LỜI MỞ ĐẦU Sự đa dạng và vô cùng tận của muôn vạn dạng vật chất trong thực tại khách quan cùng sự vận động vô thường, ngẫu nhiên, bất ngờ vượt qua hoặc nằm ngoài ý muốn con người của chúng đã đặt ra vô số thách thức cho quá trình khai phá, tác động đến thế giới để thu nạp tri thức về cuộc sống của con người. Thêm vào đó, trình độ, khả năng của con người tuân theo quy luật khách quan về nguyên lý của sự phát triển, đi dần từ thấp đến cao, từ cơ bản đến phức tạp và liên tục chuyển mình thay đổi theo xu hướng đi lên, nên trong bất kỳ thời đại nào, dẫu có được đánh giá là hiện đại bậc nhất, vẫn tồn tại những hạn chế về nhận thức và hành vi, thể hiện trình độ và khả năng cải tạo, tác động thế giới còn chưa hoàn thiện. Khi nhu cầu, khao khát cải biến tự nhiên, “làm chủ thế giới" vẫn tồn tại dai dẳng trong con người, nhưng lại đối mặt với trình độ hạn chế cùng sự vô cùng của thế giới đã nảy sinh trong con người cảm giác yếu đuối, bất lực trước các hiện tượng tự nhiên khi chưa thể tác động theo ý muốn, từ đó gắn cho tự nhiên những sức mạnh siêu nhiên, bí ẩn. Không những vậy, khi sự áp bức và phân chia giai cấp ngày càng mạnh mẽ, các mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp và gay gắt, một bộ phận nhân dân sẽ rơi vào trạng thái bí bách, cùng quẫn, tuyệt vọng, từ đó khao khát đi tìm sự chở che từ đấng siêu nhiên, thần linh.
Bất lực với thế giới, với những rủi ro nằm ngoài ý muốn và dự định, với sự phong phú vô cùng của các dạng vật chất, với những áp bức khắc nghiệt bên ngoài, với trình độ còn nhiều hạn chế của bản thân… đã đưa đến một nhu cầu tìm điểm tựa tinh thần, và một trong số đó là tôn giáo. Vậy, “tôn giáo" phát huy vai trò chữa lành tinh thần cùng những tác động khác, đặc biệt là với Việt Nam, như thế nào? Qua những kiến thức đã tìm hiểu, nghiên cứu và sàng lọc, đề tài “Những tác động của các tôn giáo lớn đến sự phát triển đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam" sẽ làm rõ vấn đề này. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TÔN GIÁO 1. Khái niệm, đặc điểm chung của tôn giáo 1.Khái niệm Tôn giáo Cảm giác choáng ngợp trước sự bao la, vô biên của thế giới không chỉ tồn tại ở con người ngày nay, mà từ xưa kia, khi cơ sở vật chất - kỹ thuật chưa tồn tại, khi con người chỉ mới là những cá thể ban sơ, nguyên thủy, lại càng hãi sợ trước sự vô cùng tận của đất trời.
Chính vì vậy mà “tôn giáo” - bắt nguồn từ thuật ngữ religio, trong tiếng La tinh có nghĩa là “quyền năng” hoặc “quyền năng tối thượng", tức đối tượng thiêng mà con người có niềm tin và lòng mộ đạo hướng tới - đã xuất hiện. Định nghĩa ấy về sau này lại dung chứa thêm nội hàm nhà thờ (với một cộng đồng giáo hội, là những con chiên theo đức Chúa, trong đó quan hệ thành viên cộng đồng này chi phối tất cả đời sống của họ và các quan niệm về tôn giáo mới bao gồm hệ thống giáo lý). Như vậy thì nó được hiểu như là một dạng thiết chế xã hội tách biệt. Từ đó thấy được, quá trình biến đổi của thuật ngữ “religio” cùng với nhận thức về nó qua các giai đoạn khác nhau mà làm thành nội hàm của tôn giáo gồm: Thực thể thiêng; đức tin, nhà thờ, cộng đồng đức tin và giáo lý.
Khái niệm này cũng làm cho rất nhiều nhà khoa học truy nguyên về yếu tố cơ bản nhất của mọi hình thức tôn giáo, đó chính là niềm tin vào đấng tối linh hay rõ hơn là niềm tin tôn giáo (religious belief, croyance religieuse) và coi như là một yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của một tôn giáo.1 Tuy dòng mạch của sự thay đổi và bổ sung cho nội hàm khái niệm “religio” là vậy, nhưng ở mỗi học thuyết riêng, các triết gia và những nhà nghiên cứu lại có những quan niệm riêng khác hoặc cụ thể hơn cho khái niệm này. Tiêu biểu như những người theo thuyết hồn linh luận, cho rằng tôn giáo “là niềm tin vào sự tồn tại của đấng siêu nhiên”, “các ý niệm tôn giáo đều có ở các xã hội con người” (Edward Burnett Tylor) và “vật linh là yếu tố cơ bản của tất cả mọi tôn giáo” (X. Điều đó có nghĩa bản chất cơ bản của tôn giáo là tính linh thiêng/ huyền bí và niềm tin vào sự linh thiêng huyền bí ấy của tôn giáo, và học thuyết cũng khẳng định mạnh mẽ sự tồn tại tất yếu của “tôn giáo" và “ý niệm tôn giáo" trong xã hội loài người. Hay như thuyết ma thuật và thuyết tiến hóa luận với đại diện tiêu biểu là James George Frazer (1854 – 1941).
Ông cho rằng từ thuở sơ khai, con người có niềm tin “khuất phục bắt buộc tự nhiên phải phục tùng những mong muốn của mình bằng sức mạnh đơn giản của những bùa chú, phù phép”. Niềm tin đó gọi là niềm tin ma thuật. Chỉ rất lâu sau, con người dần ngạc nhiên về nỗi bất lực của chính mình và về quyền lực vạn năng của những sinh thể vô hình, thế là xuất hiện niềm tin tôn giáo. Niềm tin tôn giáo theo giải thích của Frazer trước hết là “một sự thừa nhận đơn giản và 1 https://khaitue.vn/vi/news/bai-viet-chuyen-mon/ban-ve-khai-niem-ton-giao-tin-nguong-37.html 2 riêng lẻ về sự tồn tại của những quyền lực siêu nhân, về sau đã lôi kéo con người, nhờ ở bước tiến bộ về kiến thức của mình, cúi người xuống để thú nhận sự phụ thuộc hoàn toàn vào sinh thể thần thánh”.
Quan điểm của học thuyết này cũng chứng minh những yếu tố tâm linh trong khái niệm “tôn giáo", nhưng ý kiến này còn nhiều yếu tố khá duy tâm, lý giải dựa trên thực tiễn mà chưa có cơ sở lý luận khoa học. Trong thuyết thiêng và tục, Emile Durkheim đã đưa ra lý thuyết về cái thiêng liêng, cái thế tục để làm cơ sở nhận diện cho mọi tín ngưỡng tôn giáo. Theo đó, “tất cả các tín ngưỡng tôn giáo đã được biết tới, dù đơn giản hay phức tạp, đều có một tính chất chung: chúng giả định một sự phân loại về các sự vật, hiện thực hay tâm tưởng mà con người hình dung được thành hai loại đối lập nhau, nói chung được gọi bằng những từ ngữ khác nhau, thể hiện khá chính xác ở hai từ cái thế tục và cái thiêng liêng”. Durkheim vạch rõ cái thiêng không chỉ hạn chế ở những thực thể nhân cách hóa mà người ta gọi là thần thánh, mà bất cứ vật gì, như một tảng đá, một cái cây, một ngọn suối… đều có thể là cái thiêng liêng cả.
Thuyết thiêng và tục đã đưa tôn giáo gần hơn với con người, do tâm tưởng con người hình dung và xác định. Tương tự với thuyết kinh nghiệm thần bí, Lévy Bruhl cũng cho rằng: “chính kinh nghiệm thần bí sẽ dẫn đến “loại cảm xúc về cái siêu tự nhiên”. Trong đó “thần bí” được hiểu là lòng tin vào những sức mạnh, những tác động không cảm nhận được bằng các giác quan, kinh nghiệm thần bí là những trải nghiệm về chúng. Có học thuyết cho rằng tôn giáo là niềm tin vào những thực thể tâm linh, siêu nhiên, có học thuyết lại gắn tôn giáo với cái thiêng liêng, thần bí.
Điểm chung của các học thuyết này đều gắn tôn giáo với những điều ngoài tầm kiểm soát của con người, là những thực thể mà thậm chí con người chưa thể chạm vào hay tận mắt chứng kiến…. Vậy nên, tôn giáo khi ấy chưa có những giáo lý khoa học, những triết lý bài bản để định hướng cho giáo dân mà chỉ là những niềm tin mơ hồ, mông lung và tuyệt đối. Bên cạnh đó, có những học thuyết nghiên cứu dựa trên cơ sở tìm hiểu chức năng của tôn giáo. Tiêu biểu cho khuynh hướng này có thuyết chức năng của Bronislaw Malinowski: coi tôn giáo, tín ngưỡng là một hiện tượng siêu nhiên, là “ước mơ của ý thức tập thể” để mang lại “một lối lý giải không căn cứ”, có thể làm giảm nỗi lo sợ của con người khi đối mặt với những bất trắc trong cuộc sống và mang lại cho con người niềm tin, lòng can đảm, hy vọng vào chiến thắng đối với sự sợ hãi.
Hay thuyết cấu trúc của Claude Lévi-Strauss quan niệm “tư duy con người với những cấu trúc chung, theo kiểu một trật tự cú pháp, muốn nắm bắt được ý nghĩa toàn bộ thì phải xác định rõ chức năng của từng đơn vị cấu thành. Nghiên cứu về tín ngưỡng tôn giáo cũng vậy, phải đặt nó trong một tổng thể cấu trúc, với những mối tương quan qua lại”, thấy được chức năng của tôn giáo phụ thuộc và gắn liền với những yếu tố khác… Không chỉ dừng lại ở đó, các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”, một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh 3 chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo”, Friedrich Engels lại đưa ra một khái niệm: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày…” Có vô số cách định nghĩa về “tôn giáo", và ở mỗi trường phái, mỗi học thuyết lại mang những đặc trưng riêng từ nội dung và tinh thần chính của học thuyết đó. Đánh giá chung, các quan niệm của các học thuyết trên đều mang khuynh hướng duy tâm, cho rằng tôn giáo phụ thuộc vào đấng siêu nhiên mà chưa xuất phát từ thực tế cuộc sống cũng như những luận điểm khoa học. Đến khi chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác - Lênin xuất hiện, những khái niệm này được định nghĩa một cách bài bản, khoa học và khách quan hơn.
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin: “Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hư ảo hiện thực khách quan và thông qua sự phản ánh đó, các lực lượng tự nhiên và xã hội trở thành siêu nhiên”. Khái niệm này đã làm rõ nguồn gốc và bản chất cũng như đặc điểm chung của tôn giáo, thấy được sự phát triển trong tư duy, nhận thức mang tính cách mạng của các triết gia, và khiến “tôn giáo" được định nghĩa một cách khoa học hơn, thực tiễn hơn.