Chương 1: Giới thiệu nhằm làm rõ lý do chọn đe tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hôi nghiên cứu, phương pháp nghiên cửu, ý nghĩa cùa luận văn và câu trúc của bài nghiên cứu; Chuơng 2: Đưa ra cơ sớ lý thuyết và tông hợp các nghiên cứu trước đây về tác động của chính sách cô tức đên biên động giá cô phiêu, so sánh các nghiên cứu và đưa ra giả thuyết nghiên cứu; Chương 3: Trình bày tiêu chí và cách thu thập dữ liệu, phương pháp đo lường các biên, đê xuât các mô hình nghiên cửu, quy trình nghiên cứu và phương pháp phân tích sô liệu; Chuơng 4: Kêt quả của các mô hình; Chương 5: Kct luận. 5 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ BẢNG CHỦNG THỤC NGHIỆM 2.1 Khái niệm cổ tức Theo sách Tài chính DN cùa Ross, Westerfield và Jaffe tái bán lần thứ 10 năm 2021: “Thuật ngữ cô tức (dividend) thường đẻ cập đên việc phân phôi thu nhập. Nêu việc phân phối này được thực hiện lừ các nguồn không phái là thu nhập hiện tại hoặc thu nhập giừ lại tích lũy, thỉ thuật ngũ phân phổi (distribution) sc được sứ dụng thay cho cổ lức. Tuy nhiên, có thể gọi việc phân phổi từ thu nhập là cô tức và phân phối từ vốn là cô tức thanh lý (liquidating dividend).’" Cô tức là phân lợi nhuận cùa DN được chia cho cô đông dưới dạng tiên mặt hoặc cô phiếu (Gitman và Zulter, 2012).
cố tức là phần lợi nhuận sau thuế mà DN chi trá cho cổ đông, được trả băng tiên mặt hoặc cô phiêu (Brigham và Ehrhardt, 2013). Theo khoản 5 Điều 4 Luật DN 2020: “Cô tức là khoán lợi nhuận ròng được trá cho mồi cổ phần bằng liền mặl hoặc bằng tài sản khác”. Trong đó, lợi nhuận ròng (lãi ròng, lợi nhuận sau thuê) là khoán tiên còn lại sau khi lây tông doanh thu bán hàng trừ các khoản chi phí và thuế. Cổ tức có thổ được chi trã bằng tiền mặt, cổ phần cùa DN hoặc các tài sán khác theo quy định tại Điêu lệ DN.
Nêu chi trả băng tiên mặt, việc này phải được thực hiện băng Đồng Việt Nam và tuân theo các phương thức thanh toán quy định bời pháp luật. Vậy có thê hiêu răng cô tức là sô tiên mà một DN trá cho cô đông từ lợi nhuận của mình. Cổ tức có thế được trá bằng tiền mặt hoặc cố phiếu hoặc một hình thức khác như cố tức cô phiếu ưu đãi. cổ tức thường được xem như một phần thướng cho cổ đông đà đầu tư vào DN và đông thời thu hút và giừ chân các NĐT.2 Khái niệm chính sách cổ tức CSCT đỏng vai trò then chôt, sánh ngang tâm quan trọng với các QĐĐT và tài trợ.
Nó thồ hiện quan diem cùa DN về viộc phân bồ lợi nhuận sau thuế, cụ the là tý lộ giừ lại tái đâu tư và tỷ lệ chi trà cho cô đông dưới dạng cô tức (Brigham & Houston, 2013). Theo Baker và Powell (2005), CSCT là quyết định cùa DN việc trá cô tức, bao gồm lựa chọn giữa việc giừ lại lợi nhuận để tái đầu tư hay chia cho cô đông. DN thường ưu tiên 6 lợi ích của NĐT, nhừng người ưa chuộng nhận cô tức băng tiên mặt hơn là những kỳ vọng về lợi nhuận tương lai do yếu tố rủi ro tiềm ẩn. Lee (2009) định nghĩa CSCT là chiên lược mà DN sừ dụng đê xác định mức độ lợi nhuận được phân chia cho cổ đông dưới dạng cổ tức.
Al-Malkawi, Rafferty và Pillai (2010) cho rằng CSCT là lựa chọn về việc giừ lại một phần lợi nhuận không chia đế tái đầu lư hay phân phối cho các cổ đông. CSCT là một phần quan trọng trong chiến lược tài chính cua DN, quy định cách thức phân phôi lợi nhuận cho cô đông thông qua việc trâ cô lức. Cô tức được chi trá dưới dạng tiền mặt hoặc cố phiếu và các quyết định về cồ lức thường được đưa ra tại cuộc họp hội đồng quán trị hoặc đại hội cồ đông.3 Co' sỏ' lý thuyết về chính sách cổ tức 2.1Sự độc lập của chính sách cổ tức Nhiều nghiên cứu cho rằng CSCT không làm thay đôi giá trị DN, do đó không làm ânh hường đến giá cô phiếu. Miller và Modigliani (1961) đâ đưa ra lý thuyết về sự độc lập cúa chính sách cô tức với giá trị DN (Dividend Irrelevance Theory).
Miller và Modigliani (1961) lập luận rằng trong trường họp không có thuế hoặc khi thuế suất đối với cổ tức bàng tiền mặt và lãi vốn là như nhau, giá trị của một DN không bị anh hường bời chính sách cồ tức của nó. Họ cũng giả định rằng DN hoạt động trong một thị trường hiệu quà, nơi thông tin có sẵn và tiếp cận được từ nhiều nguồn mà không mất chi phí. Thêm vào đó, không có sự khác biệt trong thông tin, và DN phài hoạt động trong một thị trường hoàn toàn hiệu quà. Cuối cùng, lý thuyết này cho rằng triển vọng tương lai về hiệu quả hoạt động cùa DN là nhất quán giữa lất cá các NĐT.
Dù thị trường tài chính của Việt Nam không hoàn háo nhưng lý thuyêt này vần có tính tham khâo. Nó nhấn mạnh ràng giá cồ phiếu được xác định bời các yếu tổ khác ngoài chính sách cố tức như hiệu suất kinh doanh và triển vọng tương lai cùa DN. Do đó, trong một sổ trường hợp CSCT không phán ánh vào giá cổ phiếu, đặc biột là khi các yếu tố khác đang có tác động mạnh mẽ hơn.2 Sự không độc lập của chính sách cổ tức Quan điêm thứ hai cho rằng có sự liên quan giừa CSCT và giá trị DN, bao gồm cá việc làm tăng hoặc làm giảm giá trị DN, dân đên thay đôi và gây raBĐGCP. Các lý thuyêt ủng hộ quan điểm này có thể kể đến như: lý thuyết chi phí đại diện , lý thuyết phát tín hiệu, lý thuyết chú chim trong lòng bàn lay và lý thuyết hiệu ứng nhóm khách hàng.
Nhừng người ung hộ trường phái CSCT không độc lập bao gôm các tác giá như Black và Scholes (1974), Asquith và Mullins (1983), Baskin (1989), Allen và Rachim (1996), Ramadan (2013). Các nghiên cứu này đều cho rằng lý thuyết về tính độc lập cùa CSCT là không thực tế và sự BĐGCP có liên quan đến CSCT của DN. Lý thuyết đại diện (Agency Cost Theory) ra đời vào những năm 1960 và 1970, nhàm nghiên cửu hành vi của tô chức và tác động cua các yêu tô hoàn cánh lên DN. Những học giá úng hộ lý thuyết này có thế kể đến như Armen Alchian (1965), Ross (1973), Michael Jensen và William Meckling (1976), cùng Michael c.
Myers và Eugene Fama (1998). Lý thuyêt chi phí đại diện xuât hiện khi có xung đột lợi ích giừa nhà quản lý và cổ đông trong DN, lức là giữa những người sờ hữu lài sàn và những người sử dụng lài sân (Jensen, Solberg, & Zorn, 1992; Holder, 1998; Saxena, 1999). Lý thuyêt này cho răng các nhà quan lý có thổ đưa ra các hành động và quyết định khồng vì lợi ích cúa cô đông nhăm đạt lợi ích cá nhân hoặc tăng cường quyền lực và kiêm soát. Điêu này có thê bao gôm việc sử dụng tài sán DN cho mục đích cá nhân, tăng chi phí cho các dự án riêng hoặc đưa ra các quyết định tài chính không có lợi cho cố đông.
Chi trã cổ tức được xem là một cồng cụ đê kiêm soát các nhà quàn lý và giảm thiêu chi phí đại diện. Lý thuyết phát tín hiệu (Signaling Theory) trong lĩnh vực kinh lể và tài chinh được phát triên bời hai nhà kinh tê học người Mỳ là Michael Spence và Joseph Stiglitz vào nhừng năm 1970. Lý thuyết phát tín hiệu đề xuất rằng các DN sử dụng CSCT đế gửi tín hiệu về sức mạnh tài chính và triên vọng lợi nhuận của mình đên thị trường (Ross, 1977). Việc DN quyết định và thông báo về việc chi trả cô tức mang ý nghía về sức khóe tài chính, hiệu suất kinh doanh và triển vọng cùa DN.
Lý do là do sự bất cân xứng thông tin giữa các bên liên quan, cụ thê NĐT cho rằng họ luôn năm ít thông tin vê DN hơn ban quán trị, vì vậy họ tin rằng cổ tức mang thông điệp mà nhà quản trị muốn truyền tái (Bhattacharya, 1979; Aharony 8 và Swary, 1980; Asquith và Mullins, 1983). Cô tức cao và ôn định cho thây DN đang cỏ lợi nhuận ôn định và có khá năng tạo ra dòng liền. Ngược lại, việc giám hoặc không chi trá cồ tức có thổ cho thấy khó khăn tài chính hoặc triển vọng kinh doanh không tốt. Lý thuyêt chú chim trong lòng bàn lay (Bird-in-the-Hand Theory) đà được đê xuât bời các nhà kinh tế như Gordon (1962), Diamond (1967), Lintner (1956) và Water (1963).
Theo lý thuyết này, NĐT thường ưa thích nhận cố tức ngay lập tức thay vì chờ đợi lợi nhuận từ việc tái đầu tư cùa DN trong tương lai. NĐT cho rằng cố tức ốn định và chắc chắn. NĐT có ưu tiên với sự định kỳ và chắc chắn cùa thu nhập vì vậy cô tức đáp ứng được yêu cầu này. Trong ngừ cánh của Việt Nam, nếu các DN thường xuyên trá cô tức cao, NĐT có thể tin tường vào sự ôn định của DN đó, từ đỏ giàm đi sự BĐGCP.
Lý thuyết hiệu ứng nhóm khách hàng (Clientele Effect) không dược đê xuât bởi một cá nhân cụ thể mà phát triển từ nhiều nghiên cứu và quan sát thực tể về hành vi TTCK. Hiệu ứng này là một khái niệm trong tài chính hành vi giải thích sự BĐGCP cùa một DN dựa trên nhu câu và mục tiêu của các NĐT. Nhu câu này phụ thuộc vào các yêu tô như thuê, cổ lức hoặc những thay đồi trong chính sách có ảnh hưởng đến cồ phiếu. Tuồi cũa NĐT và TLCTCT của danh mục đâu tư có môi tương quan dương, tức là NĐT càng lớn tuôi thì càng thích được trá cô tức cao (Pettit, 1977; Lewellen và cộng sự, 1978).
Scholz (1992) phát hiện ràng sự khác biệt về thuế suất đánh trên lài vốn và cổ tức ảnh hường đến sờ thích trong việc lựa chọn cô phiếu có TLCTCT cao hay thấp trong danh mục đầu tư cùa họ.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây trên thế giói Các nghiên cứu về tác động cùa CSCT đến BĐGCP đà cho thấy sự đa dạng và không đồng nhất trong kết quá, phụ thuộc vào bổi cảnh thị trường và phương pháp nghiên cửu cụ thế. Baskin (1989) tại Mỳ cho thấy TSCT cao liên quan đến BĐGCP thấp hơn. Tương tự, Profilet & Bacon (2013) tại Mỳ cũng xác nhận kêt quà này. Hashemijoo & cộng sự (2012), Sew & cộng sự (2015) tại Malaysia chi ra rằng TSCT có mối lien hộ tiêu cực với BĐGCP.
Tại Anh, nghiên cứu của Hussainey & cộng sự (2011) phát hiện TLCTCT có mối liên hệ tiêu cực với BĐGCP.