Chương 1. Lý luận chung về hiệu quả hoạt động và cấu trúc vốn của các NHTM Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng về hiệu quả hoạt động và cấu trúc vốn của các NHTM tại Việt Nam Chương 4: Kết quả mô hình thực nghiệm Chương 5: Giải pháp và khuyến nghị KẾT LUẬN 7. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu Thông qua mô hình kinh tế lượng và phương pháp thống kê, đề tài góp phần chứng minh độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu trước đây và đo lường mức độ tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị với mục đích nêu lên định hướng cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC NHTM 1. Khái quát về hiệu quả hoạt động của ngân hàng 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động của ngân hàng Berger và Mester (1997) coi hiệu quả hoạt động của các NHTM thể hiện ở mối quan hệ giữa doanh thu đầu ra và chi phí sử dụng các nguồn lực đầu vào hay chính là khả năng biến các nguồn lực đầu vào thành các đầu ra tốt nhất trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Cụ thể ở việc các NHTM tạo ra doanh thu đầu ra lớn nhất với giá trị các nguồn lực đầu vào nhỏ nhất.
Như vậy, hiệu quả hoạt động của NHTM có thể được hiểu theo 3 hướng: Thứ nhất đó là tối thiểu hóa chi phí, tức là sử dụng ít nhất các yếu tố đầu vào như vốn, cơ sở vật chất, lao động… để tạo ra đầu ra như trước; Thứ hai đó là giữ nguyên đầu vào nhưng tạo ra lượng đầu ra nhiều hơn; Thứ ba là sử dụng nhiều yếu tố đầu vào hơn nhưng lượng đầu ra được tạo ra tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng đầu vào. Ngoài ra, hiệu quả hoạt động của ngân hàng cũng được đánh giá thông qua xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Trong bài nghiên cứu này, các NHTM được xem là đạt hiệu quả khi đạt doanh thu đầu ra lớn nhất thông qua việc sử dụng cùng số lượng nguồn lực đầu vào với các NHTM khác nhưng chi phí sử dụng là thấp nhất và mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh. Các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng Về đo lường hiệu quả hoạt động, các nghiên cứu thực hiện đo lường thông qua tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản bình quân (ROA) hoặc tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) hoặc kết hợp đo lường dựa trên cả hai chỉ số này như các nghiên cứu của Ichsan và Cộng sự (2021), Sufian và Chong (2008), Meero (2015), Sivalingam và Cộng sự (2018), Tarek Al-Kayed và Cộng sự (2014).
Ngoài ra, hiệu quả hoạt động cũng được Aymen (2013) đo lường thông qua tỷ lệ thu nhập lãi thuần NIM và A. Goyal (2013) đo lường nhờ vào việc đánh giá tác động tỷ lệ lợi nhuận sau thuế của một cổ phiếu EPS. Phương pháp đo lường truyền thống Phương pháp truyền thống sử dụng các chỉ số được dựa trên hai biến số tài chính để thông qua đó đánh giá, phân tích và kết luận hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Hệ số tài chính sử dụng được chia thành ba nhóm: các tỷ số phản ánh khả năng sinh lời, tỷ số phản ánh hiệu quả hoạt động và các hệ số phản ánh rủi ro tài chính ngân hàng.
* Các tỷ số phản ánh khả năng sinh lời - Đánh giá về thu nhập Thứ nhất: Quy mô, tốc độ tăng trưởng thu nhập Thu nhập (t)− Thu nhập (t−1) + Tốc độ tăng thu nhập = Thu nhập (t−1) Thứ hai: Cơ cấu thu nhập Giá trị khoản thu nhập t + Tỷ trọng từng khoản thu thập = Tổng thu nhập Trong đó đặc biệt chú ý đến hoạt động tín dụng, vì đây được coi là nguồn chính tạo ra thu nhập cho ngân hàng. Ngoài ra còn cần xét đến những khía cạnh yếu tố thu nhập ngoài lãi, chênh lệch lãi suất giữa đầu ra đầu vào để đánh giá hiệu quả nguồn thu của ngân hàng. - Đánh giá về chi phí Thứ nhất: Quy mô và tốc độ tăng chi phí Chi phí (t)− Chi phí (t−1) + Tốc độ tăng chi phí = Chi phí (t−1) Thứ hai: Cơ cấu chi phí Giá trị khoản chi phí t + Tỷ trọng từng khoản chi phí = Tổng chi phí Các chỉ số này cho thấy biến động của các loại chi phí của ngân hàng, từ đó có thể thấy được hiệu quả quản lý chi phí cũng như những điểm cần chú ý từ tác động bên ngoài ảnh hưởng đến chi phí. 5 - Đánh giá về khả năng sinh lời ROA = Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản ROA là một chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tính hiệu quả quản lý.
Nó cho ta thấy liệu tài sản của ngân hàng đã thực sự được sử dụng hiệu quả để tạo ra lợi nhuận hay chưa. ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức. ROE = Lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sở hữu ROE thì thể hiện tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng, mỗi đồng vốn mà các cổ đông đầu tư vào sẽ tạo ra bao nhiêu lợi nhuận, thể hiện hiệu quả sử dụng của vốn chủ sở hữu. ROE được quyết định bởi nhiều yếu tố về khả năng sinh lời từ doanh thu (khả năng kiểm soát chi phí, thuế suất, lãi vay…), khả năng sử dụng tài sản (khả năng tạo ra thu nhập từ việc sử dụng vốn để tài trợ tài sản trong sản xuất kinh doanh) hay tỷ lệ sử dụng nợ vay.
NIM = Thu nhập lãi thuần/ Tổng tài sản có sinh lời Tỷ lệ NIM cao là một dấu hiệu quan trọng cho thấy ngân hàng đang thành công trong việc quản lý tài sản và nợ. Ngược lại, NIM thấp sẽ cho thấy ngân hàng gặp khó khăn trong việc tạo lợi nhuận. * Các tỷ số phản ánh quy mô, chất lượng tài sản – nguồn vốn - Đánh giá về tài sản Thứ nhất: quy mô, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản. Tài sản (t)− Tài sản (t−1) + Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản = Tài sản (t−1) Chỉ tiêu này dùng để đánh giá tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản năm sau so với năm trước, phản ánh sự tăng trưởng về quy mô của ngân hàng.
Tuy nhiên cần phải đánh giá đến tốc độ tăng trưởng của các khoản mục trong tổng tài sản để thấy được sự phát triển bền vững hay không của ngân hàng. Thứ hai: cơ cấu tài sản Tổng tài sản có sinh lời + Tỷ trọng tài sản có sinh lời = Tổng tài sản 6 Chỉ tiêu này đánh giá tỷ trọng đầu tư vào tài sản có sinh lời trên tổng tài sản của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện mức độ quản lý và đầu tư tài sản của ngân hàng là tốt, tuy nhiên để đánh giá việc tăng giảm thực chất có tốt hay không phụ thuộc từng thời điểm, đồng thời kết hợp với đánh giá chất lượng tài sản, khả năng quản lý tài sản và chiến lược phát triển của ngân hàng. Ngoài ra còn các chỉ số đánh giá chất lượng các khoản đầu tư cũng như, hiệu suất sử dụng tài sản cố định của ngân hàng.
- Đánh giá về nguồn vốn Thứ nhất: quy mô, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn Nguồn vốn (t)− Nguồn vốn (t−1) + Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn = Tổng nguồn vốn (t−1) Đánh giá tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của ngân hàng, phù hợp với kế hoạch tăng trưởng và tình hình kinh tế xã hội. Thứ hai: cơ cấu nguồn vốn Nguồn vốn huy động i + Tỷ trọng nguồn vốn huy động = Tổng nguồn vốn Đánh giá tỷ trọng nguồn vốn huy động từ các nguồn khác nhau trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. * Các tỷ số phản ánh rủi ro - Rủi ro thanh khoản Tính thanh khoản của NHTM được xem như khả năng tức thời để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết. Ngân hàng cần dự trữ thanh khoản để chi trả những chi phí thường xuyên như lãi tiền gửi.
và những cú sốc thanh khoản không như mong đợi như một cuộc rút tiền hàng loạt hay yêu cầu vay vốn lớn. Rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng không đủ khả năng thanh toán để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn của nó. Các chỉ số tài chính dùng để phân tích khả năng thanh khoản: + Phân tích khả năng thanh khoản trong ngắn hạn Tiền và các khoản tương đương tiền Trạng thái ngân quỹ = Tổng lượng tiền gửi (hoặc từng Tài sản) 7 Hệ số này đo lường tỷ lệ tiền mặt hiện có liệu đủ để đáp ứng các nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng không. Tổng tiền mặt + Tài sản ngắn hạn Tỷ lệ thanh toán nhanh = Tổng số khoản phải trả ngắn hạn Tỷ số này đo lường liệu ngân hàng có đủ tài sản có tính thanh khoản để đáp ứng nhu cầu thanh toán những khoản phải trả ngắn hạn không.
Ngoài ra khả năng thanh khoản còn được tính toán dựa trên các chỉ số về tiền gửi cơ sở, việc chênh lệch về kỳ hạn giữa nguồn vốn và nguồn cho vay. - Đánh giá rủi ro lãi suất Đánh giá rủi ro lãi suất của ngân hàng dựa vào khe hở nhạy cảm lãi suất: + Khe hở nhạy cảm lãi suất = Giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất – Giá trị nợ nhạy cảm lãi suất. Nếu giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất trong mỗi giai đoạn lớn hơn giá trị nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất, ngân hàng được xem là có khe hở nhạy cảm lãi suất dương. Khi đó nếu lãi suất tăng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng sẽ tăng vì thu từ lãi trên tài sản sẽ tăng nhiều hơn chi phí trả lãi cho vốn huy động.
Kết quả ngược lại đối với khe hở âm tức là giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất nhỏ hơn giá trị nợ nhạy cảm lãi suất. - Đánh giá rủi ro ngoại hối Rủi ro ngoại hối là khả năng xảy ra tổn thất khi ngân hàng ở trạng thái ngoại tệ không cân bằng và có sự biến động tỷ giá. Đánh giá rủi ro ngoại hối dựa vào trạng thái ngoại hối của từng loại ngoại tệ. Nếu TSC lớn hơn TSN thì ngoại tệ ở trạng thái dương (trạng thái trường).
Ngược lại nếu TSC nhỏ hơn TSN thì ngoại tệ ở trạng thái âm (trạng thái đoản).