Chương 1 giới thiệu về vấn đề nghiên cứu được trình bày như trên. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đó về thanh khoản, các yếu tố đặc trưng của ngân hàng tác động đến thanh khoản, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Chương 3 giới thiệu về nguồn dữ liệu, mô tả dữ liệu. Chương 4 trình bày các kết quả ước lượng và kiểm định mô hình, phân tích kết quả hồi quy.
Chương 5 là kết luận và các khuyến nghị chính sách nhằm tác động vào các yếu tố đặc trưng có ảnh hưởng tới thanh khoản của hệ thống NHTM Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản Ở góc độ tài sản, thanh khoản là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản và ngược lại. Ở góc độ của một doanh nghiệp, thanh khoản là khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Với ngân hàng thương mại (một loại hình doanh nghiệp đặc thù), thì thanh khoản là khả năng tức thời để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong hoạt động kinh doanh như: nhu cầu rút tiền gửi, giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết, thanh toán và các giao dịch tài chính khác (Nguyễn Văn Tiến, 2015).
Theo Duttweiler (2010), “do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ”. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đủ lượng tiền mặt cho các nghĩa vụ tài chính tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng phải huy động vốn với giá cao hoặc bán tài sản với giá thấp. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không đủ quỹ tiền mặt, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc phải chuyển đổi với chi phí cao, thậm chí không thể chuyển đổi để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. Basel và các tác giả khác nhau, ở những thời điểm khác nhau đã có những định nghĩa và chú trọng tới những khía cạnh khác nhau của rủi ro thanh khoản.
Năm 2000, Ủy ban Basel đã định nghĩa thanh khoản như là khả năng tăng quỹ về tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ khi chúng đến hạn. Ủy ban giới thiệu 14 nguyên tắc chính về quản lý và giám sát thanh khoản, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết kế các giải pháp quản lý khác nhau để quản lý thanh khoản hàng ngày. Đồng thời, trong phân tích của mình, Basel chỉ rõ mối liên hệ giữa rủi ro thanh khoản và các rủi ro điển hình khác trong kinh doanh ngân hàng, như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động. Năm 2006, Basel hợp nhất các nguyên tắc đề ra năm 2000.
Theo cách phân loại của ECB (2002), Basel phân biệt rủi ro thanh khoản thành rủi ro thanh khoản tài trợ (funding liquidity risk) và rủi ro thanh khoản thị trường (market liquidity risk). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- Rủi ro thanh khoản tài trợ là rủi ro khi một ngân hàng không đủ vốn để đáp ứng các khoản nợ khi chúng đến hạn. Rủi ro thanh khoản tài trợ phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn thanh khoản: thứ nhất là từ người gửi tiền; thứ hai là thị trường (ngân hàng có thể bán các tài sản trên thị trường hoặc tạo thanh khoản thông qua chứng khoán hóa; NHTM cũng có thể có được nguồn thanh khoản thông qua thị trường liên ngân hàng hoặc vay mượn trực tiếp từ ngân hàng trung ương). Rủi ro thanh khoản thị trường là rủi ro khi một ngân hàng không thể bán được tài sản của họ trên thị trường với thời gian ngắn, chi phí thấp và ít tác động về giá.
Rủi ro thanh khoản thị trường phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường. Tháng 2 năm 2008, Basel xuất bản “Liquidity risk: Management and Supervisory Challenges”, trong đó định nghĩa thanh khoản là khả năng tăng quỹ tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ khi chúng đến hạn, và xem rủi ro thanh khoản là rủi ro mà nhu cầu thanh toán vượt quá khả năng tăng nợ phải trả mới hoặc thanh khoản hóa tài sản. Tháng 9 năm 2008, Basel tiếp tục xuất bản “Principles for sound liquidity risk management and supervision” (“Sound Principles”), trong đó định nghĩa thanh khoản là khả năng mà một ngân hàng tăng quỹ tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không xảy ra các thua lỗ không thể chấp nhận được. “Sound Principles” cung cấp những hướng dẫn chi tiết về quản lý rủi ro và giám sát rủi ro thanh khoản tài trợ.
Basel nhấn mạnh: những nguyên tắc này sẽ giúp hoạt động quản lý rủi ro trở nên tốt hơn, nhưng chỉ khi nó được thực hiện đầy đủ bởi các ngân hàng và các nhà giám sát. Để củng cố cho việc thực hiện các nguyên tắc trong “Sound Principles”, tháng 12 năm 2010, Basel xuất bản “Basel III: International framework for liquidity risk measurement, standards and monitoring”, trong đó phát triển hai tiêu chuẩn tối thiểu về thanh khoản tài trợ: chỉ số đảm bảo thanh khoản (LCR) và chỉ số tài trợ ổn định ròng (NSFR), với mục tiêu thúc đẩy khả năng phục hồi thanh khoản trong ngắn hạn và dài hạn cho hệ thống ngân hàng.2 Các phương pháp đo lường thanh khoản 2.1 Các nghiên cứu trước khủng hoảng tài chính 2007-2008 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- Trước khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007–2008, đã có nhiều nghiên cứu về thanh khoản ngân hàng và rủi ro thanh khoản. Nhiều tỷ lệ đo lường thanh khoản được đưa ra, tuy nhiên chưa nhận được sự thống nhất của các nhà nghiên cứu. Vodova (2011) chỉ ra có 2 phương pháp cơ bản để đo lường thanh khoản là phương pháp khe hở thanh khoản và các tỷ lệ thanh khoản.
Khe hở thanh khoản là sự khác nhau giữa các tài sản có và nợ phải trả ở cả hiện tại và tương lai. Khe hở thanh khoản dương phản ánh sự thiếu hụt thanh khoản. Vodova cũng đưa ra một loạt các tỷ lệ đo lường rủi ro thanh khoản là: Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản, tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tiền gửi và vay mượn ngắn hạn, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi và tài trợ ngắn hạn. Các tỷ lệ thanh khoản giúp nhận ra những xu hướng thanh khoản chính.
Các tỷ lệ này sau đó được nhiều tác giả khác sử dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm của họ. Federico (2012) trong nghiên cứu về phát triển chỉ số đo lường rủi ro thanh khoản, cũng nêu ra một số tỷ lệ đo lường rủi ro thanh khoản phổ biến là: Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản; tỷ lệ cho vay trên tài sản; tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn trên tổng vốn huy động; tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn bán buôn trên tổng nguồn vốn huy động; tỷ lệ tài sản thanh khoản trên vốn huy động ngắn hạn. Các tỷ lệ này là những tỷ lệ được tính toán từ số liệu trên bảng cân đối kế toán. Một số tỷ lệ tập trung vào khoản mục tài sản có trên bảng cân đối kế toán, một số tập trung vào khoản mục nợ phải trả, một số kết hợp cả hai.
Tuy nhiên, theo Federico, những tỷ lệ phản ánh đặc trưng thanh khoản của tài sản có trong mối tương quan với nợ phải trả có tính tổng hợp và phù hợp hơn.2 Quy định của Basel Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007–2008 cho thấy các ngân hàng thiếu những mô hình dự báo tốt để quản lý thanh khoản. Sau khủng hoảng, tháng 12 năm 2010, Ủy ban Basel đã phát hành những nguyên tắc và hướng dẫn mới về quản lý thanh khoản, một phần của Basel III. Ủy ban đã nêu bật tầm quan trọng của quản lý thanh khoản tốt và định nghĩa hai tỷ lệ mới để đo lường thanh khoản: tỷ lệ đảm bảo thanh khoản (đo lường rủi ro thanh khoản ngắn hạn) và tỷ lệ tài trợ ổn định ròng (đo lường rủi ro thanh khoản dài hạn). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- Mục tiêu của tỷ lệ đảm bảo thanh khoản (Liquidity Coverage Ratio - LCR) là thúc đẩy khả năng phục hồi thanh khoản ngắn hạn của một ngân hàng bằng cách đảm bảo rằng ngân hàng nắm giữ đủ các tài sản có thanh khoản chất lượng cao có khả năng chuyển đổi thành tiền nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong khoảng thời gian 30 ngày dưới tình trạng căng thẳng thanh khoản nghiêm trọng.
à ó ư LCR = à Tỷ lệ này phải lớn hơn hoặc bằng 100%. Tài sản có thanh khoản chất lượng cao là những tài sản thỏa mãn được các đặc điểm: Rủi ro tín dụng và thị trường thấp, dễ định giá, hệ số tương quan với các tài sản rủi ro là thấp, được niêm yết trên thị trường giao dịch phát triển và đã được công nhận rộng rãi. Ngoài ra, tài sản có thanh khoản chất lượng cao còn phải thỏa mãn những đặc điểm liên quan đến thị trường là: Thị trường có quy mô và năng động, có mặt các nhà tạo lập thị trường có quyết tâm, mức độ tập trung thị trường thấp, hướng đến chất lượng. Tổng luồng tiền ra ròng được tính bằng cách lấy tổng luồng tiền ra dự kiến trừ đi (-) tổng luồng tiền vào dự kiến (dưới 75% tổng luồng tiền ra dự kiến).
Tỷ lệ tài trợ ổn định ròng (the Net Stable Funding Ratio - NSFR) hướng tới mục tiêu thúc đẩy khả năng phục hồi thanh khoản trong một thời gian dài hơn (1 năm) bằng cách tạo ra nguồn tài chính dài hạn hơn và ổn định hơn để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng. ố ề ẵ à à ợ ổ đị NSFR = ố ề ầ ó à ợ ổ đị Tỷ lệ này đảm bảo rằng các tài sản có dài hạn sẽ được tài trợ ít nhất là với một số tài sản nợ ổn định về kỳ hạn trong mối liên hệ với danh mục rủi ro thanh khoản. Tỷ lệ này cũng phải lớn hơn 100%.3 Các quy định của Việt Nam Tại Việt Nam, việc đo lường thanh khoản được thực hiện dưới dạng quy định các tỷ lệ về khả năng chi trả. Những văn bản đầu tiên liên quan đến việc quản lý thanh khoản của NHNN quy định khá đơn giản.
Quyết định 107/QĐ-NH ngày 09/6/1992 yêu cầu các TCTD phải bảo đảm khả năng chi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- trả bằng cách duy trì thường xuyên giá trị tài sản động tương đương với các khoản phải chi trả trong 3 ngày làm việc tiếp theo.