Chương 1: Giới thiệu. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả và thảo luận.
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 123doc 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT KHOA HỌC VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP 2.1 Khái niệm liên quan đến cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp 2.1 Khái niệm về cấu trúc vốn Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp giữa số lượng nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Việc xác định nợ ngắn hạn thường xuyên, thường hay gây nhầm lẫn, do đó đôi khi thuật ngữ cấu trúc vốn chỉ bao gồm các thành phần còn lại. Trong đề tài nghiên cứu này tác giả sử dụng thuật ngữ “nợ” là hàm ý các khoản nợ ngắn hạn thường xuyên và nợ dài hạn của doanh nghiệp.
Cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp là cấu trúc vốn mà tại đó tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Một cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp được xác định bởi các yếu tố như rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, mức độ phá sản có thể có, chi phí đại lý và vai trò của cấu trúc vốn trong việc cung cấp các tín hiệu về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cho các thị trường vốn và đầu tư chứng khoán. Một cấu trúc vốn của doanh nghiệp nói lên khả năng vay nợ của doanh nghiệp hay cũng có thể được xem là chính sách nợ giữa các doanh nghiệp khác nhau thường khác nhau. Các xu hướng chung hay những đặc điểm mang tính hệ thống về kinh tế - tài chính ở mỗi quốc gia, mỗi chu kỳ kinh tế hay giai đoạn lịch sử nhất định đều có tác động đến chính sách nợ của doanh nghiệp.
Nhìn chung, vẫn chưa có một khái niệm đầy đủ về cấu trúc vốn mà theo đó cấu trúc vốn được hiểu và diễn giải theo các cách thức khác nhau, nhưng nhìn chung cấu trúc vốn là một thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn hình thành tài sản để đáp 123doc 5 ứng mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là sự kết hợp các nguồn tài trợ từ nợ và vốn chủ sở hữu (VCSH) của doanh nghiệp.2 Các nhân tố cấu thành cấu trúc vốn (1) Nợ phải trả Theo thông tư 200/2014/TT-BTC, nợ phải trả là loại tài khoản dùng để phán ảnh các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ, bao gồm các khoản nợ tiền vay, các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho công nhân viên và các khoản phải trả khác. Nợ phải trả của doanh nghiệp bao gồm: Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn: Là khoản tiền mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm trả trong vòng 1 năm hoặc trong 1 chu kỳ kinh doanh bình thường.
Nợ ngắn hạn gồm các khoản: - Vay ngắn hạn; - Khoản nợ dài hạn đến hạn trả; - Các khoản tiền phải trả cho người bán, người cung cấp, người nhận thầu; - Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước; - Tiền lương, phụ cấp có tính chất tiền thưởng phải trả cho người lao động; - Các khoản chi phí phải trả; - Các khoản nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn; - Các khoản phải trả ngắn hạn khác. Nợ dài hạn: Là các khoản nợ mà thời gian trả nợ trên 1 năm. Nợ dài hạn gồm các khoản sau: - Vay dài hạn cho đầu tư phát triển; - Nợ dài hạn phải trả; - Trái phiếu phát hành; - Các khoản nhận ký quỹ, ký cược dài hạn; - Ký quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm; - Dự phòng phải trả; - Các khoản nợ phải trả dài hạn khác. 123doc 6 (2) Nguồn vốn chủ sở hữu Theo thông tư 200/2014/TT-BTC, nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán.
Nguồn vốn chủ sở hữu do chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư rót vốn hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh, do đó nguồn vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ. Một doanh nghiệp có thể có một hoặc nhiều chủ sở hữu vốn. Đối với công ty Nhà nước, vốn hoạt động do nhà nước giao hoặc đầu tư nên Nhà nước là chủ sở hữu vốn. Đối với doanh nghiệp liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì chủ sở hữu vốn là các thành viên tham gia góp vốn hoặc các tổ chức, cá nhân tham gia hùn vốn.
Đối với công ty cổ phần thì chủ sở hữu vốn là các cổ đông. Đối với các doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu vốn là cá nhân hoặc chủ hộ gia đình. Loại tài khoản này phản ánh số hiện có và tình hình tăng, giảm các loại nguồn vốn thuộc chủ sở hữu doanh nghiệp, của các thành viên góp vốn trong công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần. Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: - Vốn đóng góp của các nhà đầu tư để thành lập mới hoặc mở rộng doanh nghiệp.
Chủ sở hữu vốn của các doanh nghiệp có thể là Nhà nước, cá nhân hoặc các tổ chức tham gia góp vốn, các cổ đông mua và nắm giữ cổ phiếu; - Các khoản thặng dư vốn cổ phần do phát hành cổ phiếu cao hơn hoặc thấp hơn mệnh giá; - Các khoản nhận biếu, tặng, tài trợ (nếu được ghi tăng vốn chủ sở hữu); - Vốn được bổ sung từ kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của chính sách tài chính hoặc quyết định của các chủ sở hữu vốn, của Hội đồng quản trị; - Các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, và các quỹ hình thành từ lợi nhuận sau thuế (quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, các quỹ khác 123doc 7 thuộc vốn chủ sở hữu, lợi nhuận chưa phân phối, nguồn vốn đầu tư XDCB,…); - Giá trị cổ phiếu quỹ làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu.3 Các tỷ số đo lường cấu trúc vốn Các tỷ số thường được sử dụng để đánh giá, xem xét cấu trúc vốn gọi chung là hệ số cơ cấu tài chính bao gồm: Tỷ số nợ: tỷ số này cho thấy có bao nhiêu phần trăm tài sản của công ty được tài trợ bằng nợ.1) 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧 Tỷ số tự tài trợ: tỷ số này cho thấy nguồn vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản. Tỷ số này càng cao chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp càng tốt, nhưng cũng cho thấy doanh nghiệp chưa tận dụng đòn bẩy tài chính.2) 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧 Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu: tỷ số này cho thấy nợ dài hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trên nguồn vốn chủ sở hữu.3) 𝐕ố𝐧 𝐜𝐡ủ 𝐬ở 𝐡ữ𝐮 Quan hệ giữa cấu trúc vốn và chi phí sử dụng vốn Chi phí sử dụng vốn là số tiền mà doanh nghiệp phải trả cho việc huy động và sử dụng vốn để tài trợ cho những dự án đầu tư mới. Chi phí sử dụng vốn bao gồm chi phí phải trả cho việc sử dụng nợ vay và chi phí phải trả cho việc đầu tư bằng nguồn vốn chủ sở hữu dưới các hình thức bổ sung bằng lợi nhuận chưa phân phối hoặc bổ sung bằng các quỹ chuyên dụng của doanh nghiệp. Chi phí sử dụng vốn được xem là tỷ suất sinh lời mong đợi mà nhà đầu tư trên thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải trả cho mình khi nhà đầu tư tài trợ bằng một hình 123doc 8 thức nào đó cho doanh nghiệp để giữ được mức sinh lợi không đổi cho chủ sở hữu và chi phí sử dụng vốn còn được dùng để hiện giá dòng tiền trong tương lai về giá trị hiện tại.
Vì thế, các doanh nghiệp cần phải nỗ lực để thiết lập một cấu trúc vốn sao cho chi phí sử dụng vốn là thấp nhất tương ứng với mức độ rủi ro có thể chấp nhận được nhằm tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp. Mặt khác, thông thường trong thực tế hoạt động kinh doanh để đáp ứng nhu cầu vốn cho việc đầu tư, doanh nghiệp phải huy động sử dụng nhiều nguồn tài trợ khác nhau và mỗi nguồn tài trợ có chi phí sử dụng vốn không giống nhau. Trong thẩm định giá doanh nghiệp, để ước tính giá trị doanh nghiệp thẩm định viên thường sử dụng phương pháp chi phí vốn (COC) và tỷ suất chiết khấu được sử dụng trong phương pháp này là chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền (WACC), tức là lấy trung bình có trọng số của chi phí sử dụng vốn của tất cả các nguồn tài trợ khác nhau của doanh nghiệp. Do đó, việc xác định tỷ trọng các thành phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp sẽ dẫn đến sự thay đổi của chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền (WACC).4 Khái niệm về doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp và thẩm định giá doanh nghiệp (1) Doanh nghiệp Theo luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
(2) Giá trị doanh nghiệp Theo tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 2, giá trị doanh nghiệp là giá trị toàn bộ tài sản của một doanh nghiệp. Giá trị của mỗi tài sản cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp không thể tách rời nhau và cũng không thể thẩm định trên cơ sở giá trị thị trường. Giá trị doanh nghiệp phải được xem xét trên tổng thể tài sản, không phải là giá trị của từng tài sản riêng lẻ, bao gồm tài sản hữu hình và tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. 123doc 9 Một tài sản nếu để riêng biệt có thể không phát huy được giá trị sử dụng nhưng khi kết hợp với một tài sản khác lại có thể phát huy được giá trị sử dụng của chính tài sản đó.
Giá trị của từng tài sản riêng lẻ được xác định dựa trên phần đóng góp của từng loại tài sản vào toàn bộ hoạt động của toàn bộ doanh nghiệp nên không liên quan đến thị trường, không tính đến giá trị sử dụng tối ưu và tốt nhất của tài sản cũng như số tiền mà tài sản đó mang lại khi được mang ra bán.