Tác Động Của Chia Sẻ Tri Thức Đến Kết Quả Hoàn Thành Công Việc Của Giảng Viên Tại Hà Nội

Tài liệu nghiên cứu Tác động của chia sẻ tri thức tới kết quả hoàn thành công việc của giảng viên các trường đại học, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Quản Trị Nhân Lực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

212
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM KẾT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Nghiên cứu về chia sẻ tri thức trong trường đại học

1.2. Nghiên cứu về kết quả hoàn thành công việc của giảng viên

1.3. Nghiên cứu về tác động của chia sẻ tri thức tới kết quả hoàn thành công việc của giảng viên

1.3.1. Các nghiên cứu về ảnh hưởng trực tiếp của chia sẻ tri thức đến kết quả hoàn thành công việc

1.3.2. Các nghiên cứu về ảnh hưởng gián tiếp của chia sẻ tri thức đến kết quả hoàn thành công việc của người lao động

1.4. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Trường đại học

2.1.1. Đặc điểm của trường đại học

2.1.2. Vai trò của trường đại học

2.2. Tri thức và chia sẻ tri thức

2.2.1. Chia sẻ tri thức

2.2.2. Các lý thuyết nền tảng

2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức

2.2.4. Thang đo chia sẻ tri thức

2.3. Sự hài lòng trong công việc

2.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc

2.3.2. Các thang đo sự hài lòng trong công việc

2.4. Kết quả hoàn thành công việc của giảng viên

2.4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoàn thành công việc

2.4.2. Các thang đo kết quả hoàn thành công việc

2.5. Tác động của chia sẻ tri thức tới kết quả hoàn thành công việc

2.5.1. Tác động trực tiếp của chia sẻ tri thức tới kết quả hoàn thành công việc của giảng viên

2.5.2. Tác động gián tiếp của chia sẻ tri thức tới kết quả hoàn thành công việc của giảng viên thông qua vai trò trung gian của yếu tố “Sự hài lòng trong công việc”

2.6. Mô hình nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2. Nghiên cứu định tính

3.3. Nghiên cứu định lượng

3.4. Thiết kế bảng hỏi khảo sát

3.5. Diễn đạt và mã hóa lại thang đo

3.6. Các thông tin về đối tượng khảo sát

3.7. Chọn mẫu và thu thập dữ liệu

3.8. Thang đo nghiên cứu

3.8.1. Thang đo về chia sẻ tri thức

3.8.2. Thang đo về sự hài lòng trong công việc

3.8.3. Thang đo về kết quả hoàn thành công việc

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Tổng quan các trường đại học tại Hà Nội và tình hình chia sẻ tri thức của các giảng viên

4.2. Kết quả kiểm định thang đo

4.3. Thống kê mô tả dữ liệu khảo sát

4.4. Thống kê mô tả các đối tượng khảo sát

4.5. Thống kê mô tả các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu

4.6. Phân tích tương quan hai chiều

4.7. Phân tích hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương nhỏ nhất

4.8. Tác động của chia sẻ tri thức tới kết quả hoàn thành công việc

4.9. Tác động của chia sẻ tri thức tới sự hài lòng trong công việc

4.10. Tác động của sự hài lòng trong công việc tới kết quả hoàn thành công việc

4.11. Vai trò trung gian của sự hài lòng trong công việc trong mối quan hệ giữa chia sẻ tri thức và kết quả hoàn thành công việc

5. CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5.2. Tác động của chia sẻ tri thức tới kết quả hoàn thành công việc

5.3. Tác động của chia sẻ tri thức tới sự hài lòng trong công việc

5.4. Tác động của sự hài lòng trong công việc tới kết quả hoàn thành công việc

5.5. Tác động của chia sẻ tri thức và sự hài lòng trong công việc tới kết quả hoàn thành công việc

5.6. Quá trình truyền đạt tri thức

5.7. Quá trình thu nhận tri thức

5.8. Các giải pháp khác

5.9. Đóng góp mới của luận án

5.9.1. Đóng góp về mặt lý luận

5.9.2. Đóng góp về mặt thực tiễn

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tác Động Chia Sẻ Tri Thức Giảng Viên Hà Nội

Trong kỷ nguyên hiện đại, tri thức đóng vai trò là tài sản vô giá, nguồn lực then chốt tạo nên lợi thế cạnh tranh cho mọi tổ chức. Khi tri thức được lan tỏa trong đội ngũ, các quyết định trùng lặp giảm thiểu, quá trình giải quyết vấn đề diễn ra nhanh chóng hơn. Các nghiên cứu của Drucker (1993) và Kimiz (2005) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuyển giao và chia sẻ tri thức giữa các cá nhân và đơn vị để phát huy tối đa giá trị và tạo ra doanh thu cho tổ chức. Lợi ích của chia sẻ tri thức là rất lớn, thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ và sản phẩm sáng tạo với chất lượng cao, mang lại sự hài lòng cho khách hàng. Chia sẻ tri thức là quá trình tái kết hợp và phát triển tri thức (Lee & Cole, 2003), chuyển giao tri thức (đặc biệt là tri thức ẩn) từ người này sang người khác, ở cấp độ cá nhân (trao đổi) hay tập thể (đào tạo, huấn luyện). Đây là giai đoạn quan trọng của chu trình quản lý tri thức, giúp tri thức ẩn được nắm bắt và chia sẻ trong toàn tổ chức. Vì vậy, khuyến khích người lao động đón nhận thách thức mới và chia sẻ những tri thức đã tích lũy là vô cùng quan trọng.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Chia Sẻ Tri Thức Trong Giáo Dục Đại Học

Các trường đại học đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội thông qua sản xuất và chia sẻ tri thức. Sản xuất và chia sẻ tri thức là những công cụ chiến lược mạnh mẽ để nâng cao lợi thế cạnh tranh và kinh doanh của một tổ chức (UNESCO, 1998). Aslam và cộng sự (2013) cho rằng, kết quả học tập trong trường đại học phụ thuộc vào việc chia sẻ tri thức. Masele (2008) ủng hộ việc nắm bắt và ngăn chặn mất tri thức trong các trường đại học và các tổ chức khu vực công khác có thể xảy ra do nghỉ hưu, thu hẹp quy mô và thuê ngoài. Trường đại học chính là một tổ chức tri thức với sứ mệnh quan trọng nhất là sáng tạo ra tri thức.

1.2. Thực Trạng Chia Sẻ Tri Thức Tại Các Trường Đại Học Ở Hà Nội

Việt Nam hiện nay đang trong thời kỳ đổi mới giáo dục đại học theo định hướng tự chủ và cải tiến chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu của xã hội theo hướng phát huy tốt mọi nguồn lực, trong đó đặc biệt quan trọng là nguồn lực tri thức của nhà trường. Mỗi cán bộ, giảng viên cần trau dồi, phát huy nguồn lực tri thức của bản thân, áp dụng vào các hoạt động chuyên môn để từ đó nâng cao kết quả công việc cá nhân cũng như hiệu quả đào tạo, quản lý của nhà trường. Thủ đô Hà Nội là trung tâm tập trung rất nhiều trường đại học. Theo thống kê của Bộ Giáo dục Đào tạo đến 2019, tổng số các trường Đại học tại Hà Nội là 87/237 trường trong cả nước, chiếm 36,7% các trường Đại học tại Việt Nam.

II. Thách Thức Rào Cản Chia Sẻ Tri Thức Của Giảng Viên

Mặc dù nhận thức được tầm quan trọng của chia sẻ tri thức, nhưng việc đưa ra các chính sách đúng đắn để động viên, khuyến khích việc chia sẻ tri thức trong nội bộ tổ chức vẫn là một thách thức lớn. Người lao động sợ mất đi sức mạnh tri thức của họ trong tổ chức nếu chia sẻ với người khác (Davenport, 1997). Mọi người thường nói về ý tưởng và suy nghĩ của họ bằng lời nói thay vì đặt chúng vào cơ sở dữ liệu, hoặc thậm chí đôi khi họ giấu và giữ lại thông tin khi tương tác giữa các cá nhân với nhau (Huysman & Wit, 2002). Nhiều tổ chức đã quan sát điều này và thấy rằng thông tin phức tạp và có giá trị thường không chuyển từ một phần này của tổ chức sang một phần khác, nên họ phải khuyến khích nhân viên chia sẻ thông tin (Andriessen, E. Vì thế, trong quản lý tri thức, chia sẻ tri thức được xem là một trong những hoạt động khó khăn nhất (Ruggles, 1998).

2.1. Các Rào Cản Cá Nhân Ảnh Hưởng Đến Chia Sẻ Tri Thức

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều nhân tố rào cản tác động đến quản trị tri thứcchia sẻ tri thức (Riege, 2005; Sun & Scott, 2005). Ở cấp độ cá nhân, một số rào cản được xác định bởi Riege (2005) đó là: thiếu thời gian để chia sẻ tri thức, lo lắng cho tính bảo mật của công việc, thiếu nhận thức về lợi ích của chia sẻ tri thức, ưu thế của tri thức hiện so với tri thức ngầm, sự khác biệt trong kinh nghiệm, độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thiếu thời gian giao tiếp và tương tác, kỹ năng giao tiếp yếu, thiếu niềm tin về con người, niềm tin về độ chính xác của nguồn tri thức và sự khác biệt văn hoá, sợ không được ghi nhận.

2.2. Thiếu Cơ Sở Hạ Tầng Và Chính Sách Hỗ Trợ Chia Sẻ Tri Thức

Hầu hết các trường đại học, đặc biệt là ở các nước đang phát triển đều thiếu cơ sở hạ tầng cần thiết để quản lý tri thức. Iraqi-HEOC (2007) tiết lộ rằng các trường đại học Iraq không có chiến lược chia sẻ tri thức để cải thiện năng lực học thuật vì họ thiếu các khung chính sách, cơ sở hạ tầng và kỹ năng quan trọng để tận dụng tài sản tri thức. Mutula và Jacobs (2012) trong bối cảnh giáo dục đại học ở Nam Phi đã xác định việc thiếu tích hợp các hệ thống quản lý tri thức và thông tin là một phần của những thách thức cản trở việc chia sẻ tri thức trong các trường.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tác Động Chia Sẻ Tri Thức Giảng Viên

Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, Luận án đã sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng để bổ sung và phát triển thang đo. Còn đối với phương pháp nghiên cứu định lượng, Luận án sử dụng các công cụ xử lý dữ liệu phổ biến là: Phân tích thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha), phân tích khám phá nhân tố (EFA), phân tích tương quan hai chiều theo hệ số Pearson, phân tích hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả ước lượng sẽ giúp tác giả thảo luận các kết quả nghiên cứu để làm rõ vai trò trung gian của sự hài lòng trong công việc trong mối quan hệ giữa chia sẻ tri thứckết quả hoàn thành công việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu Định Tính Và Định Lượng Kết Hợp

Luận án sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng để bổ sung và phát triển thang đo. Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng các công cụ xử lý dữ liệu phổ biến như phân tích thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha), phân tích khám phá nhân tố (EFA), phân tích tương quan hai chiều theo hệ số Pearson, phân tích hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

3.2. Phạm Vi Nghiên Cứu Về Không Gian Và Thời Gian

Về không gian: đề tài tập trung vào các trường ĐH (công lập và ngoài công lập) không phân biệt quy mô và ngành nghề đào tạo ở Hà Nội (không bao gồm các trường có đầu tư nước ngoài vì cơ chế hoạt động có khác biệt lớn). Về thời gian: dữ liệu thứ cấp thu thập từ 2019-2021, dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2022-2023 dựa trên việc khảo sát lấy ý kiến của các giảng viên trong các trường đại học tại Hà Nội để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu trên cơ sở mẫu điều tra tại 20 trường đại học và học viện.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Tác Động Của Chia Sẻ Tri Thức

Thông qua việc kiểm định mô hình nghiên cứu, Luận án cho thấy chia sẻ tri thức tác động trực tiếp và gián tiếp đến kết quả hoàn thành công việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội thông qua vai trò trung gian sự hài lòng trong công việc. Kết quả của Luận án đưa ra những gợi ý cho nhà trường, các cơ quan quản lý Nhà nước để thúc đẩy hoạt động chia sẻ tri thức giữa các giảng viên, qua đó nâng cao sự hài lòng và kết quả hoàn thành công việc của giảng viên.

4.1. Chia Sẻ Tri Thức Tác Động Đến Sự Hài Lòng Trong Công Việc

Luận án cho thấy chia sẻ tri thức tác động trực tiếp đến sự hài lòng trong công việc của giảng viên. Khi giảng viên cảm thấy được chia sẻ tri thức, họ sẽ cảm thấy hài lòng hơn với công việc của mình.

4.2. Sự Hài Lòng Trong Công Việc Ảnh Hưởng Đến Kết Quả

Luận án cũng cho thấy sự hài lòng trong công việc tác động trực tiếp đến kết quả hoàn thành công việc của giảng viên. Khi giảng viên cảm thấy hài lòng với công việc của mình, họ sẽ làm việc hiệu quả hơn.

4.3. Vai Trò Trung Gian Của Sự Hài Lòng Trong Công Việc

Chia sẻ tri thức tác động gián tiếp đến kết quả hoàn thành công việc của giảng viên thông qua vai trò trung gian của sự hài lòng trong công việc. Điều này có nghĩa là, chia sẻ tri thức giúp giảng viên cảm thấy hài lòng hơn với công việc của mình, và từ đó, họ sẽ làm việc hiệu quả hơn.

V. Đóng Góp Mới Về Lý Luận Và Thực Tiễn Của Luận Án

Về lý luận, dựa trên lý thuyết trao đổi xã hội (Blau, 1964) và lý thuyết vốn xã hội (Hanifan, 1916; Nahapiet & Ghoshal, 1998), Luận án đã xây dựng được mô hình nghiên cứu về tác động của chia sẻ tri thức đến kết quả hoàn thành công việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội. Trong đó, lý thuyết vốn xã hội được sử dụng để giải thích tác động của chia sẻ tri thức đến kết quả hoàn thành công việc của giảng viên. Còn tác động của sự hài lòng tới kết quả hoàn thành công việc của giảng viên được giải thích bằng lý thuyết trao đổi xã hội. Những học thuyết này củng cố vững chắc cho mô hình nghiên cứu.

5.1. Xây Dựng Mô Hình Nghiên Cứu Dựa Trên Lý Thuyết Vốn Xã Hội

Luận án đã xây dựng được mô hình nghiên cứu về tác động của chia sẻ tri thức đến kết quả hoàn thành công việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội dựa trên lý thuyết vốn xã hội. Lý thuyết này giúp giải thích tác động của chia sẻ tri thức đến kết quả hoàn thành công việc của giảng viên.

5.2. Bổ Sung Thang Đo Phù Hợp Với Bối Cảnh Việt Nam

Thông qua cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu, cùng với phương pháp nghiên cứu định tính sơ bộ bằng việc phỏng vấn sâu đối với giảng viên trong các trường đại học tại Việt Nam, tác giả đã bổ sung thêm một số chỉ báo. Đối với thang đo về kết quả làm việc được xây dựng bởi Koopmans và cộng sự (2014), tác giả đã bổ sung thêm được chỉ báo TP6 “Tôi thành thạo các kỹ năng/phương pháp giảng dạy và nghiên cứu” đối với nhân tố “kết quả thực hiện công việc được giao” (TP). Đồng thời, đối với nhân tố “hành vi cản trở công việc” (CWB), tác giả đã bổ sung thêm được chỉ báo CWB6 “Tôi làm lãng phí tài liệu/vật tư của nhà trường”.

VI. Giải Pháp Thúc Đẩy Chia Sẻ Tri Thức Cho Giảng Viên Hà Nội

Để thúc đẩy chia sẻ tri thức và nâng cao kết quả hoàn thành công việc của giảng viên tại Hà Nội, cần có những giải pháp đồng bộ từ các trường đại học và cơ quan quản lý nhà nước. Các giải pháp này cần tập trung vào việc tạo môi trường thuận lợi cho chia sẻ tri thức, khuyến khích giảng viên tham gia vào các hoạt động chia sẻ tri thức, và cung cấp các công cụ hỗ trợ chia sẻ tri thức hiệu quả.

6.1. Xây Dựng Văn Hóa Chia Sẻ Tri Thức Trong Trường Đại Học

Cần xây dựng văn hóa chia sẻ tri thức trong trường đại học, trong đó chia sẻ tri thức được coi là một phần quan trọng của công việc và được khuyến khích, khen thưởng. Các trường đại học cần tạo ra các kênh chia sẻ tri thức đa dạng, như các buổi hội thảo, workshop, diễn đàn trực tuyến, và các nhóm nghiên cứu chung.

6.2. Đầu Tư Vào Cơ Sở Hạ Tầng Và Công Nghệ Hỗ Trợ Chia Sẻ

Các trường đại học cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng và công nghệ hỗ trợ chia sẻ tri thức, như hệ thống quản lý tri thức, phần mềm cộng tác, và các công cụ trực tuyến. Các công cụ này giúp giảng viên dễ dàng chia sẻ tri thức với nhau và tiếp cận các nguồn tri thức cần thiết.

6.3. Chính Sách Khuyến Khích Chia Sẻ Tri Thức Cho Giảng Viên

Cần có các chính sách khuyến khích chia sẻ tri thức cho giảng viên, như tăng lương, thăng chức, hoặc cấp học bổng cho những giảng viên tích cực chia sẻ tri thức. Các trường đại học cũng cần tạo ra các cơ hội cho giảng viên tham gia vào các hoạt động đào tạo và phát triển chuyên môn để nâng cao năng lực chia sẻ tri thức.

05/06/2025
Tác động của chia sẻ tri thức tới kết quả hoàn thành công việc của giảng viên các trường đại học tại hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu về chia sẻ tri thức trong trường đại học Hicks (2000) lập luận rằng vốn trí tuệ và tri thức của con người là tài sản quan trọng nhất của một tổ chức, tạo thành các nguồn lực cạnh tranh trong tổ chức. Do đó, chia sẻ tri thức có thể được coi là rất quan trọng đối với sự thành công của tổ chức. Trên thực tế, chia sẻ tri thức còn đặc biệt quan trọng đối với một tổ chức dựa trên tri thức như trường đại học. Việc chia sẻ tri thức theo từng bối cảnh cụ thể của các cơ sở giáo dục đại học rất đáng được quan tâm nghiên cứu.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều nhân tố rào cản tác động đến quản trị tri thức và chia sẻ tri thức (Riege, 2005; Sun & Scott, 2005). Ở cấp độ cá nhân, một số rào cản được xác định bởi Riege (2005) đó là: thiếu thời gian để chia sẻ tri thức, lo lắng cho tính bảo mật của công việc, thiếu nhận thức về lợi ích của chia sẻ tri thức, ưu thế của tri thức hiện so với tri thức ngầm, sự khác biệt trong kinh nghiệm, độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thiếu thời gian giao tiếp và tương tác, kỹ năng giao tiếp yếu, thiếu niềm tin về con người, niềm tin về độ chính xác của nguồn tri thức và sự khác biệt văn hoá, sợ không được ghi nhận. Mặc dù thông qua động lực và chuyên môn có thể giải thích cho sự tham gia của cá nhân trong việc chia sẻ tri thức (Wang & Lai, 2006), nhưng không phải lúc nào cũng dễ dự đoán khi nào và tại sao những nhân viên chia sẻ tri thức của họ (Duguid, 2005). Vì vậy, những yếu tố cá nhân cũng là một trong những yếu tố quan trọng cần xem xét khi nghiên cứu hành vi chia sẻ tri thức (Nonaka, 1994; Wasko & Faraj, 2000).

Ở cấp độ tổ chức, Riege và một số tác giả đề cập những rào cản lớn về chia sẻ tri thức như: thiếu lãnh đạo và hướng quản lý, thiếu không gian chính thức và phi chính thức, thiếu phần thưởng rõ ràng và hệ thống ghi nhận, văn hoá doanh nghiệp không khuyến khích, thiếu ưu tiên sự vận dụng tri thức của nhân viên giàu kinh nghiệm, thiếu cơ sở vật chất, công ty thiếu nguồn lực để thực hiện chia sẻ tri thức thích hợp, hạn chế trong thông tin và lượng tri thức, hạn chế môi trường làm việc, cơ cấu và quy mô tổ chức. Một yếu tố khác dường như có tác động đáng kể đến chia sẻ tri thức là môi trường tổ chức. Nếu không có một bầu không khí phù hợp trong tổ chức, những cố gắng khác để chia sẻ tri thức có thể vô nghĩa. Hơn thế nữa, việc thiếu văn hoá giao tiếp và khám phá những ý tưởng mới có thể trở thành rào cản chính đối với chia sẻ tri thức (Sun & Scott, 2005).

Tri thức được coi là yếu tố cần thiết dẫn đến lợi thế cạnh tranh cho các tổ chức (Kukko, 2013; Nonaka & Takeuchi, 1995; Bello & Oyekunle, 2014). Quản lý tri thức là 8 cách thức gắn các mục tiêu của tổ chức với tri thức, dẫn đến tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh hơn nữa (Amayah, 2013; Howell & Annansigh, 2013; Nonaka & Takeuchi, 1995). Quản lý tri thức thường được thảo luận rộng rãi trong các tổ chức vì lợi nhuận, tuy nhiên trong các cơ sở giáo dục đại học, tri thức đóng một vai trò rất quan trọng, vì vậy cần xem xét việc thiết lập quy trình quản lý tri thức để tạo ra những lợi ích (Prahalad và cộng sự, 1990). Các trường Đại học cũng là một tổ chức kinh doanh tạo ra và phổ biến tri thức (Basu & Sengupta, 2007; Cheng và cộng sự, 2009; Daud & Abdul Hamid, 2006; Kim & Ju, 2008; Omerzel và cộng sự, 2011; Rowley, 2000; Sohail & Daud, 2009).

Dưới góc độ này, quản lý tri thức rõ ràng là một công cụ có giá trị để đáp ứng mục tiêu của tổ chức (Loh và cộng sự, 2010). Chia sẻ tri thức là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý tri thức (Amayah, 2013; Cabrera, 2005; Fullwood và cộng sự, 2013). Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu tập trung vào các yếu tố cản trở việc chia sẻ tri thức giữa các nhân viên (Cabrera, 2002; Gurteen, 1999; McAdam và cộng sự, 2012; Magnier-Watanabe & Senoo, 2010; Michailova & Hutchings, 2006; Muller, 2005; Reid, 2003; Suhaimee và cộng sự, 2006), nhưng rất ít nghiên cứu vấn đề này trong bối cảnh giáo dục đại học. Trường đại học được coi là một diễn đàn cho các học giả chia sẻ ý tưởng và hiểu biết sâu sắc (Martin & Marion, 2005; Tan, 2016; Nielsen & Cappelen, 2014).

Là các tổ chức chuyên sâu về tri thức, các trường đại học đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra tri thức thông qua nghiên cứu và phổ biến qua các tài liệu xuất bản. Ngoài tri thức được sở hữu bởi các giảng viên và nhà nghiên cứu, các trường đại học còn có một kho tri thức khổng lồ (Rowley, 2000). Các giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học có vai trò trọng yếu trong việc sản xuất và tái sử dụng tri thức và tài sản trí tuệ của họ thông qua nghiên cứu và giảng dạy (Ramayah và cộng sự, 2013). Tuy nhiên, họ không sẵn lòng chia sẻ tri thức có thể là do tổ chức thiếu hệ thống và các chính sách để bảo vệ tài sản trí tuệ của họ (Kim & Ju, 2008), chủ nghĩa cá nhân trong học thuật và nghiên cứu (Kim & Ju, 2008; Fullwood, 2013), sự phức tạp của các khoa học thuật (Fullwood, 2013), và sự trung thành với quy tắc hơn là với tổ chức (Cronin, 2000).

Trong các trường đại học, Lou và cộng sự (2007) đã nghiên cứu hành vi chia sẻ tri thức của các giảng viên tại các trường đại học công nghệ. Kết quả chỉ ra rằng các giảng viên gặp phải các rào cản khi chia sẻ tri thức với người khác và có sự không đồng thuận về các vấn đề như bảo mật công việc cá nhân, khuyến khích học tập và quyền sở hữu trí tuệ. Các giảng viên đều nhất trí rằng khối lượng công việc nghiên cứu quá nặng nên khó để chia sẻ tri thức với người khác và cơ sở vật chất tạo điều kiện cho việc chia sẻ tri thức ở trường đại học quá cũ để sử dụng. Bên cạnh đó, các nghiên cứu được thực 9 hiện tại các trường đại học ở Châu Á chỉ ra rằng hoạt động chia sẻ tri thức trong môi trường học thuật gặp phải các rào cản tương tự như trong môi trường kinh doanh (Cheng và cộng sự, 2009).

Trong các cơ sở giáo dục đại học, việc chia sẻ tri thức thường khó khăn do một số rào cản như yếu tố văn hoá và tính quan liêu. Suhaimee và cộng sự (2006) nhận thấy rằng sự tồn tại của văn hoá chia sẻ tri thức trong các cơ sở giáo dục đại học công lập của Malaysia vẫn còn rất thấp. Basu & Sengupta (2007) cũng phát hiện thiếu văn hoá chia sẻ tri thức trong các trường kinh doanh ở Ấn Độ, hầu hết các hoạt động đều mang tính cá nhân, giới hạn trong nội bộ nhóm đồng nghiệp và tương tác với các chuyên gia bên ngoài chỉ giới hạn trong phạm vi quen biết cá nhân. Ngoài ra, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm.

Nghiên cứu của Wah và cộng sự (2007) ở Singapore đã chỉ ra phần thưởng, sự khuyến khích, sự cởi mở của người chia sẻ và mối quan tâm về chi phí - lợi ích của việc lưu giữ tri thức là những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến chia sẻ tri thức. Còn theo Abdullah và cộng sự (2008) khi thực hiện nghiên cứu tại 7 trường đại học công lập ở Malaysia thì nên có các biện pháp khuyến khích và phần thưởng thích hợp để động viên chia sẻ tri thức. Cheng và cộng sự (2009) đã kiểm tra hành vi chia sẻ tri thức giữa các học giả trong một trường đại học tư ở Malaysia, trong đó nêu bật các yếu tố có ảnh hưởng tác động đến hành vi chia sẻ tri thức của các học giả (các yếu tố tổ chức, cá nhân và công nghệ). Họ phát hiện ra rằng hai yếu tố ảnh hưởng quan trọng ngăn cản giới học thuật chia sẻ tri thức là hệ thống khuyến khích và kỳ vọng cá nhân.

Đồng thời, việc bắt buộc tham gia là một chính sách không hiệu quả khi thúc đẩy hành vi chia sẻ tri thức giữa các học giả. Do tính chất không độc quyền và không cạnh tranh như hàng hoá công cộng, Cheng và cộng sự cho rằng trong học thuật, tích trữ tri thức có thể phổ biến hơn chia sẻ kiến thức. Vấn đề tích lũy tri thức cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Basu & Sengupta tại một trường kinh doanh ở Ấn Độ (2007). Họ thấy rằng thiếu vắng văn hóa chia sẻ tri thức, hầu hết các hoạt động mang tính cá nhân, giới hạn trong nhóm đồng nghiệp nội bộ và sự tương tác với các chuyên gia bên ngoài chỉ giới hạn trong phạm vi quen biết cá nhân.

Jain và cộng sự (2007) nghiên cứu về việc chia sẻ tri thức giữa 265 giảng viên trong các trường kinh doanh tư nhân và công lập ở Malaysia. Kết quả cho thấy các giảng viên nhận thức được tầm quan trọng của việc chia sẻ tri thức trong môi trường học thuật. Tuy nhiên, việc thiếu phần thưởng và sự công nhận, thiếu thời gian và thiếu các hoạt động là những rào cản mạnh mẽ nhất đối với việc chia sẻ tri thức. Trong khi đó, sự hỗ trợ từ lãnh đạo cấp cao, sự tương xứng giữa phần thưởng và hiệu suất, các tài liệu trên website và các bản tin định kỳ là rất quan trọng để thúc đẩy chia sẻ tri thức.

Seonghee và Boryung (2008) đã xác định 4 yếu tố: nhận thức, niềm tin, sự cởi mở trong giao tiếp; sự hợp tác; hệ thống khen thưởng và kênh giao tiếp ảnh hưởng 10 như thế nào đến việc chia sẻ tri thức giữa các thành viên trong trường đại học và giữa các trường với nhau. Kết quả cho thấy nhận thức là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đối với việc chia sẻ tri thức của giảng viên, sau đó là khen thưởng. Shin và cộng sự (2008) đã sử dụng Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) để giải thích ý định chia sẻ tri thức giữa các giảng viên trong một cơ sở giáo dục đại học công lập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tác Động Của Chia Sẻ Tri Thức Đến Kết Quả Hoàn Thành Công Việc Của Giảng Viên Tại Hà Nội" khám phá vai trò quan trọng của việc chia sẻ tri thức trong môi trường giảng dạy, đặc biệt là tại Hà Nội. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc chia sẻ tri thức không chỉ nâng cao hiệu quả công việc của giảng viên mà còn góp phần tạo ra một môi trường học tập tích cực hơn cho sinh viên. Những lợi ích này bao gồm việc cải thiện kỹ năng giảng dạy, tăng cường sự hợp tác giữa các giảng viên, và nâng cao chất lượng giáo dục tổng thể.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường nghiên cứu giải pháp tăng cường hoạt động chia sẻ tri thức của cán bộ giảng viên trường đại học mở hà nội, nơi cung cấp các giải pháp cụ thể để thúc đẩy hoạt động chia sẻ tri thức. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của giảng viên trường đại học tài chính quản trị kinh doanh cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến động lực làm việc của giảng viên, từ đó liên kết với việc chia sẻ tri thức. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu nhận thức của giáp viên tiếng anh về những hoạt động phát triển nghiệp vụ phổ biến tại một số trường trung học cơ sở ở thành phố huế sẽ cung cấp thêm góc nhìn về nhận thức của giảng viên trong việc phát triển nghề nghiệp, liên quan đến việc chia sẻ tri thức trong giáo dục.

Mỗi tài liệu này là một cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của chia sẻ tri thức và tác động của nó trong giáo dục.