tư ít vào 1 hạng mục và đầu tư trong 1 thời gian dài (Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự, 2013). Vì những dự án có rủi ro cao thường mang lại tỷ suất sinh lợi vượt trội cho các cổ đông, còn khi rủi ro xảy ra thì tổn thất phần lớn được dịch chuyển sang trái chủ. Lý thuyết đầu tư dưới mức cho rằng các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao thường ít có khả năng khai thác những cơ hội tăng trưởng có giá trị so với những doanh nghiệp có mức đòn bẩy thấp vì chi phí vốn từ bên ngoài và tính thanh khoản thấp dễ đẩy doanh nghiệp rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính.
Hay, nói cách khác, đầu tư dưới mức còn là tình trạng một công ty từ chối những dự án an toàn rủi ro thấp để đầu tư vào những dự án có rủi ro cao gây thiệt hại cho trái chủ. Việc phân loại đầu tư dựa trên nhiều tiêu chí và nhiều góc độ, mỗi góc độ sẽ phân loại đầu tư theo những cách khác nhau. Từ những góc độ phân loại đó, ta biết mục đích sử dụng vốn của nhà quản trị khi đầu tư là gì, từ đó tài trợ và huy động nguồn vốn phù hợp với mục đích sử dụng vốn. Quyết định tài trợ, đầu tư cho một phương án kinh doanh luôn gắn liền với quyết định huy động vốn.
Để huy động vốn doanh nghiệp phải xem xét đến các thứ tự ưu tiên nguồn vốn cũng như các kênh huy động phù hợp. Việc sử dụng nợ hay sử dụng đòn bẩy tài chính cũng là một trong các kênh sử dụng vốn tối ưu mà các nhà quản trị cân nhắc khi đưa ra quyết định đầu tư. Đòn bẩy tài chính Theo sách tài chính doanh nghiệp căn bản, tác giả cho rằng dưới góc độ tài chính thường mượn thuật ngữ “đòn bẩy” để ám chỉ việc sử dụng một nguồn tài trợ có chi phí cố định để gia tang khả năng sinh lợi của công ty (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Cũng theo tác giả, đòn bẩy được chia làm hai loại là đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính.
Tuy nhiên, 2 loại này khác biệt nhau. Đòn bẩy hoạt động là mức độ sử dụng chi phí hoạt động cố định của công ty. Còn đòn bẩy tài chính được định nghĩa như là mức độ theo đó các chứng khoán có thu nhập cố định (nợ và cổ phiếu ưu đãi) được sử dụng trong cơ cấu nguồn vốn của công ty. Đòn bẩy hoạt động khác 123doc 11 hẳn đòn bẩy tài chính, vì công ty không thể lựa chọn đòn bẩy hoạt động được nhưng đòn bẩy tài chính thì có thể được quyết định thông qua chiến lược của các nhà quản trị.
Bài luận văn này chỉ đứng dưới góc độ đòn bẩy tài chính để xem xét các quyết định đầu tư của công ty. Đòn bẩy tài chính còn được hiểu là việc sử dụng vốn đi vay cho mục đích kinh doanh sinh lời thay vì dùng vốn tự có. Đòn bẩy trên tài chính liên quan đến việc sử dụng nợ để thu lợi nhuận trên tài sản. Đòn bẩy tài chính là thể hiện mức độ sử dụng vốn vay trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên 1 cổ phần thường của công ty.
Để nhà quản trị đưa ra quyết định đầu tư thì phải cân nhắc nhiều đến đòn bẩy tài chính, cân đối cả 2 chỉ tiêu nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán. Nếu chỉ tiêu nợ phải trả cao hơn vốn chủ sở hữu thì tức là công ty này sử dụng đòn bẩy với quy mô lớn, còn ngược lại, nếu vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhiều hơn nghĩa công ty này chưa nghĩ đến việc sử dụng đòn bẩy nhiều trong các quyết định đầu tư của họ. Gia tăng lợi nhuận cao là mục tiêu của các các cổ đông, trong đó đòn bẩy tài chính là một công cụ được các nhà quản lý ưa dùng. Đòn bẩy tài chính liên quan đến việc sử dụng chi phí cố định để tài trợ cho công ty và bao gồm cả những chi phí tăng thêm trước thuế và lãi vay.
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, một mức độ đòn bẩy tài chính cao hơn nghĩa là sự dao động trong thu nhập trên mỗi cổ phần thường cũng tăng tương ứng. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính thường đem lại hiệu quả cao và giúp nhà đầu tư đa dạng hóa danh mục đầu tư. Đòn bẩy tài chính là liều thuốc kích thích và nhà đầu tư thường sử dụng khi họ kỳ vọng rằng tỉ suất sinh lời trên tài sản cao hơn lãi suất vay nợ. Tuy nhiên, dùng đòn bẩy tài chính sẽ có mặt lợi và mặt hại, tức là, lợi nhuận cao đi kèm với rủi ro.
Cần có những chiến lược để có thể vận dụng mang lại được hiệu quả cao nhất. Tóm lại, đòn bẩy tài chính cung cấp cơ hội để gia tăng sức mạnh cho đồng vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp có nguồn vốn hạn chế.3 Mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư Một vài lý thuyết có nhắc đến mối quan hệ này của đòn bẩy tài chính và quyết định đầu tư như lý thuyết trật tự phân hạng. Myers và Majluf (1984) và Ross (1977) là những người đi đầu trong việc tiên phong nghiên cứu lý thuyết trật tự phân hạng thị trường. Lý thuyết này dựa trên giả thuyết cho rằng ban quản trị công ty sẽ có nhiều thông tin hơn đối với các nhà đầu tư, điều đó làm cho nguồn thông tin bất cân xứng, các nhà đầu tư sẽ không biết được tiềm năng, triển vọng và giá trị nội tại thực sự của doanh nghiệp đó.
Mà chủ yếu lý thuyết này xoay quanh việc đưa ra các quyết định đầu tư, dẫn đến các quyết định tài trợ và huy động vốn từ nhiều nguồn theo thứ tự ưu tiên: vốn nội bộ hiện có, các khoản nợ vay từ chứng khoán nợ, cuối cùng là phát hành cố phiếu, nên nếu có nhiều thông tin sẽ khiến cho các quyết định tài chính rõ ràng và đúng đắn hơn. Việc đưa ra các quyết định đầu tư phụ thuộc phần nhiều vào kiến thức của nhà quản lý và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp trong tương lai. Lý thuyết này muốn truyền tải không phải là phân tích kết cấu vốn tối ưu mà là cấu trúc vốn dẫn đến quyết định tài chính, từ đó sử dụng đòn bẩy tài chính phù hợp để đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả nhất.