CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu về chia sẻ tri thức trong trường đại học Hicks (2000) lập luận rằng vốn trí tuệ và tri thức của con người là tài sản quan trọng nhất của một tổ chức, tạo thành các nguồn lực cạnh tranh trong tổ chức. Do đó, chia sẻ tri thức có thể được coi là rất quan trọng đối với sự thành công của tổ chức. Trên thực tế, chia sẻ tri thức còn đặc biệt quan trọng đối với một tổ chức dựa trên tri thức như trường đại học. Việc chia sẻ tri thức theo từng bối cảnh cụ thể của các cơ sở giáo dục đại học rất đáng được quan tâm nghiên cứu.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều nhân tố rào cản tác động đến quản trị tri thức và chia sẻ tri thức (Riege, 2005; Sun & Scott, 2005). Ở cấp độ cá nhân, một số rào cản được xác định bởi Riege (2005) đó là: thiếu thời gian để chia sẻ tri thức, lo lắng cho tính bảo mật của công việc, thiếu nhận thức về lợi ích của chia sẻ tri thức, ưu thế của tri thức hiện so với tri thức ngầm, sự khác biệt trong kinh nghiệm, độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thiếu thời gian giao tiếp và tương tác, kỹ năng giao tiếp yếu, thiếu niềm tin về con người, niềm tin về độ chính xác của nguồn tri thức và sự khác biệt văn hoá, sợ không được ghi nhận. Mặc dù thông qua động lực và chuyên môn có thể giải thích cho sự tham gia của cá nhân trong việc chia sẻ tri thức (Wang & Lai, 2006), nhưng không phải lúc nào cũng dễ dự đoán khi nào và tại sao những nhân viên chia sẻ tri thức của họ (Duguid, 2005). Vì vậy, những yếu tố cá nhân cũng là một trong những yếu tố quan trọng cần xem xét khi nghiên cứu hành vi chia sẻ tri thức (Nonaka, 1994; Wasko & Faraj, 2000).
Ở cấp độ tổ chức, Riege và một số tác giả đề cập những rào cản lớn về chia sẻ tri thức như: thiếu lãnh đạo và hướng quản lý, thiếu không gian chính thức và phi chính thức, thiếu phần thưởng rõ ràng và hệ thống ghi nhận, văn hoá doanh nghiệp không khuyến khích, thiếu ưu tiên sự vận dụng tri thức của nhân viên giàu kinh nghiệm, thiếu cơ sở vật chất, công ty thiếu nguồn lực để thực hiện chia sẻ tri thức thích hợp, hạn chế trong thông tin và lượng tri thức, hạn chế môi trường làm việc, cơ cấu và quy mô tổ chức. Một yếu tố khác dường như có tác động đáng kể đến chia sẻ tri thức là môi trường tổ chức. Nếu không có một bầu không khí phù hợp trong tổ chức, những cố gắng khác để chia sẻ tri thức có thể vô nghĩa. Hơn thế nữa, việc thiếu văn hoá giao tiếp và khám phá những ý tưởng mới có thể trở thành rào cản chính đối với chia sẻ tri thức (Sun & Scott, 2005).
Tri thức được coi là yếu tố cần thiết dẫn đến lợi thế cạnh tranh cho các tổ chức (Kukko, 2013; Nonaka & Takeuchi, 1995; Bello & Oyekunle, 2014). Quản lý tri thức là 8 cách thức gắn các mục tiêu của tổ chức với tri thức, dẫn đến tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh hơn nữa (Amayah, 2013; Howell & Annansigh, 2013; Nonaka & Takeuchi, 1995). Quản lý tri thức thường được thảo luận rộng rãi trong các tổ chức vì lợi nhuận, tuy nhiên trong các cơ sở giáo dục đại học, tri thức đóng một vai trò rất quan trọng, vì vậy cần xem xét việc thiết lập quy trình quản lý tri thức để tạo ra những lợi ích (Prahalad và cộng sự, 1990). Các trường Đại học cũng là một tổ chức kinh doanh tạo ra và phổ biến tri thức (Basu & Sengupta, 2007; Cheng và cộng sự, 2009; Daud & Abdul Hamid, 2006; Kim & Ju, 2008; Omerzel và cộng sự, 2011; Rowley, 2000; Sohail & Daud, 2009).
Dưới góc độ này, quản lý tri thức rõ ràng là một công cụ có giá trị để đáp ứng mục tiêu của tổ chức (Loh và cộng sự, 2010). Chia sẻ tri thức là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý tri thức (Amayah, 2013; Cabrera, 2005; Fullwood và cộng sự, 2013). Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu tập trung vào các yếu tố cản trở việc chia sẻ tri thức giữa các nhân viên (Cabrera, 2002; Gurteen, 1999; McAdam và cộng sự, 2012; Magnier-Watanabe & Senoo, 2010; Michailova & Hutchings, 2006; Muller, 2005; Reid, 2003; Suhaimee và cộng sự, 2006), nhưng rất ít nghiên cứu vấn đề này trong bối cảnh giáo dục đại học. Trường đại học được coi là một diễn đàn cho các học giả chia sẻ ý tưởng và hiểu biết sâu sắc (Martin & Marion, 2005; Tan, 2016; Nielsen & Cappelen, 2014).
Là các tổ chức chuyên sâu về tri thức, các trường đại học đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra tri thức thông qua nghiên cứu và phổ biến qua các tài liệu xuất bản. Ngoài tri thức được sở hữu bởi các giảng viên và nhà nghiên cứu, các trường đại học còn có một kho tri thức khổng lồ (Rowley, 2000). Các giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học có vai trò trọng yếu trong việc sản xuất và tái sử dụng tri thức và tài sản trí tuệ của họ thông qua nghiên cứu và giảng dạy (Ramayah và cộng sự, 2013). Tuy nhiên, họ không sẵn lòng chia sẻ tri thức có thể là do tổ chức thiếu hệ thống và các chính sách để bảo vệ tài sản trí tuệ của họ (Kim & Ju, 2008), chủ nghĩa cá nhân trong học thuật và nghiên cứu (Kim & Ju, 2008; Fullwood, 2013), sự phức tạp của các khoa học thuật (Fullwood, 2013), và sự trung thành với quy tắc hơn là với tổ chức (Cronin, 2000).
Trong các trường đại học, Lou và cộng sự (2007) đã nghiên cứu hành vi chia sẻ tri thức của các giảng viên tại các trường đại học công nghệ. Kết quả chỉ ra rằng các giảng viên gặp phải các rào cản khi chia sẻ tri thức với người khác và có sự không đồng thuận về các vấn đề như bảo mật công việc cá nhân, khuyến khích học tập và quyền sở hữu trí tuệ. Các giảng viên đều nhất trí rằng khối lượng công việc nghiên cứu quá nặng nên khó để chia sẻ tri thức với người khác và cơ sở vật chất tạo điều kiện cho việc chia sẻ tri thức ở trường đại học quá cũ để sử dụng. Bên cạnh đó, các nghiên cứu được thực 9 hiện tại các trường đại học ở Châu Á chỉ ra rằng hoạt động chia sẻ tri thức trong môi trường học thuật gặp phải các rào cản tương tự như trong môi trường kinh doanh (Cheng và cộng sự, 2009).
Trong các cơ sở giáo dục đại học, việc chia sẻ tri thức thường khó khăn do một số rào cản như yếu tố văn hoá và tính quan liêu. Suhaimee và cộng sự (2006) nhận thấy rằng sự tồn tại của văn hoá chia sẻ tri thức trong các cơ sở giáo dục đại học công lập của Malaysia vẫn còn rất thấp. Basu & Sengupta (2007) cũng phát hiện thiếu văn hoá chia sẻ tri thức trong các trường kinh doanh ở Ấn Độ, hầu hết các hoạt động đều mang tính cá nhân, giới hạn trong nội bộ nhóm đồng nghiệp và tương tác với các chuyên gia bên ngoài chỉ giới hạn trong phạm vi quen biết cá nhân. Ngoài ra, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm.
Nghiên cứu của Wah và cộng sự (2007) ở Singapore đã chỉ ra phần thưởng, sự khuyến khích, sự cởi mở của người chia sẻ và mối quan tâm về chi phí - lợi ích của việc lưu giữ tri thức là những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến chia sẻ tri thức. Còn theo Abdullah và cộng sự (2008) khi thực hiện nghiên cứu tại 7 trường đại học công lập ở Malaysia thì nên có các biện pháp khuyến khích và phần thưởng thích hợp để động viên chia sẻ tri thức. Cheng và cộng sự (2009) đã kiểm tra hành vi chia sẻ tri thức giữa các học giả trong một trường đại học tư ở Malaysia, trong đó nêu bật các yếu tố có ảnh hưởng tác động đến hành vi chia sẻ tri thức của các học giả (các yếu tố tổ chức, cá nhân và công nghệ). Họ phát hiện ra rằng hai yếu tố ảnh hưởng quan trọng ngăn cản giới học thuật chia sẻ tri thức là hệ thống khuyến khích và kỳ vọng cá nhân.
Đồng thời, việc bắt buộc tham gia là một chính sách không hiệu quả khi thúc đẩy hành vi chia sẻ tri thức giữa các học giả. Do tính chất không độc quyền và không cạnh tranh như hàng hoá công cộng, Cheng và cộng sự cho rằng trong học thuật, tích trữ tri thức có thể phổ biến hơn chia sẻ kiến thức. Vấn đề tích lũy tri thức cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Basu & Sengupta tại một trường kinh doanh ở Ấn Độ (2007). Họ thấy rằng thiếu vắng văn hóa chia sẻ tri thức, hầu hết các hoạt động mang tính cá nhân, giới hạn trong nhóm đồng nghiệp nội bộ và sự tương tác với các chuyên gia bên ngoài chỉ giới hạn trong phạm vi quen biết cá nhân.
Jain và cộng sự (2007) nghiên cứu về việc chia sẻ tri thức giữa 265 giảng viên trong các trường kinh doanh tư nhân và công lập ở Malaysia. Kết quả cho thấy các giảng viên nhận thức được tầm quan trọng của việc chia sẻ tri thức trong môi trường học thuật. Tuy nhiên, việc thiếu phần thưởng và sự công nhận, thiếu thời gian và thiếu các hoạt động là những rào cản mạnh mẽ nhất đối với việc chia sẻ tri thức. Trong khi đó, sự hỗ trợ từ lãnh đạo cấp cao, sự tương xứng giữa phần thưởng và hiệu suất, các tài liệu trên website và các bản tin định kỳ là rất quan trọng để thúc đẩy chia sẻ tri thức.
Seonghee và Boryung (2008) đã xác định 4 yếu tố: nhận thức, niềm tin, sự cởi mở trong giao tiếp; sự hợp tác; hệ thống khen thưởng và kênh giao tiếp ảnh hưởng 10 như thế nào đến việc chia sẻ tri thức giữa các thành viên trong trường đại học và giữa các trường với nhau. Kết quả cho thấy nhận thức là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đối với việc chia sẻ tri thức của giảng viên, sau đó là khen thưởng. Shin và cộng sự (2008) đã sử dụng Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) để giải thích ý định chia sẻ tri thức giữa các giảng viên trong một cơ sở giáo dục đại học công lập.