phần mở đầu, kết luận luận văn gồm 3 chƣơng sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thƣơng mại. - Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hà Nội. - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hà Nội. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa – Vai trò của nó đối với nền kinh tế 1. Các khái niệm * Khái niệm doanh nghiệp: Hiện nay trên phƣơng diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó một nội dung nhất định với một giá trị nhất định. Điều ấy cũng là đƣơng nhiên, vì rằng mỗi tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu.
Chẳng hạn: - Xét theo quan điểm luật pháp: Theo điều 04 khoản 01 của Luật Doanh Nghiệp 2005 thì: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Cũng theo Luật doanh nghiệp 2005 giải thích, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ. - Xét theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản 7 phẩm ấy”. - Xét theo quan điểm phát triển: “Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải.
Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được” (trích từ sách Kinh tế doanh nghiệp của D.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992) - Xét theo quan điểm hệ thống: Doanh nghiệp đƣợc các tác giả nói trên xem rằng “Doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự”. Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dƣới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phƣơng diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trƣờng, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải đƣợc cấu thành bởi những yếu tố sau đây: + Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năng quản lý nhƣ các bộ phận sản xuất, bộ phận thƣơng mại, bộ phận hành chính.
+ Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tƣ, thông tin. + Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thƣơng mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra. + Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nƣớc, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tƣơng lai của doanh nghiệp 8 bằng khoản lợi nhuận thu đƣợc. - Định nghĩa doanh nghiệp: Từ cách nhìn nhận nhƣ trên có thể phát biểu về định nghĩa doanh nghiệp nhƣ sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.
- Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tƣ cách pháp nhân: Tƣ cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nƣớc khẳng định và xác định. Việc khẳng định tƣ cách pháp nhân của doanh nghiệp với tƣ cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó đƣợc nhà nƣớc bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với ngƣời tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nƣớc, trách nhiệm đối với xã hội. Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể. - Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn liền với địa phƣơng nơi nó tồn tại.
- Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnh của ngƣời sáng lập (tƣ nhân, tập thể hay Nhà nƣớc); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính. Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lƣợng quản lý của những ngƣời tạo ra nó. - Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với vị trí của một địa phƣơng nhất định, sự phát triển cũng nhƣ suy giảm của nó ảnh hƣởng đến địa phƣơng đó. 9 * Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa: - Hầu hết các nƣớc trên thế giới đều xác định DNNVV theo tính ứng dụng với hai tiêu thức: tổng số vốn sản xuất kinh doanh và số lao động của doanh nghiệp.
Tại từng nƣớc, sự phân chia độ lớn của các chỉ tiêu đó cũng không hoàn toàn giống nhau, đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh. Các tiêu chí đó cũng thay đổi tùy theo ngành nghề và trình độ phát triển của từng thời kỳ. Ví dụ: Ở Philippin, tiêu chí phân loại căn cứ vào tổng số vốn, doanh nghiệp nhỏ có tổng số vốn dƣới 15 triệu peso, doanh nghiệp vừa có số vốn từ 15 triệu peso đến 60 triệu peso. Ở Pháp, các DNNVV là các doanh nghiệp có từ 10 đến dƣới 500 nhân công.
Ở Nhật Bản, các doanh nghiệp trong lĩnh vực chế tạo có từ 1- 300 lao động và số vốn kinh doanh không vƣợt quá 300 triệu Yên đƣợc coi là DNNVV, còn các doanh nghiệp trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có số lao động không vƣợt quá 100 ngƣời với số vốn kinh doanh không quá 100 triệu Yên đƣợc coi là DNNVV. DNVVN ở Việt Nam là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tƣ cách pháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn hoặc lao động tuỳ theo quy định của Chính Phủ đối với từng ngành nghề tƣơng ứng với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế. Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/06/2009 doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: 10 Bảng 1.1: Bảng phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô siêu nhỏ Tổng Tổng Số lao động nguồn Số lao động nguồn Số lao động Khu vực vốn vốn từ trên 20 I. Nông, lâm 20 t từ trên 10 từ trên 200 10 ngƣời trở t đồng nghiệp và đồng trở ngƣời đến ngƣời đến xuống đến 100 thủy sản xuống 200 ngƣời 300 ngƣời t đồng từ trên 20 II.
Công 20 t từ trên 10 từ trên 200 10 ngƣời trở t đồng nghiệp và xây đồng trở ngƣời đến ngƣời đến xuống đến 100 dựng xuống 200 ngƣời 300 ngƣời t đồng từ trên 10 III. Thƣơng 10 t từ trên 10 từ trên 50 10 ngƣời trở t đồng mại và dịch đồng trở ngƣời đến ngƣời đến xuống đến 50 t vụ xuống 50 ngƣời 100 ngƣời đồng Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ 1. Đặc điểm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Mặc dù hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣng nhìn chung, DNNVV có những đặc điểm cơ bản sau: Một là, số lượng DNNVV chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiêp đang hoạt động của cả nước và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia Trong nền kinh tế của một quốc gia, hệ thống các doanh nghiệp đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển, tăng trƣởng. Hệ thống các doanh nghiệp bao gồm các doanh nghiệp lớn, các DNNVV.
Ở Việt Nam, hiện nay số DNNVV chiếm t trọng tới trên 97% trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt 11 động trong nền kinh tế, đóng góp trên 40% GDP cả nƣớc hàng năm. Hai là, DNNVV năng động, linh hoạt, dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường Đây là một trong những đặc điểm ƣu việt của DNNVV. DNNVV chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội. Với mặt hàng phong phú, đa dạng thỏa mãn đƣợc nhu cầu tiêu dùng cá nhân cũng nhƣ nhu cầu phục vụ cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp lớn, các DNNVV dễ dàng chiếm đƣợc thị trƣờng.
DNNVV luôn phải hƣớng đến thị hiếu của ngƣời tiêu dùng, vì vậy có thể nói DNNVV là lực lƣợng phản ánh tín hiệu của thị trƣờng chính xác nhất. Mặt khác, với số vốn ít, vòng quay vốn của các DNNVV thƣờng là ngắn, các phƣơng án sản xuất kinh doanh không lâu dài nhƣ các doanh nghiệp lớn.