Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Dữ liệu – phương pháp nghiên cứu Chương 4: Bằng chứng thực nghiệm Chương 5: Kết luận và kiến nghị 123doc 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Khung lý thuyết về sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ 2.1 Chính sách tiền tệ (Monetary policy) Theo luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010, Điều 3: “Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”. Chính sách tiền tệ (CSTT) là các quyết định của cơ quan tiền tệ - Ngân hàng trung ương (NHTW) thông qua các công cụ và cơ chế truyền dẫn để chi phối, điều tiết quá trình cung ứng và lưu thông tiền tệ nhằm hướng đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô như ổn định tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, toàn dụng lao động và ổn định tỷ giá hối đoái ….(Friedman, 1999, Blinder et al. CSTT có vai trò quan trọng trong điều hành kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, CSTT mở rộng, NHTW các nước sẽ theo đuổi chính sách giảm lãi suất với hy vọng mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, tạo thêm công ăn việc làm giải quyết tình trạng thất nghiệp trong điều kiện nền kinh tế bị suy thoái và giúp cải thiện kinh tế. Ngược lại, CSTT thắt chặt, NHTW các nước sẽ theo đuổi chính sách tăng lãi suất để làm giảm sự tăng lên của lạm phát mà xuất phát từ tăng trưởng nóng1 của nền kinh tế (Nguyễn Khắc Quốc Bảo và Nguyễn Hữu Duy Nhựt, 2013).
Mặc dù sẽ có sự khác nhau trong điều hành CSTT ở các nước nhưng nhìn chung việc xây dựng khuôn khổ CSTT ở các nước đều dựa trên cơ sở các mục tiêu, NHTW sẽ điều tiết thông qua các công cụ CSTT của mình nhằm hướng đến mục tiêu đó, bao gồm các bước chính: (1) lựa chọn hệ thống mục tiêu CSTT, (2) xác 1 Tăng trưởng nóng là sự tăng trưởng tương đối cao so với tình trạng kinh tế của nước đó, làsự tăng trưởng kinh tế do quy mô chứ không phải do năng suất, diễn ra trong thời gian ngắn, đột ngột, với tốc độ rất nhanh, vượt ra khỏi khả năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước, tiềm ẩn yếu tố khủng hoảng. 123doc 5 định cơ chế truyền tải của CSTT và (3) lựa chọn các công cụ của CSTT để điều hành. Mục tiêu của chính sách tiền tệ Các mục tiêu chính của CSTT bao gồm: - Mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền – kiểm soát lạm phát: đây là mục tiêu hàng đầu và dài hạn. Các NHTW thường lượng hoá mục tiêu này bằng tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng.
Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả. Thông qua CSTT, NHTW kiểm soát được lạm phát, giữ ổn định sức mua của đồng tiền. - Giải quyết việc làm: tạo công ăn việc làm đầy đủ là mục tiêu của tất cả các chính sách kinh tế vĩ mô trong đó có CSTT. Thông qua CSTT mở rộng hay thắt chặt, NHTW tác động vào khối tiền cung ứng cho nền kinh tế, từ đó tác động vào quyết định mở rộng hay thu hẹp đầu tư của người dân, qua đó tác động đến số việc làm được tạo ra trong xã hội.
- Tăng trưởng kinh tế: CSTT sẽ ảnh hưởng đến chi tiêu và đầu tư nên có thể sử dụng nó làm đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế. Một nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định là nền tảng cho mọi sự ổn định (ổn định tiền tệ trong nước, cải thiện tình trạng cán cân thanh toán quốc tế, khẳng định vị trí của nền kinh tế trên thị trường quốc tế…). Vì vậy, nhà nước và NHTW các quốc gia sẽ thông qua các công cụ của CSTT để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế mong muốn. - Ổn định tỷ giá hối đoái: Việc ngăn ngừa những biến động mạnh, bất thường trong tỷ giá hối đoái sẽ giúp cho các hoạt động kinh tế đối ngoại được hiệu quả hơn nhờ dự đoán được chính xác về mặt khối lượng giá trị.
Thêm vào đó, tỷ giá hối đoái còn ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước với nước ngoài về mặt giá cả. - Ổn định lãi suất: Lãi suất là một biến số kinh tế ảnh hưởng tới quyết định chi tiêu của các doanh nghiệp và hộ gia đình. Những biến động bất thường trong lãi suất 123doc 6 sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp và cá nhân trong việc dự tính chi tiêu hay lập kế hoạch kinh doanh. Do đó ổn định lãi suất cũng là một mục tiêu quan trọng mà các NHTW hướng tới nhằm góp phần ổn định môi trường kinh tế vĩ mô.
- Ổn định thị trường tài chính: Thị trường tài chính được xem là nơi góp phần quan trọng trong việc điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Với vai trò như vậy, sự ổn định của thị trường tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế các quốc gia. NHTW với khả năng tác động tới khối lượng tín dụng và lãi suất có nhiệm vụ đem lại sự ổn định cho thị trường tài chính. Phần lớn các quóc gia coi ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn.
Nhưng trong ngắn hạn các mục tiêu thường được lượng hóa cụ thể phù hợp với diễn biến kinh tế và tiền tệ, đôi khi họ phải tạm thời từ bỏ mục tiêu chủ yếu này để khắc phục tình trạng thất nghiệp cao đột ngột hoặc ảnh hưởng của các cú sốc cung đối với sản lượng. Điều đó cho thấy rằng trong quá trình thực hiện CSTT không thể tuyệt đối hoá một mục tiêu nào, không thể giải quyết các mục tiêu một cách độc lập trên tầm vĩ mô. Công cụ chính sách tiền tệ Để thực thi CSTT, NHTW phải sử dụng các công cụ để tác động trực tiếp đến cung tiền, từ đó tác động đến lãi suất thị trường và các yếu tố kinh tế khác nhằm đạt được các mục tiêu của CSTT. - Nghiệp vụ thị trường mở (OMO): “là nghiệp vụ mua, bán ngắn hạn các giấy tờ có giá do NHNN thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia”2.
Căn cứ vào mục tiêu điều hành CSTT trong từng thời kỳ và tình hình thừa hoặc thiếu vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD), NHTW quyết định việc mua hoặc bán các các chứng từ có giá (CTCG) trên thị trường tiền tệ giúp NHTW có thể chủ động điều tiết vốn khả dụng của các TCTD và kiểm soát lãi suất, nhằm thực hiện các mục tiêu của CSTT trong từng thời kỳ. 2 Quyết định số 340/1999/QĐ-NHNN14 ngày 30/9/1999 và được sửa đổi bổ sung năm 2003 123doc 7 - Dự trữ bắt buộc: là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì (dưới dạng dự trữ) theo một tỷ lệ nhất định do NHTW quy định trên lượng tiền gửi mà các ngân hàng huy động được. Dự trữ bắt buộc không đơn thuần là công cụ nhằm đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng mà quan trọng hơn đó chính là công cụ để NHTW tác động đến khối tiền của nền kinh tế thông qua số nhân tiền tệ. Vì tỷ lệ này có liên quan đến lượng tiền mà hệ thống ngân hàng có thể tạo ra từ mỗi đồng dự trữ.
Việc tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHTW có thể hạn chế hay mở rộng khối tiền tệ mà hệ thống ngân hàng có thể cung ứng cho nền kinh tế và tác động mạnh đến giá cả, tổng cầu và sản lượng quốc gia. - Công cụ lãi suất: mục tiêu CSTT thông qua công cụ lãi suất sẽ tác động rất lớn đến các quyết định đầu tư, tiêu dùng và tiết kiệm, từ đó sẽ tác động đến các biến vĩ mô của nền kinh tế. Khi đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát thông qua chính sách lãi suất, NHNN sẽ tăng các mức lãi suất (lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu…) nhằm hướng các NHTM thắt chặt tín dụng, kiểm soát các khoản cho vay không hiệu quả; hướng các doanh nghiệp, các chủ đầu tư cân nhắc, tính toán về hiệu quả kinh doanh và hạn chế những hoạt động kinh doanh kém hiệu quả để tập trung nguồn lực (bao gồm cả tiền vay) vào các dự án hay hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn. Kết quả là đưa các chỉ tiêu tiền tệ biến động theo định hướng tốc độ tăng trưởng đầu tư chậm dần, từ đó kiềm chế mức tăng tổng cầu và giá tiêu dùng.
- Tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái có tác động rất nhanh đến mức giá cả trong nền kinh tế (giá nhập khẩu, giá sản xuất, giá tiêu dùng) và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của khu vực ngoại thương, theo đó tác động đến sản lượng và tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, tỷ giá hối đoái được xem là một công cụ bổ trợ quan trọng trong điều hành CSTT của các quốc gia. Trước sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường và diễn biến nền kinh tế, NHTW sẽ can thiệp để điều tiết quan hệ cung – cầu tiền tệ thông qua việc lựa chọn chế độ tỷ giá, các công cụ can thiệp và điều tiết tỷ giá (như mua bán ngoại hối, điều chỉnh lãi suất/biên độ dao động tỷ giá, phá giá/nâng giá đồng nội tệ, sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối v.v…), từ đó có thể tác động 123doc 8 đến lãi suất thị trường và các biến vĩ mô của nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu chính sách đặt ra.