Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia. Nó là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, Qúa trình đô thị hóa đang diễn ra sôi động trên khắp cả nước, từ miền bắc tới miền Nam, không đâu là không mọc lên các khu công nghiệp, khu đô thị mới. điều này đang gây ra áp lực càng ngày càng lớn đối với đất đai.
áp lực đối với đất đai là điều không thể tránh khỏi bởi chúng ta chỉ có thể sử dụng sao cho hợp lí nguồn của cải quốc gia chứ không thể thay đổi quỹ đất được quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất đô thị đã tác động đến một bộ phận dân cư. Nói đến đô thị hóa người ta thường nghĩ đến mặt lợi nhiều hơn là mặt hại, trước tiên các đô thị lớn cung cấp nhiều cơ hội việc làm, dịch vụ xã hội , năng suất lao động cao hơn. Nó góp phần chuyển hướng phát triển kinh tế và là động lực dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở cả khu vực đô thị và nông thôn. Nhưng chúng ta cũng nên nhìn cả mặt trái của quá trình đô thị hóa.
Một trong số đó là quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp đã ảnh hưởng trực tiếp tới người nông dân mất đất. Thị xã Bắc Kạn có vị trí tiếp giáp Phía bắc, đông bắc và tây giáp huyện Bạch Thông, phía nam, đông nam và tây nam giáp huyện Chợ Mới. Nằm trong tiến trình phát triển với mục tiêu Thị Xã Bắc Kạn trở thành Thành Phố trực thuộc tỉnh vào năm 2015. Thị Xã Bắc Kạn đang có những bước tiến mạnh mẽ về kinh tế - xã hội.
Nhưng song song với sự phát triển thì tình hình sử dụng đất đai có những chuyển biến đáng kể, đặc biệt là đất nông nghiệp đã bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng. Từ những vấn đề nêu trên và nhu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lí tài nguyên, dưới sự hướng dẫn của Ths Nguyễn Đình Thi, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu quá n 2 trình tốc độ đô thị hóa ảnh hưởng đến việc sử dụng đất nông nghiệp tại thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2013”. Mục đích nghiên cứu của đề tài Đánh giá được tác động và mức độ ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến đất nông nghiệp, đời sống của những hộ nông dân bị mất đất nông nghiệp và đề xuất các giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa ở địa phương. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Đánh giá được ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới đời sống của nông dân tại thị xã Bắc kạn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp người dân thích ứng dễ dàng hơn với sự thay đổi dưới tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp. - Chỉ ra được thực trạng của quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến đất nông nghiệp tại thị xã Bắc Kạn. - Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Thị xã Bắc Kạn ảnh hưởng đến sử dụng đất. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài Ý nghĩa học tập: Nghiên cứu đề tài giúp chúng ta thu thập được những kinh nghiệm và kiến thức thực tế, củng cố và hoàn thiện thêm kiến thức đã học và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá được tốc độ đô thị hóa ảnh hưởng tới diện tích đất nông nghiệp, làm căn cứ để đưa ra các biện pháp quản lý và sử dụng đất hợp lý. Yêu cầu của đề tài - công tác điều tra thu thập thông tin, số liệu. + Thông tin và số liệu thu thập phải chính xác , khách quan. + Đánh giá đầy đủ về những mặt tiêu cực và tích cực của quá trình đô thị hóa đến việc sử dụng đất nông nghiệp qua các nguồn thông tin, tài liệu có sẵn.
+ chỉ ra được những biến động về đất đai của khu vực đánh giá trong giai đoạn 2010 – 2013. - Giải pháp kiến nghị đưa ra phải thực tế, có tính khả thi và phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của địa phương. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Căn cứ pháp lí - Căn cứ vào luật đất đai 2003; - Căn cứ luật quy hoạch đô thị 2009; - Căn cứ vào thông tư liên tịch số: 02/2002–TTLT–BXD – BTCCBCB ngày 08/03/2002 của bộ xây dựng – ban tổ chức cán bộ chính phủ (nay là bộ nội vụ) hướng dẫn về việc phân loại đô thị và cấp quản lí đô thị; - Căn cứ nghị định số 197/2004/NĐ – CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; - Căn cứ vào nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của chính phủ về thu tiền sử dụng đất; - Thông tư số 10/2008/TT – BXD ngày 22/4/2008 của Bộ xây dựng hướng dẫn về đánh giá, công nhận khu đô thị mới kiểu mẫu; - Căn cứ vào nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của chính phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lí đô thị; - Căn cứ nghị định số 84/2007/NĐ – CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ xung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất , trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; - Nghị định số 69/2009/NĐ – CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư; - Căn cứ nghị định số 37/2010/NĐ – CP ngày 07/4/2010 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị; - Căn cứ nghị định số 198/2004/NĐ – CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất; - Thông tư số 14/20009/TT – BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
n 4 - Quyết định số 2746/QĐ-UBND ngày 17/12/2010 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt dự án Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011-2015 của 3 cấp: Tỉnh, huyện, xã - Chỉ thị số 681/CT – TT ngày 12/5/2009 của thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010. - Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT ngày 30/06/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Cơ sở lí luận và thực tiễn về đô thị 2. Các khái niệm về đô thị Nước ta theo quy định của chính phủ, các điểm dân cư được gọi là điểm dân cư đô thị khi thỏa mãn 5 điều kiện: Thứ nhất: Là trung tâm vùng lãnh thổ hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định.
Thứ hai: Là quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn). Thứ ba: Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơn hoặc bằng 65% trong tổng số lao động, là nơi có sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển. Thứ tư: Có cơ sở hạ tầng kĩ thuật và công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị. Thứ năm: Mật độ dân cư được xác định tùy theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm của từng vùng.
Phân loại và phân cấp quản lý đô thị Theo điều 4 Nghị định số 72/2001/NĐ-CP. - Đô thị được phân thành 6 loại gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV, đô thị loại V. - Cấp quản lí đô thị gồm: + Thành phố trực thuộc trung ương. + Thành phố thuộc tỉnh: thị xã thuộc tỉnh hoặc thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương.
+ Thị trấn thuộc huyện. Chức năng đô thị Tùy theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các chức năng khác nhau. Nhìn chung đô thị có các chức năng chủ yếu sau đây. - Chức năng kinh tế : đây là chức năng chủ yếu của đô thị.
sự phát triển kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán. Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hóa. Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư. - Chức năng xã hội : chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với tăng quy mô dân cư đô thị.
Những nhu cầu về nhà ở ,y tế đi lại… là những vấn đề gắn liền với kinh tế, với cơ chế thị trường. chức năng xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở,y tế, đi lại,… thay đổi. - Chức năng văn hóa : hiện nay ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu về giải trí, giáo dục cao. Do đó cần phải có hệ thống trường học, khu vui chơi, viện bảo tàng các trung tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn.
- Chức năng quản lý : tác động của quản lí nhằm hướng nguồn lực vào mục tiêu kinh tế ,xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc , vừa nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chính đáng của cá nhân. Do đó, nhà nước phải có pháp luật và quy chế quản lí về đô thị. Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hóa của xã hội; là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và văn hóa (Nghị định số 72/2001/NĐ-CP). Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hóa nhanh chóng.