Chương 1: Phần giới thiệu tong quan: cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, vẫn đề và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết quả thực nghiệm đạt được. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan lý luận: trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, các lý thuyết nền có liên quan, mô hình nghiên cứu. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: nguén thu thập dữ liệu, loại dữ liệu, cách do các biến, kiểm chứng mô hình. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bình luận: kết quả phát triển, phân tích và kiểm định mô hình, nêu ý nghĩa biến số và kết quả.
Chương 5: Kết luận: rút kết vẫn đề đặt ra và có nhận xét chung về đề tài, nhìn nhận các mặt hạn chê của đê tài va đê xuât hướng nghiên cứu trong tương lai. CƠ SỞ LÝ THUYET VÀ TONG QUAN LÝ LUẬN 2. Moi quan hệ giữa bat ôn kinh tê vĩ mo và đầu tư 2. Đầu tư của doanh nghiệp Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhăm thu lợi về lợi nhuận và lợi ích kinh tê xã hội.
Tuy theo các căn cứ phan loại mà có các kiêu dau tư như sau: Y Căn cứ vào thời gian bỏ vốn đầu tư và thực hiện, có hai loại đầu tư: đầu tư ngắn hạn (dưới một nam), đầu tư đài hạn. Y Căn cứ vào mục tiêu đầu tư có hai loại: đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp (góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu, trái phiếu), đầu tư vào bên trong doanh nghiệp: đầu tư theo chiều sâu (nghiên cứu và phát triển sản phẩm, tạo điều kiện phát triển lâu dài cho doanh nghiệp), đầu tư mở rộng (đầu tư mở rộng thêm xưởng mới hay đơn vị trực thuộc .), đầu tư thay thế hoặc duy trì (đầu tư đối mới tài sản cho phù hop với tiễn độ khoa học kỹ thuật nhằm thỏa mãn yêu cầu của thị trường, giữ vững thị trường, tiết kiệm chi phi.) Y Căn cứ vào chu thé đầu tư: đầu tư trực tiếp va dau tu gián tiếp. Nhân t6 quyết định đầu tư: chính sách kinh tế Nhà nước, thị trường và sự cạnh tranh, chính sách huy động vốn, độ vững chắc tin cậy của sự đầu tư, sự tiễn bộ của khoa học công nghệ, khả năng tài chính của doanh nghiệp, tính cách của chủ đầu tư. Hoạt động đầu tư luôn diễn ra hai giai đoạn cơ bản: giai đoạn bỏ vốn ra đầu tư và giai đoạn thu héi vốn và có lãi.
Bất ôn kinh tế vĩ mô Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế ở góc độ tổng thé thông qua các chỉ tiêu tổng quát như sản lượng quốc gia, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp. Mục tiêu điều tiết vĩ mô là: hiệu qua, công bằng, ôn định và tăng trưởng. Chính phủ điều tiết bang các chính sách kinh tế: v Chính sách tài khóa: chính sách thuế va chi ngân sách của chính phủ. v Chính sách tiền tệ: Ngân hang Trung ương thay đổi lượng cung tiền tệ nhằm làm thay đôi lãi suất tiền tệ.
Y Chính sách ngoại thương: tác động đến cán cân thương mại và cán cân thanh toán thông qua chính sách can thiệp và tỷ giá hối đoái và thuế xuất nhập khẩu. Hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất cho van dé bất ôn kinh tế vi mô tại một nền kinh tế. Theo Azam (2001), bất 6n kinh tế vĩ mô là những biến động theo chiều hướng xấu đi đối với tình hình kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế. Theo Sameti và các tác giả (2012) cho rang bất ôn kinh tế vĩ mô được đánh giá bởi các biễn động của một tập hợp các biến số kinh tế vĩ mô bao gồm tăng trưởng, lạm phát, thâm hụt ngân sách, thâm hụt can cân vang lai va dự trữ ngoại hồi.
Bất 6n kinh tế chính là trạng thái của nên kinh tế ma trong đó các chính sách tài khóa, tiền tệ của Chính phủ không đem lại tác dung, dẫn đến các chỉ số của nền kinh tế như lạm phát, thất nghiệp tăng cao, chính điều này làm cho sản xuất trì trệ, đình đốn, sức mua của thị trường trong nước giảm, đời sống của người dân gặp khó khăn. Bất ôn kinh tế có thể mở ra cơ hội cho nền kinh tế trên một số khía cạnh: là liều thuốc thử quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh tế, các doanh nghiệp quản lý khoa học sẽ phát triển vững mạnh; là cơ hội để Chính phủ các nước nhận ra những hạn chế trong nền kinh tế để có các chính sách, công cụ điều chỉnh hợp ly; là cơ hội dé cải thiện đời sống người dân đặc biệt là người dân nghèo chịu nhiều ảnh hưởng đến bất 6n kinh tế vĩ mô. Như vậy, bất 6n kinh tế vĩ mô gan liền với sự chuyển biến xấu đi của các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế, được biểu hiện và theo dõi theo thời gian thông qua sự kết hợp các biến số, lạm phát, thâm hụt ngân sách, biến động tỷ giá, dự trữ ngoại hdi. Bât ôn kinh tê vĩ mô phát sinh do hai nhóm nguyên nhân: các cú sôc từ bên ngoài 10 va sự không phù hợp của các chính sách kinh tế.
Ngoài ra, bất ôn kinh tế vĩ mô cũng có thể phản ánh chính sách chưa phù hợp khi tương tác với các cú sốc bên ngoải. Nhóm nguyên nhân bên ngoài như: tình hình ngoại thương, luéng vốn từ nước ngoài tran vào nền kinh tế, khủng hoảng kinh tế thế giới. Nhóm nguyên nhân bên trong chủ yếu từ các chính sách gồm có chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và sự phối hợp chính sách tài khóa — chính sách tiền tệ. Bất 6n kinh té có thé biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và mức độ khác nhau: lạm phát tăng cao, tý lệ thất nghiệp cao, lãi suất cho vay và lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh, thị trường ngoại hối thiếu cạnh tranh, thi trường bất động sản đóng băng, thâm hụt ngân sách, sản suất trì trệ đình đốn, sức mua trong nước giam mạnh.
Từ đó cho thay bất ôn kinh tế vĩ mô có nhiều biểu hiện khác nhau nên bài nghiên cứu dùng bốn proxy về mức độ dao động của bất ôn kinh tế vĩ mô: tổng sản phẩm quốc nội theo giá thực tế (GDP real), chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI — industrial produc- tion index), chỉ số lam phát giá tiêu dùng (CPI — consumer price inflation), lãi suất bình quân thị trường của chỉ số chứng khoán Việt Nam (VNindex return), theo nghiên cứu của Baum và các tác giả (2005). GDP GDP (gross domestic product — tong sản phẩm quốc nội): là giá trị bang tiền của toàn bộ các sản phẩm cuối cùng được sản xuất ra trên lãnh tho của một nước, tính trong khoảng thời gian nhất định thường là một năm. GDP được tính theo ba phương pháp: Y Theo phương pháp thu nhập: bằng tong thu nhập được tạo ra trong nên kinh từ ba chủ thể là doanh nghiệp, hộ gia đình và chính phủ, và tương tác nhau qua thị trường hàng hóa và thị trường các yếu tố sản xuất. Y Theo phương pháp chỉ tiêu: là tong chỉ tiêu của tat cả các khu vực của toàn bộ nền kinh tế.
Chi tiêu từ chỉ tiêu cuối cùng của hộ gia đình, chi đầu tư của doanh nghiệp, chỉ tiêu chính phủ, xuất khẩu (chi của khu vực nước ngoài cho hàng hóa trong nước), nhập khẩu (chi cho khu vực trong nước cho hàng hóa nước ngoài). 11 Y Theo phương pháp giá tri gia tăng: tinh những cái doanh nghiệp sản xuất ra, phương pháp này còn được gọi là phương pháp sản xuất. GDP thực hay còn được gọi là GDP theo giá so sánh, là GDP được tính theo gia của một năm nao đó được gọi là năm gốc, GDP thực giúp loại trừ yếu tô lạm phát. Theo phương pháp tính GDP theo chi tiêu cho thay đầu tu của doanh nghiệp góp phân làm gia tăng GDP trong chủ thể đóng góp là doanh nghiệp.
Khi các giá trị tạo ra hay chỉ tiêu trong các chủ thé gia tăng sẽ thúc day sự gia tăng GDP va tăng trưởng kinh tế. Bất 6n kinh tế vĩ mô diễn ra làm doanh nghiệp và các chủ thé trong nền kinh tế hạn chế chỉ tiêu, giá trị GDP giảm mạnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IPD Chỉ số sản xuất công nghiệp (industrial production index — IPI) là chỉ tiêu quan trọng trong danh mục nhóm chỉ tiêu quốc gia. Là chỉ tiêu đánh giá tốc độ phát triển sản xuất công nghiệp hàng tháng, quý, năm.
Chỉ số ngày thường được tính dựa trên khối lượng sản phẩm sản xuất, nên còn được gọi là “chỉ số khối lượng sản phẩm công nghiệp”, là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh khái quát tình hình phát triển toàn ngành công nghiệp nói chung và tốc độ phát triển của từng sản phẩm, nhóm ngành sản phẩm nói riêng, đáp ứng nhu câu thông tin của cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư và các đối tượng dùng tin khác. IPI là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng sản xuất công nghiệp tạo ra trong kỳ hiện tại với khối lượng sản xuất công nghiệp kỳ gốc. Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế là toàn bộ giá trị sản phẩm do hoạt động sản xuất công nghiệp tạo ra tính theo giá tại thời kỳ tính giá trị sản xuất. Giá trị sản xuất công nghiệp là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ của các nhóm ngành công nghiệp thực hiện trong một thời kỳ nhất định.
Giá trị sản xuất công nghiệp bao gồm: giá trị nguyên liệu, năng lượng, phụ tùng thay thế; chi phí dịch vụ sản xuất và khấu hao tai sản cô định, chi phí tiền lương, tiền công lao động: thuế sản xuất va giá trị thang dư tạo ra trong cau thành giá tri sản phầm. Chi sô thực hiện dựa trên nguồn sô liệu điêu tra chon mâu các cơ sở 12 sản xuất đại diện cho sản xuất công nghiệp hang tháng do Tổng Cục Thống kê thực hiện. Chỉ số phản ánh tình hình phát triển của toàn ngành công nghiệp nói chung và các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp nói riêng. Khi doanh nghiệp gia tăng đầu tư, tạo ra nhiều sản phẩm sẽ góp phan thúc day chỉ số đánh giá cho ngành phát triển.
Khi bat ôn kinh tế diễn ra, các chủ thể trong nên kinh tế hạn chế chỉ tiêu làm hàng hóa tiêu thụ kém, doanh nghiệp hạn chế sản xuất làm chỉ tiêu IPI sụt giảm, doanh nghiệp hạn chế và trì hoãn đầu tư của doanh nghiệp.